Những lời cay độc của đám đàn bà buôn chuyến như những mũi kim tẩm thuốc độc, xuyên thủng màn sương chiều bảng lảng nơi bến Vạn Cát, găm thẳng vào lồng ngực Đặng Văn Hùng.
Bàn tay thô ráp của anh, vốn đang nâng niu nửa chiếc bánh đa vừng giòn xốp, bỗng siết chặt lại. Từng đường gân mu bàn tay nổi cộm lên, xanh xao dưới làn da cháy nắng phong trần. Anh muốn quay phắt lại, muốn dùng thân hình vạm vỡ và khí thế của một người lính từng đi qua làn mưa bom bão đạn ở biên giới Tây Nam để chắn ngang trước mặt Thu, quét sạch những ánh nhìn soi mói tởm lợm kia. Nhưng khi anh khẽ nghiêng đầu nhìn sang, anh chỉ thấy đôi vai gầy của Thu run lên nhè nhẹ. Cô cúi gằm mặt xuống bếp than hồng, đôi bàn tay thoăn thoắt gắp than bỗng khựng lại giữa chừng, tàn lửa đỏ rơi xuống vạt áo nâu bạc màu mà cô dường như chẳng hề hay biết.
Hùng không nói một lời. Sự im lặng của anh lúc ấy nặng tựa ngàn cân. Anh lặng lẽ nhai hết miếng bánh đa, nuốt trọn cả vị ngọt bùi lẫn nỗi đắng chát đang dâng nghẹn nơi cuống họng, rồi chống gậy đứng dậy, khẽ dặn Thu thu dọn quán sớm để về trước khi trời tối hẳn.
Nhưng anh không ngờ rằng, miệng lưỡi thế gian ở chốn làng quê thời bao cấp ngột ngạt này còn độc địa và lan nhanh hơn cả dịch tễ mùa hè.
Chỉ qua một đêm, tin đồn đã như một bọc gai mọc rễ khắp các ngõ ngách của làng Yên Sa.
Sáng hôm sau, khi Hùng chống chiếc gậy tre tập tễnh bước qua giếng nước công cộng đầu xóm Mộc để ra sân kho hợp tác xã xem lịch chia công điểm, những tiếng cười cợt the thé bỗng chốc im bặt. Mấy người đàn bà đang giặt giũ bên thành giếng đá rêu phong vội vã liếc xéo nhau, kẻ bĩu môi, người nhổ toẹt bãi bọt trầu đỏ quạch xuống rãnh nước.
“Đấy, các bà xem! Con bé mồ côi họ Nguyễn nom hiền lành thế mà ghê gớm thật. Nhà anh Quỳ ba đời thợ mộc nề nếp, trâm anh thế phiệt chốn làng quê, thế mà nó dám bỏ bùa mê thuốc lú, mượn bóng anh thương binh làm bình phong để tuồn mật, giấu gạo ra bến đò buôn bán tư thương!”
“Khiếp chưa, người ta bảo con gái mất cha mất mẹ như cây không rễ, chỉ biết đong đưa mồi chài đàn ông để kiếm chác. Anh Hùng thì hiền lành chất phác, lại mang tật ở chân, làm sao thoát khỏi cái bẫy của con ranh ranh mãnh ấy! Phen này nhà họ Đặng có mà rũ sạch mặt mũi với bàn dân thiên hạ!”
Từng câu, từng chữ cứ thế bay qua không khí ẩm ướt của buổi sớm mùa đông, xộc thẳng vào tai Hùng. Bàn tay anh nắm chặt chiếc gậy tre đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra, phát ra những tiếng kêu rắc rắc khô khốc. Lồng ngực anh phập phồng sau lớp áo trấn thủ sờn rách. Anh muốn bước tới, muốn quát thẳng vào những khuôn mặt đang xúm xít kia rằng Thu chưa bao giờ buôn lậu, rằng từng đồng tiền lẻ cô kiếm được đều đẫm mồ hôi, nước mắt và cả những vết bỏng rát trên da thịt. Nhưng đôi chân tập tễnh cùng vết sẹo lõm sâu nơi khớp gối như một sợi xích vô hình ghìm anh lại. Ở cái làng này, một người đàn ông đôi co với đàn bà nơi giếng nước chỉ làm cho câu chuyện thêm phần nhơ nhuốc, và người chịu thiệt thòi, tủi nhục sau cùng sẽ chỉ có một mình Thu.
Hùng nuốt cơn tức giận vào trong, lầm lũi quay gót trở về xưởng mộc của gia đình.
Gian xưởng mộc cổ truyền của nhà họ Đặng nằm nép mình dưới rặng xoan đào cổ thụ, nơi ba thế hệ đã gắn bó với tiếng đục, tiếng bào và mùi mùn cưa ngai ngái. Trong xưởng, ông Đặng Văn Quỳ đang lom khom bên chiếc bàn thợ dài ngoẵng bằng gỗ lim. Bàn tay gân guốc của người thợ già thoăn thoắt đẩy chiếc bào gỗ, từng dải dăm xoan mỏng như tờ giấy lượn sóng bay ra, cuộn tròn dưới chân. Mồ hôi rịn ra trên vầng trán nhăn nheo của ông, dù gió bấc ngoài trời vẫn đang rít từng hồi lạnh ngắt.
Hùng bước vào, lặng lẽ nhặt chiếc cưa tay và thanh gỗ vụn lên, toan ngồi xuống chiếc ghế con góc xưởng để ghè lại chiếc mộng cửa. Nhưng chưa kịp đặt lưỡi cưa xuống mặt gỗ, ngoài cổng ngõ lát gạch nghiêng đã vang lên tiếng bước chân giậm gót lộp cộp, cùng một giọng cười ráo hoảnh, nhạt thếch:
“Bác Quỳ có nhà không đấy nhỉ? Khéo tay quá, dăm bào mỏng thế này thì tay nghề của bác đúng là đệ nhất tổng Yên Sa xưa nay rồi!”
Hùng ngẩng phắt đầu lên. Người vừa bước qua cánh cổng tre không ai khác chính là Lê Tiến Bền.
Viên đội phó trạm kiểm soát liên ngành hôm nay vẫn khoác chiếc áo dạ cũ cài kín cúc tới tận cổ, chiếc mũ nồi len đội lệch một bên để lộ vầng trán hẹp và đôi mắt ti hí đảo như lạc rang. Dưới nách hắn kẹp chặt cuốn sổ bìa xanh bọc ni-lông — thứ vũ khí từng khiến bao người buôn thúng bán mẹt trên triền đê sông Hồng phải tái mét mặt mày. Theo sau Bền là một tay dân phòng trẻ tuổi, mặt mũi hầm hố, tay lăm lăm chiếc gậy tầm vông vát nhọn.
Ông Quỳ vội vàng dừng tay bào, lấy vạt áo lau mồ hôi trên trán rồi bước ra mép xưởng, nét mặt thoáng chút bối rối pha lẫn âu lo của một người thợ già cả đời chỉ biết cúi đầu tuân thủ luật lệ:
“Kìa, đồng chí Bền... Mời đồng chí vào nhà uống chén nước. Có việc gì mà đồng chí lại cất công ghé tệ xá vào giờ này thế?”
Bền không vội bước vào hiên, hắn đứng sững giữa sân, đưa mắt quét một vòng quanh xưởng mộc. Ánh mắt lươn của hắn lướt qua những súc gỗ xoan ngâm dựng ở góc tường, dừng lại thật lâu nơi những thanh gỗ xẻ đang phơi dở, rồi cuối cùng găm thẳng vào người Hùng đang đứng im lìm như một pho tượng đá bên cạnh bàn thợ. Hắn nhếch mép cười, để lộ hàm răng ám khói thuốc lào vàng khè:
“Nước nôi thì để sau bác ạ. Hôm nay tôi ghé qua đây là vì chút việc công của xã, nhưng nghĩ tình chòm xóm láng giềng, tôi lại phải đến tận nơi để nhắc nhở bác đôi điều, kẻo đến lúc sự thể vỡ lở ra thì lại bảo ban kiểm soát chúng tôi không có tình có nghĩa.”
Ông Quỳ giật mình, đôi lông mày hoa râm nhíu chặt lại:
“Đồng chí Bền nói thế là ý làm sao? Nhà tôi xưa nay làm mộc cho hợp tác xã, gỗ lạt đều có hóa đơn điều chuyển của ban quản trị, từng cái then cài, cánh phản đều vào sổ sách công điểm rõ ràng, có bao giờ dám tơ hào một tấc gỗ lậu nào đâu?”
Bền tặc lưỡi hai tiếng, bước thong thả vào trong bóng râm của xưởng mộc. Hắn đưa một ngón tay vuốt nhẹ lên mép chiếc bàn thợ láng bóng mùn cưa, giọng điệu chuyển sang vẻ kẻ cả, trịch thượng:
“Bác Quỳ ơi là bác Quỳ! Bác thì nề nếp, ai trong xã này chẳng biết. Nhưng mà ‘con dại thì cái mang’, người xưa dạy cấm có sai bao giờ. Bác ngồi trong nhà cặm cụi đục đẽo, có biết thằng con trai bác — cái anh thương binh phục viên oai phong lẫm liệt đây này — mấy hôm nay đang làm cái gì ngoài bến đò Vạn Cát không?”
Hùng siết chặt thanh gỗ trong tay, khớp xương ngón tay kêu răng rắc. Anh bước lên một bước, định cất lời thì ông Quỳ đã vội giơ bàn tay chai sạn ra chặn ngang ngực con trai. Đôi mắt người thợ già ánh lên nỗi hoang mang tột độ:
“Cháu Hùng nó... nó chỉ ra bến hóng gió, phụ giúp bà con qua đò chút đỉnh chân tay thôi mà đồng chí...”
“Hóng gió? Phụ giúp?” Bền cười khẩy một tiếng đầy mỉa mai, cuốn sổ bìa xanh kẹp dưới nách được hắn rút ra, đập bẹp bẹp vào lòng bàn tay: “Bác đừng có che đậy cho nó nữa! Cả cái làng Yên Sa này, từ đứa trẻ con chăn trâu đến các cụ già ở đình làng, ai mà chẳng biết anh Hùng nhà bác đang mê mệt con bé Thu mồ côi ngoài bến đò! Con ranh ấy gốc gác không rõ ràng, bố mẹ chết để lại một đống nợ nần cho hợp tác xã, giờ lại dám ngang nhiên dựng chòi, nhóm lửa nấu mật mía, tráng bánh đa bán chui cho khách buôn lậu vượt sông!”
Bền tiến sát lại gần ông Quỳ, hạ giọng xuống nhưng từng lời lại như rót dầu vào lửa, đầy vẻ đe nạt hiểm độc:
“Tôi nói thật cho bác biết, ban kiểm soát liên ngành chúng tôi đã đưa quán nước của con Thu vào diện theo dõi đặc biệt về tội ‘buôn bán tư thương, tích trữ nguyên liệu trái phép’. Nhưng khốn nỗi, mỗi lần chúng tôi ra làm nhiệm vụ, anh Hùng đây lại nhảy ra cản trở, lấy cái thẻ thương binh ra để che chắn cho quân gian thương! Dân làng người ta đang đồn ầm lên rằng nhà họ Đặng các bác đứng sau lưng đỡ đầu, mượn tay con bé ấy để tẩu tán hàng mậu dịch, kiếm lời bất chính đấy!”
“Không có chuyện đó! Đồng chí ngậm máu phun người vừa thôi!” Hùng không thể kìm nén được nữa, anh dằn mạnh thanh gỗ xuống mặt bàn lim, tiếng va chạm khô khốc vang dội khắp gian nhà. Đôi mắt Hùng rực lửa, anh trừng trừng nhìn thẳng vào mặt tên đội phó: “Thu chỉ bán từng bát nước chè xanh cho người qua đò đỡ rét, tráng mấy chiếc bánh đa bằng chút gạo sắn mót được để kiếm sống qua ngày! Cô ấy không trộm cắp, không buôn lậu của ai một hạt thóc, một lạng đường nào! Còn anh, anh mang danh cán bộ kiểm soát mà lại dùng quyền hạn để hạch sách, bức ép một đứa con gái mồ côi không nơi nương tựa, anh không thấy hổ thẹn với lương tâm à?”
“Hùng! Mày câm mồm lại cho tao!”
Ông Quỳ quát lên một tiếng thất thanh, khuôn mặt già nua bỗng chốc cắt không còn giọt máu. Ông run rẩy kéo giật tay Hùng lại phía sau, rồi quay sang nhìn Bền với ánh mắt van lơn:
“Đồng chí Bền... cháu nó mới ở chiến trường về, tính khí còn nóng nảy, chưa hiểu hết đường lối chính sách của hợp tác xã, xin đồng chí lượng thứ bỏ qua cho...”
Bền lùi lại một bước, nụ cười giả tạo trên mặt hắn vụt tắt, thay vào đó là nét mặt lạnh tanh, hiểm độc như loài rắn độc chuẩn bị vồ mồi. Hắn giở cuốn sổ bìa xanh ra, làm bộ lật lật vài trang rồi gõ ngón tay cộc cộc lên mép giấy:
“Tôi chẳng thèm chấp loại người vô kỷ luật như anh Hùng. Nhưng bác Quỳ này, tôi nói để bác liệu mà bảo ban con cái. Đợt này, huyện đang duyệt chỉ tiêu phân phối gỗ xẻ quý — lim, dổi, táu — cho các tổ mộc thủ công trong xã để chuẩn bị đóng thuyền vận tải và sửa lại mái đình. Ban quản trị xã đang cân nhắc xem giao mối hàng này cho tổ mộc nhà bác hay chuyển sang cho bên xóm Thượng. Người ta chỉ giao gỗ cho những gia đình có lập trường tư tưởng vững vàng, chấp hành nghiêm chỉnh nếp sống kinh tế tập thể, chứ không ai dám giao tài sản của nhà nước cho một gia đình có người dính líu đến phần tử buôn bán tư thương, chống đối cán bộ kiểm soát đâu!”
Hắn dừng lại một nhịp, liếc xéo Hùng một cái đầy đắc ý rồi buông lời chốt hạ:
“Hơn nữa... hồ sơ xét duyệt nâng hạng thương tật và hưởng trợ cấp ưu đãi của anh Hùng đây hiện vẫn đang nằm trên bàn đồng chí Chủ nhiệm xã, chờ ý kiến xác nhận về tư cách đạo đức của ban kiểm soát chúng tôi đấy. Bác là người hiểu biết, bác tự cân nhắc lấy thiệt hơn!”
Nói đoạn, không đợi ông Quỳ kịp hoàn hồn, Bền vung tay quay ngoắt người, dẫn tên dân phòng nghênh ngang rảo bước ra khỏi cổng, để lại một khoảng không gian ngột ngạt đến nghẹt thở bao trùm lấy gian xưởng mộc.
Gió mùa đông bắc bỗng từ đâu thốc mạnh vào xưởng, cuốn những dải dăm bào bay xào xạc trên nền đất nện.
Ông Quỳ đứng chết trân giữa sân. Bàn tay ông run rẩy đến mức không thể giữ nổi chiếc giẻ lau. Bao nhiêu nỗi sợ hãi, cay đắng và nỗi nhục nhã tích tụ từ những năm tháng sóng gió của thời cuộc như vỡ òa ra trong lòng người thợ già. Cái thời cải tạo công thương nghiệp năm xưa, khi xưởng mộc bề thế của ông nội bị giải tỏa, cả gia đình phải co cụm lại, sống dè dặt từng bước chân, sợ từng lời ăn tiếng nói để giữ lấy cái nghề tổ truyền... vết thương lòng ấy chưa bao giờ lành lặn trong tâm can ông. Giờ đây, chỉ vì một cô gái mồ côi ngoài bến đò, cái danh dự ba đời của nhà họ Đặng, cái bát cơm duy nhất nuôi sống cả gia đình có nguy cơ bị đập nát!Cơn thịnh nộ bùng lên dữ dội, thiêu đốt chút bình tĩnh cuối cùng của ông Quỳ.
Ông quay phắt lại, đôi mắt đỏ ngầu nhìn chằm chằm vào Hùng. Bất thình lình, ông vớ lấy chiếc bào gỗ bằng gỗ xoan đào nặng trịch trên bàn thợ, giáng mạnh xuống nền sân gạch!
“Rầm!”
Tiếng gỗ va đập chát chúa vang lên. Chiếc bào vỡ toác làm đôi, lưỡi thép sắc lẹm văng ra cắm phập vào cột nhà, dăm gỗ bắn tung tóe lên tận gấu quần của Hùng.
“Mày... mày muốn bức tử cái nhà này hả con?” Giọng ông Quỳ nghẹn đặc, run lên bần bật: “Mày có biết tao phải nuốt nhục, phải khom lưng uốn gối trước cái ngữ như thằng Bền bao nhiêu năm nay để giữ lấy cái xưởng mộc này không? Mày đi bộ đội mấy năm về, chân què một bên tao không trách, nhưng cái đầu mày để đi đâu mà lại đâm đầu vào con bé mồ côi ranh mãnh ấy hả?”
Vừa lúc đó, Đặng Thị Thắm từ dưới bếp hớt hải chạy lên, trên tay vẫn còn cầm chiếc rổ rách đựng nắm rau muống héo. Thấy cha nổi giận lôi đình, Thắm sợ hãi níu lấy vạt áo ông Quỳ:
“Thầy ơi! Thầy bớt giận đi thầy! Chị Thu là người tốt mà thầy, chị ấy tần tảo, hiền lành lắm, có buôn lậu gì đâu...”
“Mày câm ngay cái mồm đi!” Ông Quỳ quắc mắt nhìn con gái, chỉ tay thẳng vào mặt Thắm: “Tao chưa tính sổ với mày đấy! Mày tưởng tao mù à? Mấy hôm nay mày lén lút xúc bột gạo, bốc trộm vừng đem ra bến đò cho nó, mày tưởng tao không biết hả? Từ giờ phút này trở đi, tao cấm tiệt! Cấm mày bước chân ra khỏi cái cổng này nửa bước! Còn mày nữa, Hùng!”
Ông Quỳ quay ngoắt sang Hùng, ngực phập phồng dữ dội, từng ngón tay run rẩy chỉ thẳng ra hướng dòng sông Hồng xa xa:
“Mày nhìn lại cái thân mày xem! Chân đi chấm phẩy, thương tật đầy mình, người ta thương tình cho mày cái danh thương binh để mày sống yên ổn qua ngày. Thế mà mày lại rước cái ngữ gái không cha không mẹ, nợ nần ngập đầu ấy vào thân! Mày định để người ta tước mất tiêu chuẩn gỗ xẻ, để cả cái nhà này chết đói, để thiên hạ người ta nhổ vào bàn thờ tổ tiên nhà họ Đặng hay sao? Tao cấm mày! Từ nay về sau, nếu mày còn bước nửa bước chân ra cái bến đò Vạn Cát ấy, nếu mày còn nhìn mặt con Thu ấy, thì mày không còn là con tao nữa! Bước ra khỏi nhà này đi!”
Những lời nói của người cha như những nhát búa tạ giáng thẳng vào lồng ngực Hùng. Đau đớn. Tủi nhục. Uất nghẹn.
Nhưng Hùng không cúi đầu. Anh đứng thẳng người dậy, hai bờ vai rộng căng ra dưới lớp áo trấn thủ. Dù chân phải bị thương tật khiến anh phải dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể sang bên chân trái và chiếc gậy tre, nhưng thế đứng của anh vẫn vững chãi như một cây lim già bám rễ sâu vào lòng đất mẹ.
Ánh mắt Hùng nhìn cha không hề có sự oán hận, mà chỉ có một nỗi xót xa vô hạn và một sự kiên định đến sắt đá. Giọng anh cất lên, trầm thấp, rành rọt từng tiếng một, vang vọng giữa gian xưởng mộc đang bao trùm bởi bầu không khí ngột ngạt:
“Thầy! Cả đời thầy dạy con làm thợ mộc, thầy bảo mộng gỗ phải ngay thẳng, thớ gỗ phải sạch sẽ thì cái nhà dựng lên mới vững chãi, không bị mối mọt đục khoét. Con đi chiến trường năm năm, đồng đội con ngã xuống bên bờ chiến hào ngực nát bét vì mảnh đạn, trước lúc nhắm mắt họ nắm tay con dặn rằng: ‘Sống thì phải sống cho thẳng lưng, phải bảo vệ người nghèo, người yếu thế, đừng bao giờ cúi đầu trước cái ác, cái bất công’.”
Hùng nuốt nghẹn một ngụm đắng cay, ánh mắt anh hướng về phía người cha đang run rẩy vì xúc động:
“Thu là một cô gái mồ côi, cha mẹ mất sớm để lại gánh nợ thuốc men, nhưng cô ấy chưa từng ngửa tay xin ai một đồng, chưa từng làm điều gì khuất tất, trái với đạo lý làm người. Từng ấm nước chè xanh cô ấy nấu giữa gió rét sông Hồng đã sưởi ấm cho bao nhiêu người lỡ bước, cho những người nông dân nghèo đi làm đồng về đói lả. Bát nước ấy, miếng bánh đa vừng ấy là mồ hôi, là giọt nước mắt lương thiện của một con người đang vật lộn để sống cho ra một con người! Tại sao một việc làm trong sạch, tử tế như thế, chỉ vì nếp nghĩ hẹp hòi, giáo điều của một vài kẻ máy móc, mà lại bị người ta chà đạp, nhổ bọt vào?”
Hùng dừng lại, lồng ngực anh phập phồng, đôi mắt ánh lên ngọn lửa kiên định mà súng đạn chiến tranh cũng chưa từng dập tắt nổi:
“Thằng Bền muốn tước tiêu chuẩn gỗ, con chấp nhận đi làm thuê, vác gỗ mướn để nuôi thầy và em! Nó muốn cắt sổ trợ cấp thương tật của con, con chấp nhận! Con tàn nhưng con không phế, bàn tay con vẫn còn cầm được rìu, được đục, con vẫn tự nuôi sống được bản thân mình bằng sức lao động chân chính! Nhưng bắt con phải quay lưng lại với một người con gái lương thiện đang bị cả làng dồn vào bước đường cùng, bắt con phải hèn nhát cúi đầu trước sự dối trá để đổi lấy mấy mét khối gỗ xẻ... thì con không làm được! Nếu con làm thế, con không xứng đáng mang họ Đặng, và càng không xứng đáng sống sót trở về thay cho những đồng đội đã nằm lại dưới lòng đất mẹ!”
“Mày... mày...”
Ông Quỳ ôm chặt lấy ngực, lảo đảo lùi lại mấy bước, tựa lưng vào mép chiếc bàn thợ. Người thợ già nhìn trừng trừng vào đứa con trai cả của mình. Trong ánh mắt rực lửa của Hùng, ông nhìn thấy hình bóng kiêu hãnh của chính cha ông năm xưa — người từng thà chịu đói chứ nhất quyết không chịu đóng sập cửa xưởng mộc trước những mảnh đời cơ nhỡ. Sự bất lực, nỗi sợ hãi và niềm đau xé lòng giằng xé tâm can ông Quỳ, khiến ông không thể thốt thêm được một lời nào. Ông phất mạnh tay áo, quay lưng bước vội vào gian nhà trong, cánh cửa gỗ lim khép sập lại với một tiếng “rầm” khô khốc, buông màn ngăn cách hai thế hệ.
Thắm đứng nép bên cột nhà, nước mắt chảy ròng ròng trên đôi má bánh mật, nhìn anh trai bằng ánh mắt vừa xót xa vừa cảm phục.
Hùng không nói thêm lời nào. Anh cúi xuống, cẩn thận nhặt hai mảnh của chiếc bào gỗ bị vỡ và lưỡi thép sắc lẹm lên, đặt ngay ngắn trên mặt bàn thợ như một sự kính trọng sau cùng dành cho nghề nghiệp của cha. Rồi anh chống gậy, từng bước tập tễnh bước ra ngoài sân.
Trời đất mùa đông xám xịt một màu chì ảm đạm. Mưa phùn bắt đầu rơi lất phất, từng hạt nước li ti buốt giá như kim châm bám đầy trên mái tóc dày và đôi vai áo sờn rách của người lính phục viên.
Hùng bước ra đứng dưới gốc cây xoan đào trước cổng ngõ. Từ vị trí này, phóng tầm mắt qua những mái rạ lúp xúp của xóm Mộc và dải đê cao sừng sững, anh có thể nhìn thấy vệt mờ xa xăm của ngọn đa cổ thụ bên bến đò Vạn Cát. Nơi ấy, con sông Hồng đang lặng lẽ cuộn chảy những dòng nước đỏ quạch phù sa. Và nơi ấy, dưới mái chòi rơm xiêu vẹo rách nát, có một người con gái nhỏ bé đang một mình đối mặt với cái đói rét, với những lời ong tiếng ve cay độc của cả một ngôi làng.
Cơn gió bấc rít lên từng hồi qua rặng xoan, mang theo hơi ẩm lạnh buốt của dòng sông xộc thẳng vào da thịt.
Bất chợt, một cơn đau dữ dội từ khớp gối chân phải giật thót lên. Vết thương do mảnh đạn súng cối 82 năm xưa ở chiến trường Tây Nam gặp thời tiết trở trời bỗng tái phát, buốt nhói như có hàng ngàn mũi kim sắt đang dùi vào tận tủy xương. Hùng rên khẽ một tiếng, toàn thân run rẩy, anh phải tỳ cả hai tay lên chiếc gậy tre để giữ cho mình không ngã quỵ xuống nền đất bùn nhão nhoét. Mồ hôi lạnh toát ra trên trán, hòa cùng những hạt mưa phùn buốt giá chảy dài xuống má.
Cơn đau thể xác dữ dội là thế, nhưng làm sao đau đớn và buốt giá bằng nỗi uất ức, bất lực đang giày xéo tâm can anh lúc này? Anh là một người lính đã từng vượt qua sống chết, từng cầm súng bảo vệ từng tấc đất biên cương, thế mà giờ đây, khi trở về giữa quê hương thanh bình, anh lại bị trói buộc bởi những định kiến vô hình, bởi sự ấu trĩ và hèn nhát của những kẻ nhân danh tập thể. Anh muốn chạy ngay ra bến đò, muốn đứng cạnh Thu, muốn nói với cô rằng dù cả thế giới này có quay lưng lại với cô, thì anh — Đặng Văn Hùng — vẫn sẽ luôn ở đó, làm chiếc cột gỗ vững chãi nhất che chở cho cuộc đời cô.
Nhưng đôi chân tàn phế và sợi dây ràng buộc gia phong nghiệt ngã đang đóng đinh anh tại chỗ này, giữa màn mưa lạnh căm căm.
Đúng lúc ấy, không gian bỗng chốc trở nên ngột ngạt một cách kỳ dị.
Gió bấc đang thổi hun hút bỗng nhiên ngừng bặt. Mưa phùn cũng dứt hẳn. Không khí đặc quánh lại, oi nồng và nặng trĩu như thể có một tảng đá vô hình đè nặng lên vòm trời làng Yên Sa. Mặt đất bốc lên một mùi bùn non ngai ngái, tanh nồng đến rợn người. Lũ chim sẻ trú đông trong những rặng tre đầu ngõ bỗng bay dáo dác, kêu lên những tiếng thảng thốt rồi biến mất vào khoảng không mờ đục.
Hùng ngẩng đầu lên nhìn về phía tây.
Từ phía dãy núi Ba Vì xa thẳm bên kia bờ sông Hồng, những đám mây đen kịt, tím ngắt như màu mực tàu bỗng cuộn lên cuồn cuộn. Chúng không trôi lững lờ như những đám mây mùa đông thông thường, mà sôi sục, vần vũ, xô đẩy nhau tràn về như một đạo quân hắc ám đang quét sạch bầu trời. Màu xám chì ảm đạm của buổi chiều tà nhanh chóng bị nuốt chửng bởi một màn đêm nhân tạo đặc quánh, tối tăm mù mịt.
Rồi, một luồng gió dữ dội bất thần quét qua rặng xoan.
“Rào rào! Rắc!”
Những cành xoan khẳng khiu bị vặn xoắn gãy gục, lá khô và cát bụi cuốn mù mịt thành những cột xoáy khổng lồ giữa đường làng. Gió đổi hướng đột ngột, từ gió bấc chuyển sang những luồng gió lốc giật từng hồi kinh hoàng, gầm rú như tiếng gầm của một loài thủy quái vừa thức giấc dưới đáy sông Hồng.
Một cơn giông lốc trái mùa! Một cơn cuồng phong dữ dội hiếm thấy giữa tiết đông hàn chuẩn bị giáng xuống triền đê Yên Sa!
Tim Hùng bỗng thắt lại, đập loạn xạ trong lồng ngực. Một nỗi kinh hoàng tột độ xé toạc tâm trí anh, cuốn phăng mọi cơn đau buốt nơi khớp gối:
Bến đò Vạn Cát... Chiếc lán rơm xiêu vẹo của Thu nằm trơ trọi ngay mép nước đầu ngọn gió!