Tiếng quát già nua nhưng đanh thép vừa dứt, cả khoảng sân đình Yên Sa rộng thênh thang bỗng chốc lặng phắc như tờ. Hàng trăm ánh mắt đang đổ dồn vào bục chủ tọa lập tức quay phắt ra phía cổng tam quan. Dưới ánh sáng nhập nhoạng của hai ngọn đèn bão treo bên trụ đá, bóng một người già lưng còng gập xuống như cánh cung đang vững vàng tiến vào.
Bà cụ Vấn.
Cụ không đi một mình. Trên tay cụ Vấn là cây sào đò bằng tre đực đã lên nước nâu bóng qua mấy mươi năm lặn lội sông nước. Mỗi bước chân của bà cụ bảy mươi tuổi nện xuống nền gạch Bát Tràng đều gõ theo tiếng “cộc, cộc” khô khốc, dứt khoát của đầu sào bọc sắt. Phía sau cụ, một đoàn người đông đúc nườm nượp kéo qua cổng đình. Đó là những người dân xóm bãi áo nâu vá vai, những thợ chèo đò ngang mặt ngăm đen dạn dày sóng gió, những chị phụ nữ bế con nhỏ, và cả những thương binh, thân nhân liệt sĩ của làng Yên Sa trong những bộ quân phục bạc màu sờn vai. Ánh mắt họ quắc lên, hừng hực một thứ phẫn nộ bị đè nén bấy lâu, tạo thành một bức tường người sừng sững chắn ngang lối vào sân đình.
Thu đứng chôn chân bên cạnh Hùng, trái tim trong lồng ngực đập thắt lại rồi vỡ òa thành một nỗi xúc động khôn xiết. Đôi mắt cô hoe đỏ, nhìn bóng dáng còng rạp của bà cụ Vấn đang rẽ đám đông bước tới. Bàn tay Hùng khẽ cử động, những ngón tay thô ráp, chai sạn vì đục đẽo của anh tìm lấy bàn tay nhỏ bé, lạnh ngắt của Thu mà siết nhẹ. Một luồng hơi ấm truyền sang, giúp đôi chân cô đứng vững giữa cơn giông bão của miệng lưỡi quan quyền.
Trên bàn chủ tọa, cánh tay khẳng khiu của Lê Tiến Bền vẫn còn giơ lơ lửng giữa không trung. Mặt hắn cắt không còn giọt máu, cặp mắt lươn giật giật lia qua lia lại. Hắn vội vã hạ tay xuống, giật chiếc micro rè rè gắn trên bục, cố lấy lại vẻ hách dịch thường ngày nhưng giọng nói đã run lên thấy rõ:
“Bà… bà cụ Vấn! Đây là cuộc họp toàn thể xã viên, là nơi ban quản trị và đội kiểm soát làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ! Bà dẫn cái đám người nhốn nháo này xông vào phá rối trật tự là phạm quy, là vô tổ chức!”
“Cái mồm anh nín ngay đi!”
Cụ Vấn quắc mắt nhìn thẳng vào mặt Bền, cây sào đò trong tay cụ dằn mạnh xuống mặt gạch nghe một tiếng “chát” đanh gọn. Cả mấy trật tự viên đang lăm lăm gậy tre bên cánh gà cũng giật thót mình, vô thức lùi lại nửa bước. Dù đã ở tuổi gần đất xa trời, đôi mắt cụ Vấn vẫn giữ nguyên sự tinh anh của người từng chèo đò chở từng đoàn cán bộ, bộ đội vượt sông Hồng trong những đêm mưa bom bão đạn năm xưa.
Cụ Vấn bước lên từng bậc thềm tam cấp, tiến thẳng tới chiếc bàn bọc vải đỏ của ban quản trị. Đứng trước mặt Bền và các cán bộ xã, cụ cất giọng sang sảng, từng lời như cứa vào sự im lặng nghẹt thở của sân đình:
“Anh Bền! Anh mở mồm ra là nguyên tắc, khép mồm lại là kỷ cương, thế tôi hỏi anh, kỷ cương của anh có nuôi sống được người dân làng này qua đợt bão giá đổi tiền vừa rồi không? Lương tri của anh để ở đâu khi anh toan dỡ chòi, cướp bát cơm của một đứa con gái mồ côi hiền lành, dồn ép một thằng thương binh đổ máu ở chiến trường trở về đến bước đường cùng? Bến Vạn Cát này mấy mươi năm qua sóng to gió cả, tao chèo đò nuôi người kháng chiến, chở người đi đánh giặc, chưa từng thấy cái thứ cán bộ nào tàn tệ, nhẫn tâm như anh!”
“Bà… bà nói hàm hồ!” Bền lắp bắp, mồ hôi hột rịn ra trán, hắn quay sang cầu cứu người đàn ông ngồi ở ghế giữa bàn chủ tọa: “Báo cáo đồng chí Chủ tịch xã! Quán nước của Nguyễn Thị Thu hoạt động tư thương trái phép, phá hoại nếp công hữu, việc này tôi đã báo cáo rõ ràng trong sổ…”
“Hàng tư thương của nó đây! Anh mở to mắt ra mà nhìn!”
Một người đàn bà xóm bãi nghèo xơ xác, đầu chít khăn vuông rách mép bỗng từ đoàn người bước vội lên, ném mạnh một bọc giấy gói hàng lên mặt bàn trước mặt Bền. Tiếp đó, một bác thợ đò luống tuổi, một chị dân quân xóm dưới, rồi từng người, từng người một ùa lên.
Họ không mang theo vũ khí, không mang gậy gộc. Thứ họ mang ra ném lên chiếc khăn trải bàn đỏ rực kia là hàng chục, hàng trăm mảnh giấy vụn nát.
Thu đứng nhìn cảnh tượng ấy mà nước mắt tuôn rơi lã chã. Đó là những mảnh vỏ bao thuốc lá Tam Đảo đã nhàu nhĩ, những mẩu giấy bao xi măng xé vội, những mảnh nan tre cạo nhẵn, và cả những tấm lá chuối khô đã ngả màu xám xịt. Trên mỗi mảnh giấy ấy là những nét chữ ngoằn ngoèo, nguệch ngoạc của Thu, hoặc những dấu điểm chỉ bằng mực đỏ, bằng bùn đất của chính bà con xóm bến.
Bác lái đò họ Chu bước lên, chỉ tay thẳng vào mặt Bền mà gằn giọng:
“Đọc đi! Đội phó Bền, anh đọc to lên cho cả làng cùng nghe xem con Thu nó buôn bán đầu cơ cái gì! Đây, mảnh giấy này con Thu nó ghi rõ: Cho ông Chu mượn năm chiếc bánh đa và một bơ gạo nếp hôm nước lũ dâng cao, hẹn bao giờ thuyền có mối chở vôi thì trả bằng một gánh củi đun! Ngày mười hai tháng mười năm ngoái, nhà tôi chết đói đến nơi, vợ ốm liệt giường, con khóc ngằn ngặt vì rét. Hợp tác xã các anh đâu? Kho thóc cứu đói của các anh đâu? Nếu không có bát nước chè nóng của con Thu, không có mấy phong kẹo lạc nó giúi cho để nhét vào miệng đứa con tôi cho nó đỡ lả, thì cả nhà tôi đã chôn thây ngoài bãi cát sông Hồng rồi!”
Một chị phụ nữ gầy guộc ôm đứa con nhỏ ba tuổi cũng nghẹn ngào bước lên, giơ mảnh giấy rách góc ra trước đèn bão:
“Còn đây! Con tôi sốt co giật giữa đêm đông, đò không ai dám qua sông vì sóng to, trạm y tế thì hết sạch thuốc tây. Con Thu nó thức trắng đêm giã gừng, nấu nước đường phèn cạo gió cho con tôi, rồi nó xé cả manh áo lành duy nhất đắp ấm cho cháu. Nó còn bảo: ‘Chị cứ cầm lấy nắm kẹo mà ăn cho có sữa cho cháu bú, chừng nào củ sắn ngoài nương dỡ được thì mang sang bù cho em’. Nó đầu cơ tích trữ như thế đấy hả anh Bền? Nó phá hoại kinh tế tập thể như thế đấy hả trời đất ơi?!”
“Đúng đấy! Đọc đi! Đọc hết ra đây!”
“Tiền giấy đổi xong không mua nổi mớ rau, người ta đùm bọc nhau sống qua ngày giáp hạt mà anh bảo là quân buôn lậu à?!”
Tiếng người rộ lên như sóng trào. Những bàn tay gầy guộc, đen đúa chìa ra những mảnh giấy ân tình. Hàng trăm mảnh giấy nằm la liệt trên bàn chủ tọa, đè bẹp cuốn sổ kiểm tra bìa xanh của Lê Tiến Bền. Từng dòng chữ mộc mạc, từng dấu điểm chỉ thô sơ hiện ra dưới ánh đèn như một bản cáo trạng đanh thép giáng thẳng vào sự máy móc, giáo điều và lòng dạ hẹp hòi của kẻ cầm quyền cậy thế.
Thu cắn chặt môi đến bật máu để ngăn tiếng nấc nghẹn. Những ngày đông giá rét vừa qua, khi bão giá quét qua làm đồng tiền mất giá, khi lòng người hoang mang tột độ, cô chỉ biết làm theo mách bảo của lương tâm. Thấy người lỡ bước đói lả bên bến sông, cô không nỡ quay lưng; thấy bà con xóm chài cạn kiệt gạo ăn, cô đổi từng phong kẹo, chiếc bánh đa lấy từng củ sắn, bó củi để cùng nhau cầm cự. Cô chưa từng nghĩ những việc làm nhỏ nhoi, thầm lặng ấy lại được bà con nâng niu, gìn giữ như báu vật, để rồi hôm nay họ đồng lòng mang đến đây làm lá chắn che chở cho cô.
Lê Tiến Bền lùi dần lại phía sau, trán ướt đẫm mồ hôi, hai tay run lẩy bẩy không dám chạm vào những mảnh giấy trước mặt. Hắn đảo mắt nhìn quanh, nhưng ở bất cứ góc nào, hắn cũng chỉ bắt gặp những ánh mắt rực lửa khinh miệt của dân làng.
Đúng lúc đó, từ góc sân đình, tiếng kim loại va vào nhau lách cách vang lên. Đám đông tự động dạt ra thành một lối đi rộng.
Bác Thược thợ rèn, ngực trần vạm vỡ dù giữa đêm đông buốt giá, cùng hai cựu chiến binh khác đang đẩy một cỗ máy kỳ lạ tiến thẳng vào giữa sân đình.
Đó là chiếc lò nướng bánh đa cải tiến.
Khung lò bằng sắt tái chế được gò hàn chắc chắn, bóng nước than hoa; chiếc quạt gió đạp chân tận dụng từ líp và xích xe đạp cà tàng kêu ro ro êm ái; bên cạnh là chiếc bàn gỗ xoan ngâm ghép mộng mang cá khít khao tăm tắp, không hề dùng một chiếc đinh sắt nào, do chính tay Hùng đục đẽo.
Bác Thược buông tay đòn của xe đẩy, bước lên trước bục, giọng ồm ồm như chuông đồng:
“Thưa các đồng chí trong Ban quản trị xã! Thưa toàn thể bà con! Anh Bền vu cho chú Hùng tiếp tay cho buôn lậu, vu cho xưởng mộc nhà ông Quỳ chiếm dụng gỗ công để làm chuyện bao đồng. Vậy thì hôm nay tôi – thợ rèn Vũ Văn Thược, ba mươi năm đỏ lửa ở cái làng Yên Sa này – xin đứng ra làm chứng!”
Bác Thược vỗ mạnh một bàn tay hộ pháp lên thân lò nướng:
“Đây! Chiếc lò nướng này do chính thằng Hùng thức trắng mấy đêm liền vẽ mẫu trên nền đất xưởng mộc, rồi cùng tôi gom từng mẩu sắt vụn, líp xe hỏng để hàn thành! Nó dùng trấu, mùn cưa và vỏ lạc để ủ nhiệt đối lưu, không tốn một cục than đá mậu dịch nào của nhà nước! Nhờ có chiếc lò này của thằng Hùng và con Thu, một giờ nướng được bằng năm người quạt tay, bánh phồng đều, thơm nức, không khét một chiếc nào! Nó còn chế ra chiếc bàn chia kẹo, cối cán gỗ để phụ nữ xóm bãi bớt đi nỗi nhọc nhằn phỏng rộp đôi tay!”
Bác Thược quay sang nhìn Hùng, ánh mắt người thợ già lấp lánh niềm kiêu hãnh:
“Một thằng thương binh hỏng một bên chân, vừa rời tay súng bảo vệ biên giới phía Tây Nam trở về, không chịu nằm một chỗ ăn trợ cấp, không ỷ lại vào làng nước, mà thức đêm thức hôm dùng cái đầu, cái tay của mình để làm ra công cụ giải phóng sức lao động cho bà con, làm đẹp cho đời… Một con người như thế, mà anh Bền đòi tước chỉ tiêu gỗ, đòi đuổi khỏi làng nghề tổ truyền hay sao?! Lương tâm của người cộng sản để ở đâu?!”
“Hoan hô bác Thược!”
“Đúng quá! Đồ gỗ nhà ông Quỳ làm cho đội thủy lợi, cho nhà trẻ xóm bến tốt nhất xã này!”
“Không ai được đụng vào chú Hùng, không ai được phá lò bánh của cô Thu!”
Tiếng hô vang dậy cả một góc trời đêm. Dưới mái đình cong vút rêu phong, ngọn lửa của sự đoàn kết và tình làng nghĩa xóm bùng cháy rực rỡ hơn bao giờ hết. Sự uất ức bấy lâu nay về cơ chế bao cấp ngột ngạt, về những ánh mắt soi mói và những bản kiểm điểm vô lý bỗng chốc được giải tỏa trong một làn sóng đồng lòng chưa từng có.
Lê Tiến Bền hoàn toàn suy sụp. Hắn tựa lưng vào mép bảng tin, mặt xám ngoét như tàu lá chuối, cuốn sổ kiểm tra trên tay rơi bẹp xuống đất lúc nào không hay.
Lúc bấy giờ, người đàn ông ngồi ở vị trí trang trọng nhất trên bàn chủ tọa – đồng chí Trần Khang, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Yên Sa – mới từ từ đứng dậy.
Đồng chí Khang là một cán bộ lão thành từng tham gia kháng chiến chống Pháp, mái tóc đã bạc quá nửa, trên gò má còn vương một vết sẹo chiến tranh mờ mờ. Từ đầu buổi họp đến giờ, ông chỉ im lặng quan sát, ánh mắt trầm ngâm dõi theo từng diễn biến, từng lời nói của Thu, của Hùng, và thái độ lộng quyền của cấp dưới.
Đồng chí Chủ tịch xã giơ tay lên. Sân đình đang ồn ào bỗng dần dần lắng xuống.
Ông Khang bước vòng qua bàn chủ tọa, đi tới trước đống giấy nát của bà con xóm bến. Ông cúi người, đôi bàn tay gân guốc trân trọng nhặt từng mẩu vỏ bao thuốc lá, từng mảnh lá chuối khô lên, chăm chú đọc từng dòng chữ mộc mạc ghi lại những ân tình trong cơn bão giá. Rồi ông quay sang nhìn chiếc lò nướng cải tiến, đưa tay sờ lên những mối hàn thô ráp nhưng vững chắc của bác Thược, v**t v* mặt gỗ xoan nhẵn bóng không tì vết do bàn tay tài hoa của Hùng gọt giũa.
Cuối cùng, ánh mắt ấm áp, trầm tĩnh của người lãnh đạo xã dừng lại trên người Thu và Hùng.Ông nhìn thấy đôi bàn tay của Thu rộp đỏ những vết bỏng than chưa kịp liền da, nhìn thấy chiếc quần bộ đội bạc màu của Hùng đang run nhẹ vì khớp gối thương tật nhức buốt trong gió lạnh, và nhìn thấy chiếc lược gỗ mun cài trên mái tóc thoang thoảng hương bưởi của người con gái mồ côi.
Đồng chí Khang hít một hơi thật sâu, rồi bước lại gần chiếc micro. Giọng ông trầm ấm, vang xa, truyền đi khắp không gian tĩnh lặng của sân đình:
“Thưa toàn thể bà con xã viên! Thưa các đồng chí trong Ban quản trị!”
Ông dừng lại một nhịp, ánh mắt nghiêm khắc liếc sang Lê Tiến Bền đang đứng co rúm một góc:
“Hôm nay, đáng lẽ đây là một cuộc họp kiểm điểm thông thường của đội kiểm soát. Nhưng trước mặt tôi, trước mặt toàn thể bà con làng Yên Sa lúc này, tôi nhận ra một sự thật đau lòng: Một bộ phận cán bộ của chúng ta, mà cụ thể ở đây là đồng chí Lê Tiến Bền, đã mắc phải căn bệnh giáo điều, máy móc cực đoan và cửa quyền trầm trọng!”
Tiếng xì xào đồng tình rộ lên dưới sân đình. Đồng chí Khang nâng cao giọng:
“Đồng chí Bền chỉ biết bám vào những câu chữ cứng nhắc, áp đặt định kiến lên đầu quần chúng mà không thèm nhìn xem thực tế đời sống nhân dân đang diễn ra như thế nào! Trong lúc bão giá, đời sống ngặt nghèo, đồng bào ta phải nhường cơm sẻ áo, chắt chiu từng hạt gạo, củ sắn để cưu mang nhau qua ngày đoạn tháng. Cháu Nguyễn Thị Thu, một cô gái mồ côi nghèo khó, đã biết dùng đôi bàn tay lao động chân chính của mình, dùng tình thương và sự khéo léo để dựng nên một quán nước nhỏ bên bến đò Vạn Cát, không chỉ tự nuôi sống bản thân, trả nợ đàng hoàng, mà còn là chỗ dựa ấm áp, cứu đói cho bao người lỡ bước sang sông! Đó không phải là tư thương phá hoại! Đó là đạo lý tương thân tương ái ngàn đời của dân tộc ta!”
Thu nghẹn ngào, nước mắt tràn mi, cô nép sát vào bên vai vững chãi của Hùng. Hùng siết chặt lấy tay cô, ngực anh phập phồng những nhịp thở mạnh mẽ, tự hào.
Đồng chí Chủ tịch xã quay sang nhìn Hùng và bác Thược, giọng ông đầy vẻ xúc động:
“Còn đồng chí Đặng Văn Hùng, một thương binh bỏ lại một phần xương máu nơi chiến trường, trở về quê hương với hai bàn tay trắng và đôi chân thương tật. Đồng chí ấy không bi quan, không đòi hỏi đãi ngộ, mà cùng với nghệ nhân xóm mộc và bác Thược thợ rèn mày mò sáng chế ra công cụ cải tiến, nâng cao năng suất, tiết kiệm nguyên liệu cho nhân dân. Những người như cháu Thu, đồng chí Hùng là những tấm gương lao động tự lực cánh sinh đáng biểu dương, đáng trân trọng, chứ tuyệt đối không phải là đối tượng để đấu tố, để chèn ép!”
Ông Khang quay phắt lại bàn chủ tọa, dõng dạc tuyên bố:
“Thay mặt Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã Yên Sa, tôi xin tuyên bố: Bác bỏ toàn bộ những kiến nghị vô căn cứ của đồng chí Lê Tiến Bền về việc thu hồi chỉ tiêu gỗ của xưởng mộc ông Quỳ và cưỡng chế dỡ bỏ chòi nước bến Vạn Cát!”
Một tiếng reo hò rền vang như sấm dậy nổ tung dưới sân đình. Thắm nhảy cẫng lên ôm chầm lấy cánh tay ông Quỳ; ông Quỳ đưa bàn tay run rẩy gạt giọt nước mắt lăn trên đôi gò má nhăn nheo, miệng mấp máy không nên lời.
Đồng chí Khang tiếp tục giơ tay trấn an đám đông, đưa ra quyết định cuối cùng:
“Không những không dẹp bỏ, mà xuất phát từ nhu cầu dân sinh thiết thực của hành khách qua đò sông Hồng, Ủy ban xã quyết định: Công nhận quán nước của cháu Thu bên bến đò Vạn Cát là Trạm dịch vụ trung chuyển dân sinh thí điểm của xã Yên Sa! Giao cho xưởng mộc của gia đình ông Quỳ và đồng chí Hùng đóng thêm hai dãy ghế chờ bằng gỗ cho bà con trú mưa trú nắng! Về phần đồng chí Lê Tiến Bền, Đảng ủy xã sẽ tiến hành họp kiểm điểm sâu sắc về thói quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu nhân dân và có hình thức kỷ luật thích đáng sau cuộc họp này!”
“Đúng lắm!”
“Chủ tịch xã anh minh!”
“Bà con ơi, thắng rồi!”
Tiếng vỗ tay, tiếng reo hò hòa cùng tiếng cười rộn rã xé toang màn đêm u ám của làng quê. Dưới ánh sáng lung linh của những ngọn đuốc, người dân ùa lên vây quanh Thu và Hùng. Những bàn tay thô ráp của các bà mẹ, những cái vỗ vai thân tình của các cựu chiến binh, những nụ cười rạng rỡ của cánh thợ đò… tất cả như một dòng suối ấm lành ôm trọn lấy hai người trẻ tuổi.
Lê Tiến Bền lủi thủi ôm cặp sổ len lén men theo góc tường đình rồi biến mất vào màn đêm đen kịt, không một ai thèm đoái hoài nhìn theo cái bóng lưng gầy guộc, thảm hại của hắn.
Cụ Vấn chống cây sào đò bước tới, đặt bàn tay nhăn nheo, ấm áp lên vai Thu rồi khẽ mỉm cười, hàm răng đen nhánh hạt huyền lấp lánh dưới ánh đèn:
“Tốt rồi… Khổ tận cam lai rồi con ạ. Từ nay bến sông này sóng yên biển lặng, cứ vững tâm mà nhóm lửa, nướng bánh nghe con!”
“Bà ơi…” Thu chỉ kịp thốt lên hai tiếng rồi ôm chầm lấy cụ Vấn, những giọt nước mắt hạnh phúc thấm đẫm vai áo nâu của bà lão.
Hùng đứng bên cạnh, ánh mắt anh nhìn Thu tràn ngập vẻ dịu dàng vô bờ bến. Anh đưa tay, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay nhỏ bé của cô, đan chặt những ngón tay mình vào tay cô.
Giữa vòng vây chúc mừng nồng nhiệt của dân làng, hai người cùng nhau bước ra khỏi cổng tam quan đình làng Yên Sa. Đêm mùa đông sông Hồng vẫn hun hút gió lạnh, nhưng trong lòng Thu lúc này, một ngọn lửa ấm áp và rực rỡ đang bùng cháy. Mảnh đất này, bến đò này, và người đàn ông kiên cường bên cạnh cô… tất cả đã hòa quyện làm một, trở thành bến đỗ bình yên nhất của cuộc đời cô.
*
Sáng hôm sau.
Một buổi sớm mùa đông hiếm hoi bừng lên những tia nắng vàng như mật rải nhẹ trên bãi cát bồi phù sa sông Hồng. Màn sương lam bốc lên từ mặt nước lấp lánh, quyện với làn khói bếp thơm nồng từ chòi quán bến Vạn Cát tạo nên một khung cảnh thanh bình đến nao lòng.
Trong chiếc lò nướng cải tiến của Hùng, những thanh trấu mùn cưa bén lửa đượm hồng. Thu thoăn thoắt đôi tay đặt từng chiếc bánh đa vừng đen lên vỉ. Chiếc quạt gió đạp chân quay đều êm ru, gió lùa đối lưu làm những chiếc bánh nở bung phồng rộp, tỏa ra mùi thơm ngậy của gạo mới quyện lẫn vị bùi của vừng và vị nồng ấm của gừng tươi. Bên cạnh, chiếc nồi đồng nấu kẹo lạc sôi lục bục, hương mật mía hoa cau dẻo quánh lan tỏa khắp một khúc sông vắng.
Bến đò sáng nay đông vui khác thường. Khách sang đò rộn rã tiếng cười nói, ngồi chật kín trên những chiếc ghế gỗ con bóng loáng mộng mang cá của Hùng. Ai nấy đều muốn uống một bát nước chè xanh sóng sánh, cắn một miếng kẹo lạc giòn tan để chúc mừng cho đôi trẻ hiền lành vừa vượt qua cơn sóng gió.
Hùng ngồi ở góc quán, chiếc chân đau đã bớt sưng buốt sau một đêm chườm lá ngải cứu sao muối của Thu. Anh đang tỉ mẩn dùng chiếc bào con gọt nhẵn góc cạnh của một chiếc ghế dài mới đóng cho khách ngồi chờ đò. Mỗi nhát bào đưa đi, dăm gỗ xoan cuộn tròn lại rơi xuống nền đất, tỏa ra mùi gỗ mộc ngai ngái, nồng đượm vị sống. Thỉnh thoảng, anh lại ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt lúng liếng của Thu đang nhìn mình qua làn khói bếp mỏng manh. Chiếc lược gỗ mun anh tặng vẫn cài ngay ngắn trên mái tóc thơm hương hoa bưởi của cô, đen nhánh và kiêu hãnh. Bốn mắt nhìn nhau, chẳng cần một lời hẹn ước hoa mỹ, chỉ có sự thấu hiểu và ân tình sâu nặng tựa dòng phù sa nghìn năm bồi đắp cho đôi bờ.
Đúng lúc ấy, từ phía triền đê Yên Sa, tiếng chuông đồng lách cách quen thuộc vang lên giòn giã:
“Kính coong! Kính coong!”
Chiếc xe đạp Phượng Hoàng màu xanh cánh cam cà tàng của chú Thắng bưu tá xã lao nhanh xuống dốc bến đò, phanh kịt một tiếng chói tai ngay trước cửa chòi quán, làm bụi cát bay lên mù mịt.
Chú Thắng nhảy tót xuống xe, mồ hôi nhễ nhại dù trời đang rét căm căm, nhưng khuôn mặt lại rạng ngời một niềm phấn khởi tột cùng. Chú không tháo chiếc mũ cối xuống, mà thọc tay ngay vào chiếc túi da nâu đeo bên hông, rút phắt ra một phong bì dày cộp có dán niêm phong đỏ chót.
“Hùng ơi! Thu ơi!” Chú Thắng thở hổn hển nhưng giọng nói lại sang sảng như reo: “Tin mừng lớn! Tin mừng từ tận trên tỉnh, trên Trung ương vừa hỏa tốc chuyển về huyện rạng sáng nay!”
Hùng dừng tay bào, ngạc nhiên chống gậy đứng dậy. Thu cũng vội vàng lau đôi bàn tay dính bột vào mép tạp dề, bước nhanh ra cửa chòi. Cả đám thợ đò và bà cụ Vấn đang ngồi nhai trầu bên mạn thuyền cũng tò mò ngoái đầu nhìn lại.
Chú Thắng giơ cao phong bì công văn, trên mặt phong bì in rõ dòng chữ đỏ tươi: “Công văn hỏa tốc – Phổ biến tinh thần chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI về đổi mới cơ chế kinh tế và lưu thông phân phối”.
Nhìn đôi mắt tròn xoe đầy ngỡ ngàng của Thu và ánh nhìn thâm trầm, sắc sảo của Hùng, chú bưu tá cười lớn, vỗ mạnh vào vai người thương binh:
“Hai đứa chuẩn bị tinh thần đi! Trên huyện vừa họp khẩn, tinh thần mới từ Trung ương thổi về rồi: Sắp tới sẽ xóa bỏ hoàn toàn các trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ, cho phép nhân dân tự do lưu thông hàng hóa, khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và kinh tế gia đình! Chòi quán bánh kẹo của con Thu và xưởng mộc của thằng Hùng được huyện chọn làm mô hình điểm để báo cáo điển hình lao động tự lực của toàn huyện đấy!”
Tờ công văn trao vào tay Hùng còn thơm nguyên mùi mực in mới.
Gió từ mặt sông Hồng thổi thốc lên triền cát, mang theo vị phù sa nồng nàn và hơi lạnh của những ngày cuối đông. Nhưng lúc này, khi nhìn tờ giấy công văn trong tay Hùng, nhìn vào mắt nhau, cả Thu và Hùng đều cảm nhận được một luồng sinh khí mới mẻ, ấm áp lạ thường đang cuộn trào từ trong huyết quản.
Mùa đông buốt giá của thời kỳ ngăn sông cấm chợ đã sắp sửa lùi xa vào dĩ vãng. Ngoài bãi bồi, những búp ngô non xanh mướt đang âm thầm đội lớp đất phù sa cựa mình vươn lên đón nắng. Một ngọn gió mới – ngọn gió Đổi Mới lịch sử – đã bắt đầu thổi qua bến đò Vạn Cát, báo hiệu một mùa xuân rực rỡ và đơm hoa sắp sửa tràn về trên mảnh đất quê hương.