Tiếng rè rè quen thuộc phát ra từ chiếc loa nén bằng thiếc treo trên chạc ba cây gạo cổ thụ đầu làng Yên Sa vang lên lúc sương mù còn chưa kịp tan trên mặt sông Hồng. Âm thanh mộc mạc, rè rè của chiếc loa truyền thanh vốn là chiếc đồng hồ báo thức của cả xã suốt mấy mươi năm bao cấp, nhưng sáng hôm nay, dường như màng loa rung lên những tần số gấp gáp, rạo rực khác hẳn thường nhật.
Sau ba hồi nhạc hiệu cất lên bằng tiếng kèn đồng rộn rã, giọng chú phát thanh viên xã – vốn dĩ ngày thường chỉ đều đều đọc lịch cấy lúa, trừ sâu hay thông báo danh sách chấm công điểm – bỗng trở nên sang sảng, ngân vang qua từng rặng tre, dội thẳng xuống triền cát bến Vạn Cát:
“Thông báo! Thông báo đặc biệt của Ủy ban Nhân dân và Đảng ủy xã Yên Sa! Tiếp âm công điện khẩn từ Ban Chỉ đạo kinh tế tỉnh và Huyện ủy: Thực hiện tinh thần chỉ đạo mới của Trung ương về chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, nhằm tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, khơi thông phân phối và lưu thông hàng hóa phục vụ đời sống dân sinh… Kể từ sáu giờ sáng ngày hôm nay, bãi bỏ hoàn toàn các trạm kiểm soát liên ngành nội địa trên toàn địa bàn huyện! Triệt để chấm dứt tình trạng ngăn sông cấm chợ! Cho phép nhân dân và các tổ hợp tác tự do lưu thông nông sản, thực phẩm, các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp gia đình theo đúng quy định mới…”
Từng lời, từng chữ từ chiếc loa phóng thanh như những tiếng pháo nổ giòn giã giữa bầu trời cuối đông, xé toang bức màn sương xám xịt đang giăng mắc trên bãi bồi phù sa.
Dưới mái chòi gỗ mới dựng còn thơm ngát mùi dăm bào, Nguyễn Thị Thu sững người. Bàn tay đang cầm chiếc muôi gỗ khuấy chảo mật mía hoa cau bỗng khựng lại giữa không trung. Những giọt mật vàng óng, dẻo quánh như hổ phách nhỏ tong tòng xuống đáy chảo đồng, sôi lục bục tạo nên những làn khói ngào ngạt mùi đường quyện với gừng tươi.
Thu ngẩng đầu lên, đôi mắt đen láy mở to, ngơ ngác nhìn qua làn khói mỏng manh. Cô không tin vào tai mình. Bốn năm ròng rã, từ cái ngày cha mẹ lần lượt qua đời bỏ lại cô côi cút với mái nhà tranh dột nát cùng món nợ mười lăm đồng quy thóc của hợp tác xã, bao nhiêu đêm Thu thức trắng trong nỗi sợ hãi mơ hồ. Cô sợ tiếng bước chân tuần tra gõ cùm cụp trên mặt đê, sợ ánh đèn pin loang loáng quét qua vách đất, sợ cái nhìn soi mói của những người cầm cuốn sổ bìa xanh luôn chực chờ quy chụp cho cô cái tội danh “buôn bán tư thương”, “đầu cơ tích trữ”. Mỗi củ khoét, bơ gạo, mỗi phong kẹo lạc hay vỉ bánh đa cô nướng cho khách sang sông đều phải giấu giấu giếm giếm dưới lớp rơm rạ, vừa làm vừa nơm nớp lo bị tịch thu quang gánh.
Thế mà giờ đây, chiếc loa làng đang dõng dạc tuyên bố: Dỡ bỏ ngăn sông cấm chợ! Cho phép tự do lưu thông hàng hóa!
“Anh Hùng… chú Thắng nói đúng thật rồi… Loa xã… loa xã đang đọc thật rồi anh kìa!” – Giọng Thu run rẩy, bờ môi mím chặt cố ngăn một tiếng nấc nghẹn ngào chực vỡ òa nơi cuống họng.
Bên góc chòi, Đặng Văn Hùng đang gá chiếc đục vũm vào thanh gỗ xoan để gọt nốt chiếc mộng mang cá. Nghe tiếng Thu gọi, anh buông chiếc vồ gỗ, chống chiếc gậy tre đứng thẳng người lên. Vết thương ở đầu gối trái dẫu còn nhức buốt vì hơi sương lạnh sông Hồng nhưng lưng anh đã thẳng tắp, ánh mắt thâm trầm thường ngày giờ đây lấp lánh một niềm xúc động khôn nguôi.
Anh bước lại gần bếp lò, bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của người thợ mộc nhẹ nhàng đặt lên bờ vai mảnh mai đang khẽ rung lên của Thu:
“Thật rồi, Thu ạ. Trời không phụ lòng người lương thiện đâu. Từ nay em không phải nơm nớp sợ sệt mỗi lần nhóm lửa nữa rồi.”
Lời của Hùng ấm áp như ngọn lửa than hoa đang đượm hồng dưới đáy lò. Thu quay lại nhìn anh, bắt gặp ánh mắt bao dung, vững chãi tựa vách đá chở che bão giông suốt những năm tháng qua. Chiếc lược gỗ mun anh tặng vẫn cài ngay ngắn sau búi tóc thơm hương hoa bưởi, chạm nhẹ vào làn da gáy lành lạnh, nhắc nhở cô rằng tất cả gian truân đã có người cùng gánh vác.
Đúng lúc ấy, tiếng loa truyền thanh lại đổi giọng, chuyển sang đọc quyết định kỷ luật cán bộ sau cuộc họp bất thường của Đảng ủy xã tối qua:
“…Căn cứ kết luận của Ban Thường vụ Huyện ủy và kết quả kiểm tra sai phạm tại bến đò Vạn Cát; xét tính chất lạm quyền, nhũng nhiễu nhân dân, áp đặt máy móc trái với chủ trương đổi mới của Đảng: Ban Chấp hành Đảng bộ xã Yên Sa quyết định thi hành kỷ luật với hình thức Cảnh cáo toàn Đảng bộ, bãi nhiệm chức vụ Đội phó Đội kiểm soát thị trường và Trật tự xã đối với đồng chí Lê Tiến Bền. Đồng thời, điều chuyển đồng chí Lê Tiến Bền về nhận nhiệm vụ nhân viên tạp vụ, trông coi và bốc xếp tại kho phân lân mục nát của Hợp tác xã Nông nghiệp Yên Sa kể từ ngày hôm nay!”
Tiếng loa vừa dứt, từ phía triền đê bỗng rộ lên những tiếng reo hò rầm rĩ.
Thu buông muôi gỗ, cùng Hùng bước nhanh ra mép hiên quán.
Trên mặt đê Vạn Cát – nơi suốt bao năm qua chiếc barie bằng thân tre luồng sơn vạch trắng đỏ sừng sững như một chiếc cùm vô hình chắn ngang huyết mạch giao thương – nay đang diễn ra một cảnh tượng chưa từng thấy.
Hàng chục bà con xã viên, cánh thợ đò, cùng những người buôn thúng bán mẹt từ khắp các ngả đường kéo đến đứng chật ních hai bên dốc đê. Hai anh dân quân trẻ tuổi trong bộ quần áo bạt màu cỏ úa đang hì hục dùng xà bén nạy bật hai chiếc cọc tre chôn chặt bên vệ đường.
“Một… hai… ba… Nào! Nhấc bổng nó lên!”
Theo tiếng hô vang rền của bác Thược thợ rèn, chiếc thanh chắn barie từng là nỗi kinh hoàng của bao người nghèo khó bị nhấc bổng khỏi ổ ngàm sắt, quẳng mạnh xuống mé sườn đê, lăn lông lốc vào bụi cỏ may.
“Hoan hô! Tháo dỡ rồi! Thông đường rồi bà con ơi!”
Tiếng vỗ tay, tiếng reo hò vỡ òa, hòa cùng tiếng chuông xe đạp lách cách giòn giã. Những người mẹ gánh đôi sọt sắn củ, những bác nông dân dắt chiếc xe đạp thồ chất đầy bao ngô hạt, những bà cụ lưng còng quẩy đôi bồ đựng đầy bưởi đào… tất cả ùa qua mặt đê mà không còn phải dừng lại nín thở chìa giấy đi đường, không còn phải run rẩy chờ đợi những bàn tay hách dịch thọc sâu vào thúng mủng để săm soi, hạch sách.
Trên bến sông, bà cụ Vấn đứng sừng sững ở mũi con đò gỗ. Gió sông sớm thổi tung dải yếm lụa sồi và mái tóc bạc phơ búi củ hành của bà. Cụ nhai trầu bỏm bẻm, vung chiếc sào tre gõ mạnh xuống mạn thuyền “cắc… cắc” ba tiếng giòn tan, cất giọng cười ha hả làm rung cả khúc sông:
“Rõ thật là trời có mắt! Bẻ gãy cái que chắn đường ấy đi cho dân làng người ta nhờ! Mấy năm trời sống mà nghẹn ứ nơi cổ họng, nay mới được hít một hơi thở dài thấu phổi!”
Cụ quay ngoắt lại nhìn về phía chòi quán của Thu, vẫy vẫy chiếc sào tre:
“Con Thu ơi! Thằng Hùng ơi! Nhóm lò lên! Nấu cho bà một ấm đó chè thật đậm, nướng dăm ba cái bánh đa vừng cho thơm lừng bến sông lên xem nào! Hôm nay sông Hồng mở cửa, đón lộc đón tài về bến làng ta rồi!”
“Vâng ạ! Cháu làm ngay đây bà ơi!” – Thu cất tiếng đáp lời, giọng cô trong trẻo ngân vang giữa gió sớm.
Chưa bao giờ bến đò Vạn Cát lại bừng bừng một sức sống mãnh liệt đến thế. Dòng người từ các xã miền thượng huyện Ba Vì, từ mạn Vĩnh Phú xuôi bè gỗ nứa, từ mạn Phú Xuyên, Thường Tín gánh hàng đan lát nườm nượp đổ về bến đò để chuẩn bị sang sông đi chợ phiên Huyện Đông. Lệnh cấm vừa dỡ, hàng hóa như dòng nước lũ bị nghẽn mạch bao năm nay bất ngờ được khơi thông, tuôn trào cuồn cuộn.
Chỉ trong chốc lát, quán nước nhỏ của Thu đã đông nghẹt người. Chiếc lán gỗ do bàn tay khéo léo của Hùng dựng lên với những cây cột xoan ngâm chắc nịch, mái lợp rạ dày ba lớp ấm sực bỗng chốc trở thành trạm dừng chân lý tưởng. Mười chiếc ghế con bằng gỗ xoan ghép mộng mang cá nhẵn thín không còn một chỗ trống. Những người khách lỡ bước, những bác lái buôn gánh gồng nặng nhọc bước vào quán, đặt đôi quang gánh xuống nền cát sạch bong, thở phào nhẹ nhõm.
Đặng Thị Thắm – cô em gái nhanh nhảu của Hùng – từ sáng sớm đã chạy thoăn thoắt từ xóm trong ra phụ chị dâu tương lai. Đôi má bánh mật của cô gái mười chín tuổi ửng hồng lên vì hơi ấm của bếp than và niềm vui rạng rỡ.
“Các bác, các chú ngồi dịch vào đây cho ấm lưng!” – Thắm đon đả bưng chiếc khay gỗ đựng những bát nước chè xanh mộc mạc, khói bốc nghi ngút – “Chè xanh búp tươi đồi đá Yên Sa chúng cháu hãm bằng nước giếng khơi đấy ạ, có thêm nhánh gừng nướng đập dập, uống vào ấm sực cả ruột gan!”
“Khéo quá! Nước chè xanh ngắt, sóng sánh như mắt người tình thế này thì trôi hết cả rét mướt!” – Một bác lái buôn chở đồ gốm từ mạn sông Lô xuôi về cười ha hả, bưng bát chè tươi thổi phù phù rồi nhấp một ngụm lớn, gật gù tán thưởng – “Mấy tháng trước tôi qua đò, đi qua đây như đi ăn trộm, giấu giấu giếm giếm bọc hàng dưới đáy thuyền, chỉ sợ bị mấy ông trật tự xích lại. Nay ngồi giữa thanh thiên bạch nhật, đường hoàng uống bát chè của cô em, mới thấy cuộc đời này đáng sống biết bao!”
Phía bên lò nướng bánh, đôi bàn tay của Thu thoăn thoắt lật vỉ nướng sắt rèn. Chiếc lò nướng đối lưu cải tiến của Hùng phát huy công năng tuyệt vời. Nhờ cơ cấu quạt gió đạp chân tận dụng từ líp xe đạp cũ do bác Thược thợ rèn gia công, ngọn lửa than hoa bén mùn cưa và trấu ủ cháy đượm hồng, tỏa nhiệt đều tắp từ bốn phía chứ không bùng lên làm cháy sém bánh như kiểu quạt nan thủ công ngày trước.
Thu đặt chiếc bánh đa pha chút bột sắn và bột gấc đỏ au rắc kín vừng đen lên vỉ sắt. Chiếc bàn đạp chân kêu lách cách êm ru, làn hơi nóng đối lưu luồn qua khe sắt làm chiếc bánh đa nở bung, phồng rộp đều tăm tắp. Mùi thơm ngầy ngậy của hạt gạo mới quyện chặt với vị béo bùi của vừng đen, vị cay dịu của gừng già và hương khói than hoa nồng nàn bốc lên ngùn ngụt, lan tỏa theo ngọn gió sông, quyến rũ bất kỳ ai vừa đặt chân xuống dốc bến.
“Rôm rốp!”
Bác lái buôn bẻ đôi chiếc bánh đa nướng giòn tan, đưa vào miệng cắn một miếng. Tiếng giòn rụm vang lên vui tai.
“Trời đất ơi, bánh đa ở đâu mà giòn xốp, thơm bùi thế này hả cô hàng? Bột gạo mịn thưng, không hề bị sượng, vừng thì thơm nức nở! Bán cho tôi hai chục cái mang về mạn xuôi làm quà cho sắp nhỏ!”
“Dạ, cháu gói lá chuối khô buộc lạt giang cho bác ngay đây ạ!” – Thu tươi cười đáp lời. Đôi mắt cô ánh lên niềm hạnh phúc rạng ngời.
Bên cạnh lò nướng, chiếc chảo đồng nấu kẹo lạc cũng đã đến độ tới đường. Hùng đứng bên cạnh đỡ tay cho Thu. Anh dùng đôi đũa cả to bản nhấc một giọt mật mía thả vào bát nước lạnh; giọt mật co tròn lại thành viên bi nhỏ, cứng cáp mà không vỡ vụn.
“Mật tới rồi đấy em, đổ lạc vào thôi!” – Hùng khẽ bảo, giọng trầm ấm.
Thu nhanh nhẹn trút nia lạc sẻ đã rang chín vàng, sảy sạch vỏ lụa và một bát vừng trắng rang thơm vào chảo mật. Đôi bàn tay dẻo dai của cô gái quê đảo thoăn thoắt. Tiếng lạc quyện vào mật mía xèo xèo, quánh đặc lại thành một khối vàng óng ả như hổ phách lấp lánh. Hùng nhanh chóng nhấc chảo đồng trút khối kẹo nóng hổi lên chiếc khuôn gỗ thị do chính tay anh đục đẽo phẳng phiu, rắc một lớp bột nếp rang chống dính rồi dùng con lăn gỗ nghiến cán đều tăm tắp.
“Xoẹt… xoẹt…”
Lưỡi dao thép mỏng sắc lẹm của bác Thược rèn lướt ngọt lịm trên mặt kẹo. Từng thanh kẹo lạc vuông vức, đều như bắp ngô hiện ra, phô diễn những hạt lạc mẩy căng bóng bọc trong lớp mật mía hoa cau trong suốt.Khách uống chè xanh, cắn miếng kẹo lạc giòn tan, vị ngọt thanh của mật mía đọng lại nơi đầu lưỡi hòa cùng vị bùi béo của lạc rang và cay nồng ấm sực của gừng tươi. Người mua năm chiếc bánh, kẻ mua chục thanh kẹo lạc gói giấy bản bọc ngoài. Tiền lẻ bằng giấy bạc mới tinh hay những ống bơ ngô, nải chuối tiêu trứng cuốc đổi lấy bánh kẹo chất đầy cả chiếc sọt tre dưới chân bàn. Thu làm việc không ngơi nghỉ, trán lấm tấm mồ hôi giữa cái rét căm căm của tiết đông, nhưng trong lòng cô, một ngọn lửa ấm áp chưa từng có đang bừng cháy.
Không còn phải lén lút giấu chiếc cân đòn sau bờ rào dâm bụt. Không còn phải vừa quạt bánh vừa ngoái đầu nhìn trước ngó sau canh chừng bóng áo dạ của đội kiểm soát. Sự tự do lao động bằng chính mồ hôi, nước mắt và bàn tay lương thiện bỗng chốc mang lại cho con người ta một tư thế đàng hoàng, kiêu hãnh đến lạ kỳ.
Đang lúc quán nước nhộn nhịp tiếng cười đùa nói năng rôm rả, thì từ phía triền đê, tiếng nổ lẹt xẹt của hai chiếc xe máy Simson màu xanh đu đủ và chiếc Babetta đỏ vang lên, phả khói mù mịt.
Đoàn người dừng xe trên đỉnh dốc bến đò rồi thong thả rảo bước đi xuống. Dẫn đầu đoàn là ông Trần Khang – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Yên Sa, theo sau là hai cán bộ trung niên mặc âu phục đại cán màu cỏ úa cài kín cổ, tay xách cặp da nâu bóng loáng, trên ngực áo có cài huy hiệu của Phòng Công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp huyện.
Bà con trong quán thấy cán bộ huyện về thì bất giác hơi khựng lại, tiếng nói cười chùng xuống đôi chút theo quán tính của nếp nghĩ sợ sệt bao cấp bấy lâu. Nhưng Chủ tịch Khang đã tươi cười xua tay, bước nhanh vào dưới mái chòi gỗ:
“Bà con cứ tự nhiên uống nước, ăn bánh đi ạ! Hôm nay tôi cùng các đồng chí cán bộ Phòng Công nghiệp huyện về đây là có việc mừng cho bến đò chúng ta!”
Chủ tịch Khang quay sang nhìn Thu và Hùng. Ánh mắt người cán bộ xã từng trải ánh lên vẻ hài lòng sâu sắc khi nhìn ngắm chiếc chòi gỗ khang trang, chiếc lò nướng bánh cải tiến đang quay êm ru và những khay kẹo lạc vàng óng xếp ngay ngắn, ngăn nắp.
“Đồng chí Hùng, cô Thu!” – Chủ tịch Khang cất giọng trang trọng – “Đây là đồng chí Nguyễn Văn Vĩnh, Trưởng phòng Công nghiệp huyện Đông. Sau khi nghe xã báo cáo về mô hình lò nướng bánh cải tiến và trạm dịch vụ dân sinh bến Vạn Cát trong cuộc họp khẩn tối qua, Huyện ủy và Ủy ban huyện đã cử đoàn công tác về tận nơi khảo sát thực tế ngay sáng nay.”
Đồng chí Trưởng phòng Công nghiệp huyện bước lên một bước, tháo cặp kính lão xuống, chăm chú quan sát chiếc lò nướng bánh đa đối lưu của Hùng. Ông cúi người xuống, dùng tay xoay thử chiếc bàn đạp líp xe đạp, lắng nghe tiếng quạt gió rít êm tai và quan sát luồng nhiệt phân bổ đều quanh vỉ nướng.
“Sáng tạo lắm! Rất thông minh và thực tế!” – Đồng chí Vĩnh trầm trồ thốt lên, vỗ mạnh vào bờ vai vạm vỡ của Hùng – “Chỉ từ sắt vụn, khung xe đạp hỏng và mùn cưa trấu thải mà anh thương binh này đã chế tạo ra một hệ thống đối lưu nhiệt hoàn chỉnh, vừa tiết kiệm chất đốt, vừa nâng cao năng suất gấp ba, gấp bốn lần chiếc lò thủ công cũ! Đây chính là tinh thần tự lực cánh sinh, là cái mà Đại hội sắp tới đang khuyến khích mạnh mẽ!”
Đồng chí Vĩnh quay sang nhìn Thu, người con gái mồ côi với đôi bàn tay còn vương chút bột nếp trắng mịn và đôi mắt long lanh đầy vẻ bỡ ngỡ:
“Còn đây là cháu Thu, người giữ gìn hương vị kẹo lạc mật mía truyền thống đúng không? Bác đã ăn thử kẹo của cháu do chú Khang mang lên huyện chiều qua. Rất ngon, giòn, thanh mà không khé cổ. Một sản vật dân gian quý giá như thế này mà bao năm qua bị gò bó, bị xem là buôn lậu lén lút thì thật là đau xót và lãng phí!”
Nói rồi, đồng chí Trưởng phòng Công nghiệp mở chiếc cặp da nâu, cẩn trọng rút ra một tập hồ sơ có đóng dấu đỏ chót của Ủy ban Nhân dân huyện Đông. Ông hắng giọng, dõng dạc tuyên đọc trước sự chứng kiến của đông đảo bà con xã viên và khách qua đò bến Vạn Cát:
“Ủy ban Nhân dân huyện Đông quyết định: Công nhận Cơ sở Bánh kẹo truyền thống Nguyễn Thị Thu và Xưởng mộc dân dụng Đặng Văn Hùng tại bến đò Vạn Cát, xã Yên Sa là: Mô hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ dân sinh thí điểm đầu tiên của huyện!
Kể từ ngày ký, cơ sở được phép: Thứ nhất: Đăng ký kinh doanh hợp pháp, được lưu thông hàng hóa tự do trên toàn địa bàn huyện và các vùng phụ cận. Thứ hai: Được Ủy ban xã và Phòng Công nghiệp huyện hỗ trợ tiếp cận nguồn nguyên liệu mật mía, bột gạo theo giá phân phối khuyến khích, đồng thời xưởng mộc được cấp hạn ngạch khai thác gỗ vườn và tre luồng đúng quy định. Thứ ba: Miễn toàn bộ các khoản đóng góp lưu thông và thuế doanh thu trong vòng hai năm đầu tiên để tập trung mở rộng sản xuất, giải quyết công ăn việc làm cho lao động địa phương và thương bệnh binh!”
Lời vừa dứt, đồng chí Vĩnh trân trọng trao tờ quyết định còn thơm mùi mực in vào tận tay Thu.
Thu đỡ lấy tờ giấy bằng cả hai bàn tay run rẩy. Những dòng chữ đánh máy ngay ngắn, con dấu tròn đỏ thắm của huyện như một tấm bùa hộ mệnh bằng vàng ròng, xua tan đi tất cả những bóng ma u tối, tủi nhục mà cô đã phải gánh chịu suốt bao năm tháng qua. Nước mắt cô trào ra, rớt xuống mặt giấy bóng loáng. Bốn năm trời chắt chiu từng cọng rơm, ngọn củi, bốn năm nuốt nước mắt vào trong trước những lời dèm pha độc địa, cuối cùng danh dự của cô, hương vị kẹo mộc của mẹ cô để lại đã được xã hội trân trọng công nhận.
“Cháu… cháu cảm ơn các bác… cảm ơn chính quyền xã…” – Thu nghẹn ngào, không thốt nên lời trọn vẹn.
Hùng đứng bên cạnh, bàn tay anh siết chặt lấy bàn tay nhỏ bé của Thu. Anh nhìn Chủ tịch Khang và các cán bộ huyện, khẽ nghiêng mình cúi đầu, ánh mắt ánh lên niềm kiêu hãnh của một người lính đã chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải:
“Cảm ơn các đồng chí lãnh đạo đã thấu hiểu nỗi lòng của người lao động. Chúng tôi hứa sẽ đem hết sức mình, đem nghề mộc và nghề bánh kẹo này làm rạng danh cho mảnh đất Yên Sa!”
“Bốp! Bốp! Bốp!”
Tiếng vỗ tay vang dội như sấm dậy rền vang cả một khúc sông. Cụ Vấn cười rạng rỡ, hàm răng đen nhánh hạt huyền lấp lánh dưới nắng sớm. Bác Thược thợ rèn huých cùi chỏ vào mạn sườn anh dân quân đứng cạnh, cười sảng khoái:
“Thấy chưa tao đã bảo mà! Vàng mười thì không sợ lửa! Thằng Hùng với con Thu từ nay ngẩng cao đầu mà làm ăn, đứa nào dám mở mồm bảo chúng nó tư thương buôn lậu nữa thì bước qua cây búa rèn của tao!”
Bà con xóm bãi ùa vào chúc mừng. Thắm nhanh nhảu bưng từng đĩa kẹo lạc mới cắt, từng mẩu bánh đa giòn tan mời các cán bộ huyện và xã. Không khí trang nghiêm ban đầu nhanh chóng tan biến, nhường chỗ cho một bữa tiệc trà mộc mạc, chan chứa ân tình xóm giềng thời mở cửa. Mùi chè xanh thơm ngát, vị kẹo ngọt bùi và tiếng cười nói rộn rã hòa quyện vào nhau, vẽ nên một bức tranh làng quê tràn trề nhựa sống.
Gần trưa, đoàn cán bộ huyện và xã từ biệt bến đò trong sự bịn rịn của dân làng. Những chiếc xe máy lại nổ máy giòn giã, leo ngược lên con dốc đê thênh thang không còn bóng dáng thanh barie ngăn trở.
Khách qua đò cũng vơi dần khi con đò đầy ắp chuyến trưa của cụ Vấn từ từ tách bến, rẽ sóng phù sa sang bờ tả ngạn. Dòng sông Hồng lúc này phẳng lặng như một dải lụa đào khổng lồ, phản chiếu ánh nắng hanh vàng rực rỡ của những ngày giáp Tết.
Dưới mái chòi, chỉ còn lại Thu và Hùng. Thắm đã chạy về nhà chuẩn bị cơm trưa cho ông Quỳ.
Gian quán trở nên tĩnh lặng, một sự tĩnh lặng thanh thản và bình yên đến lạ lùng. Khói từ bếp trấu vẫn nhè nhẹ tỏa ra mùi hương ấm nồng, thân thuộc. Thu đứng nép bên chiếc cột gỗ xoan nhẵn bóng, nhìn tờ quyết định lồng trong khung kính con mà anh Hùng vừa cẩn thận treo ngay ngắn lên vách quán, cạnh chiếc ấm tích bọc trong giành mây ủ ấm.
Cô đưa tay lên sờ nhẹ vào chiếc lược gỗ mun cài trên mái tóc mình. Bốn năm trước, nơi bến sông hoang vắng này, cô đã trao cho người thương binh tuyệt vọng một bát nước chè gừng nóng hổi để níu giữ anh lại với cuộc đời. Và bốn năm sau, chính người đàn ông ấy đã đứng trước mũi dùi dư luận, chở che cho cô, mang lại cho cô một mái ấm vững chãi, một danh phận đàng hoàng giữa cuộc đời.
Hùng bước lại gần, đứng sát bên Thu. Anh không nói gì, chỉ lặng lẽ ngắm nhìn gương mặt thanh tú, ửng hồng vì lửa bếp của cô. Gió sông thổi lùa qua kẽ lá, mang theo hương phù sa nồng nàn và hơi thở ấm áp của mùa xuân đang về rất gần.
“Mệt không em?” – Hùng khẽ hỏi, giọng anh trầm ấm, dịu dàng như dòng nước êm trôi.
Thu mỉm cười, lắc đầu. Đôi mắt cô long lanh:
“Em không mệt. Em thấy lòng mình nhẹ bẫng như cánh chim sẻ bay qua sông ấy anh ạ. Cứ ngỡ như một giấc mơ…”
“Không phải mơ đâu. Mồ hôi, nước mắt của em, và cả nghĩa tình của bà con làng xóm bồi đắp nên đấy.” – Hùng nắm lấy những ngón tay thon nhỏ của cô, những ngón tay từng phỏng rộp vì quạt than nướng bánh, siết nhẹ – “Từ nay, xưởng mộc của anh và quán bánh của em sẽ cùng đỏ lửa. Chúng mình sẽ làm lại từ đầu, đàng hoàng và tươi sáng.”
Bốn mắt nhìn nhau đong đầy tình cảm. Giữa đất trời bao la của triền đê Yên Sa, hai tâm hồn từng chịu nhiều thương tổn của chiến tranh và nghèo đói nay đã tìm thấy một bến đỗ bình yên, kiên định tựa rễ cây đa bám sâu vào lòng đất mẹ.
Thế nhưng, đúng vào khoảnh khắc thanh bình và ngọt ngào ấy, từ phía đỉnh đê Vạn Cát – nơi chiếc barie vừa bị nhổ bật sáng nay – bỗng xuất hiện một bóng người.
Người đàn ông ấy bước đi lảo đảo, xiêu vẹo như một kẻ mất hồn. Gã mặc chiếc áo dạ màu cứt ngựa cũ mèm, quen thuộc, nhưng một bên vai áo đã rách toạc, để lộ lớp bông xơ xác lòi ra ngoài. Chiếc mũ cối thường ngày gã đội ngay ngắn, hách dịch nay đã biến mất, mái tóc bù xù bết dính bụi đường xơ xác. Đôi dép cao su mòn vẹt kéo lê từng bước nặng nề trên mặt cát phù sa, phát ra những tiếng sột soạt ghê người.
Đó chính là Lê Tiến Bền.
Cựu Đội phó kiểm soát từng một thời thét ra lửa mắng ra khói, người vừa nhận quyết định kỷ luật bãi chức và bị đẩy về làm tạp vụ ở kho phân lân hoang phế, đang lầm lũi bước xuống dốc bến đò.
Hai tay gã buông thõng bên hông, thân hình gầy quắt như một cành củi khô cong queo trước gió. Gã không cầm theo cuốn sổ bìa xanh, cũng chẳng mang theo chiếc gậy tre săm hàng quen thuộc. Nhưng điều khiến người ta lạnh gáy chính là khuôn mặt gã: trắng bệch, hốc hác, đôi gò má nhô cao và đôi mắt lươn ngày nào giờ đục ngầu, dại dại, vô hồn như người chết trôi.
Gã không nhìn dòng sông Hồng mênh mông lấp lánh nắng trưa, cũng chẳng thèm ngó ngàng đến những chiếc thuyền bè tấp nập qua lại. Đôi mắt đục ngầu ấy chỉ găm thẳng vào tấm biển gỗ của quán nước bên bến đò, găm thẳng vào đôi trẻ đang đứng bên hiên quán.
Từng bước, từng bước một, chiếc bóng đen đủi, tàn tạ của người đàn ông thất thế lầm lũi tiến thẳng về phía chòi quán gỗ của Thu và Hùng, mang theo một luồng tử khí u ám, lạnh lẽo đến nghẹt thở giữa buổi trưa mùa đông vừa hửng nắng.