Gió bấc cuối năm thổi ràn rạt qua những rặng tre ngà bao bọc quanh làng Yên Sa, mang theo cái rét thấu xương thấu tủy từ lòng sông Hồng thốc thẳng vào từng ngõ ngách. Nhưng vừa bước qua ngưỡng cửa tam quan bằng đá ong rêu phong của đình làng, Nguyễn Thị Thu đã cảm thấy một luồng nhiệt ngột ngạt, bức bối ùa tới, tước đi bầu không khí khoáng đạt quen thuộc nơi bãi bồi ven sông.
Sân đình rộng thênh thang lát gạch Bát Tràng mòn vẹt đêm nay không còn lấy một chỗ trống. Hàng trăm xã viên của bốn đội sản xuất ngồi chen chúc nhau trên những chiếc chiếu cói rách tả tơi, trên những khúc gỗ xoan vụn kê tạm, hay đứng ken đặc dưới bóng những hàng cột lim đen bóng trầm mặc của gian tiền tế. Phía trên cao, hai chiếc đèn măng-sông của ban quản trị hợp tác xã được treo vào xà đình, tỏa ra thứ ánh sáng trắng gắt gỏng, bỏng rát, rọi rõ từng sợi khói thuốc lào Tiên Lãng đang cuộn lên đặc quánh giữa không gian. Mùi khói rơm rạ bám trên vạt áo tơi cọ xơ xác, mùi bùn non ngai ngái từ những bàn chân nứt nẻ đóng phèn chưa kịp rửa sạch sau buổi cấy muộn, hòa cùng mùi mồ hôi chua nồng tạo nên một thứ áp lực vô hình, nặng trĩu đè lên lồng ngực từng người.
Bàn chủ tọa kê trang trọng trên bậc thềm gian tiền tế, trải tấm vải dù màu đỏ đã bạc phếch góc viền. Chiếc micro kim loại màu xám đục của Liên Xô đặt chính giữa chiếc bàn gỗ, thỉnh thoảng lại rú lên từng tràng the thé qua dàn loa nén nứt màng treo vắt vẻo trên ngọn cây đa cổ thụ góc sân.
Thu siết chặt quai chiếc túi vải thô bên hông. Bên trong lớp vải bao tải sờn rách ấy là hàng chục mẩu giấy xi măng, giấy bao thuốc lá gom góp ân tình của những người khốn khó qua bến đò. Hơi ấm từ bàn tay to bản, thô ráp đầy vết chai sần của Đặng Văn Hùng dường như vẫn còn vương trên những ngón tay cô, dù khi vừa bước qua bậc ngưỡng đá tam quan, anh đã khẽ buông tay để giữ gìn phẩm giá cho cô trước những con mắt dòm ngó của làng trên xóm dưới. Thu khẽ đưa tay chạm nhẹ ra sau gáy; chiếc lược gỗ mun Hùng trao ban chiều vẫn nằm ngay ngắn, kín đáo cài chặt lấy búi tóc dài thoang thoảng hương bưởi của cô. Sự hiện diện trầm lặng của kỷ vật ấy như một chiếc mỏ neo vô hình, giữ cho tâm can người con gái mồ côi không bị làn sóng âu lo cuốn phăng đi.
“Kìa, cô Thu với anh Hùng xóm Mộc đến rồi đấy!”
“Chết nỗi, trông cái mặt thằng Bền hằm hằm thế kia, phen này dữ nhiều lành ít rồi...”
“Thì người ta bán bát nước chè, cái kẹo lạc ấm bụng người qua đò nhỡ bước, có cướp bóc của ai đâu mà đem ra sân đình bêu rếu cơ chứ?”
Tiếng xì xào bàn tán của các bà, các chị xóm Nông râm ran như đàn ong vỡ tổ. Hàng trăm cặp mắt dồn cả về phía hai bóng người vừa bước vào mép sân gạch. Thu nhận ra những ánh nhìn thương cảm, xót xa của những thợ đò quen mặt hay sang sông; có cả cái nhìn e dè, cúi gằm của những xã viên sợ vạ lây; và cũng không thiếu những ánh mắt săm soi, lạnh tanh của vài ba kẻ vốn quen thói ghen ăn tức ở nơi giếng nước gốc đa.
Dưới góc tối của hàng hiên tả vu, mắt Thu bỗng thắt lại khi thoáng thấy bóng dáng còng còng của ông Đặng Văn Quỳ. Người nghệ nhân mộc cả đời nhẫn nhục, cam chịu đang ngồi co ro bên chiếc điếu cày bằng nứa tép, hai bàn tay gân guốc bấu chặt vào đầu gối, ánh mắt trĩu nặng âu lo không dám ngước lên nhìn con trai. Ngay cạnh ông, Đặng Thị Thắm cắn chặt môi đến ứa máu, hai bàn tay nhỏ bé nắm chặt vạt áo nâu bạc màu, ngực phập phồng như thể chỉ chực lao ra sống chết nếu có kẻ nào dám làm nhục anh trai mình.
“Tất cả trật tự! Ổn định chỗ ngồi để ban quản trị làm việc!”
Tiếng gõ mặt bàn cồm cộp vang lên khô khốc. Lê Tiến Bền từ hàng ghế thứ hai đứng phắt dậy. Hắn mặc chiếc áo dạ sĩ quan cũ cài kín cúc tới tận cổ họng, nách cắp cuốn sổ kiểm tra bìa xanh đã sờn mép vẹt góc. Dưới ánh sáng trắng lạnh lẽo của đèn măng-sông, khuôn mặt gầy quắt của Bền bóng nhẫy mồ hôi dù ngoài trời gió bấc đang thổi từng cơn buốt óc. Cặp mắt lươn ti hí của hắn đảo một vòng qua đám đông, dừng lại thật lâu trên dáng người mảnh mai của Thu với một vẻ đắc thắng hiểm độc không thèm che giấu.
Bền bước lên bục thềm tiền tế, giật lấy chiếc micro kim loại, ho khan một tiếng nghe rột rẹt chói tai:
“Kính thưa các đồng chí trong Ban quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp Yên Sa! Thưa toàn thể bà con xã viên! Hôm nay, được sự ủy nhiệm của Ban kiểm soát liên ngành và thường trực hợp tác xã, chúng tôi triệu tập cuộc họp toàn thể khẩn cấp đêm nay để giải quyết dứt điểm một vấn đề nhức nhối, một tiền lệ xấu đang làm xói mòn trật tự kỷ cương kinh tế tập thể của làng ta suốt mấy năm qua!”
Hắn dừng lại nửa nhịp, ngón tay trỏ khẳng khiu như cành củi khô chĩa thẳng về phía Thu đang đứng nép bên mép sân gạch:
“Người đó không ai khác, chính là xã viên Nguyễn Thị Thu, thuộc xóm Nông!”
Cả sân đình bỗng chốc im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió đông rít qua kẽ lá đa xào xạc trên mái ngói võng lưng lừa. Thu cảm thấy từng sợi tóc gáy mình dựng đứng, sống lưng lạnh buốt như có dòng nước đá chảy qua. Nhưng cô không hề lùi bước. Thu hít một hơi thật sâu, ngẩng cao đầu, đôi mắt đen láy nhìn thẳng vào bộ mặt hếch lên đầy vẻ hống hách quan cách của Bền.
Bền mở cuốn sổ bìa xanh, lật giở từng trang nghe ràn rạt rồi cất giọng the thé, cao giọng đọc:
“Nguyễn Thị Thu, con gái của cố xã viên Nguyễn Văn Mộc. Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của hợp tác xã trong thời kỳ chuyển đổi giá lương tiền, lợi dụng địa bàn bến đò Vạn Cát xa xôi hẻo lánh, Thu đã tự ý dựng lán trại, nhóm lò nướng bánh, nấu kẹo, mở tụ điểm buôn bán tự do! Đây là hành vi mang tính chất tư thương rõ rệt, thu gom nông sản, đường mật, gạo nếp trôi nổi ngoài luồng, phá hoại kế hoạch thu mua nông sản của Nhà nước! Chưa hết, Thu còn dùng hình thức đổi chác hàng hóa tùy tiện, phá hoại sự ổn định của đồng tiền mới, dung dưỡng cho các phần tử buôn lậu vượt sông!”
Những danh từ đao to búa lớn tuôn ra xối xả từ miệng Bền như những hòn đá ném thẳng vào người cô gái mồ côi. Hắn đắc chí nhấn mạnh từng chữ:
“Đặc biệt, xã viên Thu hiện vẫn còn nợ hợp tác xã mười lăm đồng quy thóc tiền vay cứu tế tang ma từ những năm trước chưa hoàn trả. Nợ công chưa trả, công điểm mùa vụ không chịu tham gia đầy đủ, lại ngang nhiên chiếm dụng đất hành lang đê điều để tích tụ tư bản nhỏ! Nếu người nào trong làng Yên Sa cũng học theo Thu, bỏ ruộng đồng ra dựng quán bán chè, thì lấy ai cấy lúa? Lấy ai nộp thuế nông nghiệp cho Nhà nước? Đây là mầm mống phá hoại trật tự kinh tế tập thể cần phải nhổ tận gốc!”
Tiếng xì xào lại rộ lên khắp sân đình, lần này mang theo sự hoang mang, sợ hãi rõ rệt. Giữa thời buổi ngặt nghèo này, những cái nhãn “tư thương”, “đầu cơ tích trữ”, “phá hoại tập thể” nặng tựa ngàn cân, có thể đè bẹp số phận của một con người, tước đi quyền cấy dảnh mạ hay tước mất cuốn sổ mua gạo mậu dịch của cả một gia đình. Vài ông cán bộ đội sản xuất bắt đầu gật gù, ánh mắt nhìn Thu chuyển sang e dè, lạnh nhạt.
Thu nhìn cuốn sổ bìa xanh của Bền – cuốn sổ chỉ toàn những điều luật khô cứng bị bẻ cong để phục vụ cho sự đố kỵ và toan tính hẹp hòi. Nỗi sợ hãi ban đầu bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho một ngọn lửa uất nghẹn nhưng tỉnh táo bùng lên trong lồng ngực. Cô hiểu rằng, nếu đêm nay cô tiếp tục cúi đầu cam chịu như bao năm qua, thì không chỉ chiếc lán nhỏ bên bến sông bị san phẳng, mà danh dự của cha mẹ đã khuất, sự lương thiện của bản thân và cả tấm chân tình của những người đã cưu mang cô cũng sẽ bị vùi dập không thương tiếc.
Không đợi Hùng kịp bước lên, Thu đã dứt khoát tách khỏi bóng tối mép sân đình. Cô sải bước đi thẳng về phía chiếc bàn chủ tọa rực sáng dưới ánh đèn măng-sông.
“Khoan đã, đồng chí Lê Tiến Bền!”
Tiếng nói của Thu cất lên. Giọng cô không the thé như tiếng micro của Bền, cũng không trầm đục như tiếng sấm rền, mà trong trẻo, đĩnh đạc và rành rọt lạ thường, vang thấu qua từng hàng cột lim, dội thẳng vào tai hàng trăm con người đang nín thở dõi theo.
Lê Tiến Bền sững sờ, chiếc micro trên tay hắn khẽ run lên một nhịp. Hắn không ngờ một đứa con gái mồ côi cả đời chỉ biết cắm mặt vào ruộng bùn và tro trấu lại dám cất tiếng ngắt lời hắn giữa chốn đình trung nghiêm cẩn này.
Thu đứng thẳng người trước bậc thềm đá xanh, đối diện trực tiếp với Bền và Ban quản trị hợp tác xã. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô nhanh nhẹn tháo chiếc túi vải thô đeo bên hông xuống. Cô mở nút dây rút, rút ra một tập giấy dày cộm, mép giấy đã sờn rách vì mưa nắng gió sông.
Thu giơ cao tập giấy ấy lên giữa quầng sáng trắng gắt của ngọn đèn măng-sông:
“Thưa các đồng chí trong Ban quản trị! Thưa toàn thể bà con cô bác làng Yên Sa! Đồng chí Bền vừa đọc cuốn sổ bìa xanh của đồng chí ấy để kết tội tôi là con buôn tư thương, là đầu cơ tích trữ, là phá hoại tập thể! Nhưng tôi xin hỏi đồng chí Bền, cuốn sổ kiểm tra của đồng chí có ghi lại được những thứ nằm trong tập giấy này của tôi hay không?”
Cả sân đình xôn xao. Bác Thược thợ rèn đứng thẳng dậy rướn cổ nhìn. Hàng trăm ánh mắt đổ dồn vào những mẩu giấy đủ hình thù trong tay Thu.
“Đây không phải là hóa đơn mậu dịch quốc doanh,” giọng Thu vang lên nghẹn ngào nhưng đanh chắc, “đây là những mảnh giấy xi măng, những mẩu vỏ bao thuốc lá, những mảnh giấy gói hàng vàng ố mà bà con nghèo xóm bến, xóm Nông đã gửi lại cho tôi suốt đợt bão giá đổi tiền vừa qua!”
Thu rút ra mẩu giấy đầu tiên, đưa thẳng về phía chiếc micro:
“Đồng chí Bền bảo tôi đổi chác hàng hóa là phá hoại đồng tiền mới? Xin Ban quản trị nghe cho rõ: Đây là mẩu giấy của bác Tám xóm chài Vạn Cát! Đêm mười hai tháng Chạp, trời rét căm căm mười độ, con bác Tám lên cơn sốt co giật, trong nhà không còn một hạt gạo, đồng tiền mới đổi chưa kịp đến tay. Bác Tám gánh một gánh củi khô gom trên bãi sông sang chòi của tôi, đổi lấy mười chiếc bánh đa và hai phong kẹo lạc dằn bụng cho bốn đứa con đang đói lả. Tôi nhận gánh củi ấy để đun nước chè, nhường thức ăn cho gia đình bác ấy! Đó là buôn lậu hay là chia ngọt sẻ bùi lúc ngặt nghèo?”
Thu lại rút ra một mảnh giấy xi măng thứ hai, nét chữ nguệch ngoạc bằng bút chì gãy ngòi:
“Còn đây là giấy của chị Mận đội 3! Giáp hạt tháng Mười, chị vừa sinh con nhỏ, chồng đi dân công hỏa tuyến chưa về, cả nhà đứt bữa hai ngày. Chị mang rổ sắn luộc sang quán nước, tôi gửi chị ba mươi chiếc bánh đa đem về nuôi con, không tính thêm một đồng tiền lãi! Các bác thợ cày, các chị cấy lúa cả đời một nắng hai sương ở đây, có ai chưa từng một lần rét cóng chân tay, ghé vào chòi nước của tôi xin hớp chè gừng nóng, xin củ khoai lùi để lấy sức cày tiếp mẫu ruộng khoán cho hợp tác xã? Nếu việc nhường nhau miếng ăn, bát nước nóng để cùng nhau sống sót qua cái đói giáp hạt, qua đợt bão giá khốn khó này bị coi là tội lỗi, bị coi là tư thương phá hoại, thì tôi xin hỏi đồng chí Bền: Tình làng nghĩa xóm của đất Yên Sa này vứt đi đâu rồi?!”
Lời chất vấn mộc mạc mà đanh thép của Thu như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt kẻ hống hách.
Dưới sân đình, sự im lặng chết chóc bỗng vỡ òa thành những tiếng xì xào phẫn nộ hướng về phía chiếc bàn chủ tọa:
“Đúng đấy! Cô Thu nói không sai một chữ nào!”
“Bác Tám kìa, có phải hôm ấy nhà bác suýt chết đói không?”
“Tôi chứng nhận! Hôm tôi đi gặt đồng sâu bị cảm lạnh, cũng nhờ bát chè xanh gừng nóng của cô ấy mới về được tới nhà!”
Bác Thược thợ rèn đập mạnh bàn tay hộ pháp vào đùi kêu đét một tiếng:
“Con bé nó nói chí phải! Tiền mới đổi mất giá, bà con không có tiền mua bán thì đổi củi đổi sắn cho nhau, đấy là cái tình cái nghĩa tối lửa tắt đèn, tội vạ cái nỗi gì!”
Thu nhìn thấy rõ mồn một từng biến chuyển trên khuôn mặt của Lê Tiến Bền. Dưới ánh đèn măng-sông, mặt hắn cắt không còn hột máu, rồi nhanh chóng chuyển sang màu tím tái vì bẽ bàng. Cặp mắt lươn giật giật liên hồi, hai cánh mũi phập phồng giận dữ. Hắn lúng túng nhìn tập giấy chứng tích trong tay Thu rồi lại nhìn xuống đám đông đang bắt đầu sôi sục. Hắn không ngờ thứ vũ khí đánh gục hắn đêm nay không phải là những lý lẽ đao to búa lớn, mà lại là những mảnh giấy rách nát thấm đượm ân tình của chính những người dân cày cùng khổ.
Nhưng sự bẽ bàng không làm một kẻ cơ hội như Bền chùn bước; nó chỉ thổi bùng lên ngọn lửa thù hằn hèn hạ trong lòng hắn.
Bền giật phắt chiếc micro, nghiến răng ken két, the the quát lớn để át đi làn sóng đồng tình của dân làng:
“Im hết đi! Không được mất trật tự! Đây là hội nghị kinh tế, không phải chỗ cho các người đem tình cảm cá nhân dấm dớ ra để biện minh cho hành vi vô nguyên tắc! Dù có che đậy bằng bất cứ lý do gì, việc tự ý lập quán buôn bán, lưu thông hàng hóa không qua mậu dịch quốc doanh vẫn là vi phạm pháp luật tập thể!”
Hắn xoay phắt người, không thèm nhìn Thu nữa. Hắn biết không thể đấu lý với cô về chuyện ân nghĩa, nên quyết định tung ra ngón đòn thâm hiểm nhất đã chuẩn bị từ trước – ngón đòn nhắm thẳng vào điểm yếu chí tử của cô.
Bền chĩa thẳng micro về phía Đặng Văn Hùng, người nãy giờ vẫn đứng sừng sững bên cạnh Thu như một pho tượng đá:
“Thưa toàn thể bà con! Một con sâu làm rầu nồi canh thì hợp tác xã còn có thể châm chước xem xét. Nhưng điều đau xót nhất, nguy hiểm nhất đêm nay là có những đồng chí mang danh hiệu cao quý, từng vào sinh ra tử, nay trở về địa phương lại bị những tư tưởng cá nhân làm mờ mắt, đứng ra dung túng, che chở, tiếp tay cho mầm mống tư thương ấy!”
Giọng Bền hạ xuống, nọc độc trút ra từng lời:
“Đồng chí Đặng Văn Hùng! Đồng chí là thương binh phục viên từ chiến trường Tây Nam. Đảng và Nhà nước luôn dành cho đồng chí sự ưu tiên lớn nhất. Hợp tác xã đang xem xét giao cho gia đình đồng chí chỉ tiêu gỗ xẻ từ nguồn gỗ xoan, gỗ dổi ngâm của xóm Mộc để vực dậy đội mộc thủ công nghiệp. Đó là danh dự của gia đình đồng chí, là chén cơm manh áo và tâm huyết cả đời của bác Quỳ đây!”
Bền đưa cánh tay khẳng khiu chỉ thẳng về phía góc hiên tả vu. Dưới ánh sáng mờ tối, Thu thấy ông Quỳ run bắn lên, chiếc điếu cày tuột khỏi tay lăn lóc trên nền gạch, khuôn mặt già nua co rúm lại trong sự kinh hãi tột cùng.
“Thế nhưng,” giọng Bền đanh lại, tàn nhẫn và dứt khoát, “đồng chí Hùng lại dùng chính bàn tay thợ mộc để đóng bàn ghế, chế tạo lò nướng đối lưu, bao che cho tụ điểm buôn bán của Thu bên bến đò! Chiều nay, Ban kiểm soát đã lập biên bản về hành vi cản trở người thi hành công vụ của đồng chí!”
Bền bước xuống một bậc thềm, chìa cuốn sổ xanh ra trước mặt Hùng:“Đêm nay, trước toàn thể nhân dân xã Yên Sa, Ban quản trị cho đồng chí Hùng một cơ hội cuối cùng để thể hiện lập trường! Một là, đồng chí bước lên đây, công khai thừa nhận sai lầm, vạch rõ ranh giới với phần tử buôn bán Nguyễn Thị Thu, cam kết tháo dỡ toàn bộ công cụ mộc đã tiếp tay cho quán nước, để giữ vững tư cách thương binh gương mẫu và bảo toàn chỉ tiêu gỗ xẻ cho xưởng mộc gia đình! Hai là, nếu đồng chí cố tình ngoan cố, bao che đến cùng, chúng tôi sẽ lập biên bản tước quyền ưu tiên tiêu chuẩn gỗ phân phối, kiến nghị lên Phòng Thương binh - Xã hội huyện xem xét lại tiêu chuẩn trợ cấp của đồng chí, và xử lý đồng chí như một kẻ đồng lõa phá hoại kỷ cương kinh tế!”
Cả sân đình rơi vào một khoảng lặng chết chóc.
Từng lời, từng chữ của Bền như những nhát búa tạ giáng thẳng vào lồng ngực Thu. Hắn không chỉ muốn b*p ch*t quán nước của cô, hắn còn muốn dùng chính tương lai của xưởng mộc họ Đặng, dùng chén cơm manh áo của gia đình Hùng và danh dự người lính của anh để ép anh phải phản bội lại cô. Hắn muốn Hùng phải tự tay xé nát mối ân tình vừa mới đơm hoa giữa hai mảnh đời bất hạnh.
Nhìn sang hiên đình, Thu thấy ông Quỳ đang bưng mặt khóc không thành tiếng, bờ vai già nua rung lên bần bật; thấy Thắm cắn môi đến bật máu, mắt ngấn lệ nhìn anh trai trong nỗi tuyệt vọng cùng cực. Và bên cạnh cô, Hùng vẫn đứng im, nhưng cô cảm nhận được từng thớ cơ trên cánh tay anh đang căng cứng. Khớp gối thương tật bên chân trái của anh đang run lên vì đau buốt dưới cái rét cắt da của đêm đông. Anh đã thâu đêm suốt sáng bên bếp lò nướng bánh, đã đạp xe vượt bốn mươi cây số trong đêm mưa tầm tã để cứu sống người đồng đội Triệu “đen”, thân thể anh đã kiệt quệ đến mức chỉ cần một cơn gió mạnh cũng có thể quụy ngã.
Làm sao cô có thể nhẫn tâm để người đàn ông này vì mình mà mất đi tất cả? Mất đi chỉ tiêu gỗ xẻ của dòng họ, mất đi sự tôn nghiêm trước người cha già, và chịu điều tiếng bị xem xét lại tư cách người lính?
Không! Cô không thể để anh gánh chịu tai ương này!
“Anh Hùng... đừng...” Thu nghẹn ngào thì thào, nước mắt trào ra nơi khóe mi.
Cô toan bước lên, toan cất tiếng nhận hết mọi trách nhiệm về mình, chấp nhận đóng cửa quán, chấp nhận gánh món nợ mười lăm đồng quy thóc và rời khỏi bến đò Vạn Cát để đổi lấy sự bình yên cho gia đình anh. Nhưng khi chân cô vừa rục rịch bước tới, một bàn tay thô ráp, ấm nóng và rắn chắc như sắt nguội đã siết chặt lấy cổ tay cô.
Thu ngỡ ngàng quay lại. Hùng không nhìn cô, nhưng cái nắm tay của anh dứt khoát và mạnh mẽ đến mức truyền thẳng một luồng hơi ấm rực lửa vào tận sâu thẳm tâm can cô. Anh nghiêng đầu, trao cho cô một ánh nhìn thâm trầm, sâu thẳm như đáy sông Hồng mùa cạn – một ánh nhìn không hề có lấy một tia do dự hay sợ hãi, chỉ có sự chở che kiên định đến cùng trời cuối đất.
“Để anh,” Hùng khẽ nói. Hai tiếng ngắn ngủi, trầm ấm vang lên bên tai cô như một lời thề nguyền sắt đá.
Hùng buông tay Thu ra, tay phải chống chắc thanh gậy tre mộc xuống mặt sân gạch Bát Tràng. Anh bước đi.
Cộp... cộp... cộp...
Tiếng đầu gậy tre chạm vào nền gạch vang lên từng nhịp đều đặn, khô khốc và đanh gọn giữa bầu không khí ngột ngạt của sân đình. Từng bước, từng bước một, người thương binh tập tễnh tiến về phía bậc thềm gian tiền tế. Dưới ánh đèn măng-sông rực sáng, cái bóng cao lớn, vai rộng của anh đổ dài trên nền gạch, sừng sững và kiên nghị, che rợp cả dáng vẻ gầy còm, nhấp nhổm của Lê Tiến Bền.
Cả hội trường nín thở theo dõi từng cử động của Hùng. Thu siết chặt bọc giấy ân nghĩa trong lòng, tim đập thình thịch từng hồi đau nhói nhưng ngập tràn niềm kiêu hãnh khôn nguôi.
Hùng bước lên bậc thềm đá xanh thứ ba, dừng lại sừng sững ngay trước mặt Lê Tiến Bền. Anh đứng thẳng người, dồn toàn bộ trọng tâm lên bên chân lành lặn. Khoảng cách quá gần khiến Bền giật thót mình, theo bản năng lùi lại nửa bước, khuôn mặt chuột kẹp co rúm lại. Dù Hùng mang thương tật, nhưng khí phách của một người lính từng đi qua mưa bom bão đạn ở chiến trường biên giới Tây Nam, từng giáp mặt với cái chết nơi chiến hào vẫn toát ra lẫm liệt, đè bẹp hoàn toàn cái vẻ trịch thượng của tên cán bộ bàn giấy.
Hùng đưa bàn tay thô ráp gạt nhẹ chiếc micro kim loại sang một bên. Anh không cần đến thứ máy móc khuếch đại ấy. Giọng nói của anh trầm hùng, vang rền và sang sảng, dội thẳng vào từng góc xà lim, từng mái ngói rêu phong của ngôi đình cổ kính:
“Đồng chí Lê Tiến Bền! Đồng chí vừa bắt tôi phải lựa chọn giữa danh dự người lính, quyền lợi xưởng mộc của gia đình với việc bảo vệ Thu!”
Hùng quét ánh mắt sắc bén qua bàn chủ tọa, rồi nhìn thẳng vào hàng trăm khuôn mặt của bà con làng Yên Sa, dừng lại thật lâu nơi người cha già đang ngồi co ro dưới hiên đình:
“Hôm nay, trước Thành hoàng làng, trước vong linh các bậc tiền nhân, toàn thể bà con xã viên và cha tôi, tôi xin trả lời thẳng thắn cho đồng chí và ban quản trị được rõ!”
Hùng nâng cao thanh gậy tre, hướng mũi gậy về phía triền đê sông Hồng mù mịt gió rét:
“Bốn năm trước, tôi từ chiến trường biên giới trở về. Tôi để lại một phần xương thịt nơi đất khách, mang theo mảnh đạn súng cối găm trong khớp gối và nỗi đau mất mát bao đồng đội thân thiết bước chân tập tễnh về làng. Ngày tôi trở về, xưởng mộc của cha tôi lạnh tanh tro bếp, gia đình bần hàn, thân xác tàn phế. Đau đớn thể xác vì vết thương tái phát mỗi khi trở trời, day dứt tinh thần vì sợ mình trở thành gánh nặng vô dụng cho gia đình, cho làng xóm, đã có những ngày tháng tôi tưởng như mình không gượng dậy nổi!”
Giọng Hùng chùng xuống một thoáng, chất chứa nỗi niềm u uất của một người lính thời hậu chiến, khiến những cựu chiến binh ngồi dưới sân đình khẽ giật mình, cay xè nơi khóe mắt.
“Và ai là người đã tiếp thêm cho tôi nghị lực để sống tiếp?” Hùng chỉ tay về phía Thu đang đứng giữa sân gạch. “Chính là cô gái mồ côi kia! Giữa cái rét căm căm mười độ bên bến đò Vạn Cát, cô ấy nhóm lên một bếp trấu, nấu một ấm nước chè xanh gừng tươi, trao tận tay tôi bát nước nóng hổi mà không tính toán thiệt hơn một đồng một cắc! Bát nước ấy không chỉ sưởi ấm dạ dày tôi, nó vực dậy ý chí sống và niềm tin vào con người của một người lính phục viên!”
Hùng quay ngoắt lại, ánh mắt rực lửa nhìn trừng trừng vào mặt Bền, khiến hắn hoảng hốt lúng túng lùi thêm một bước:
“Đồng chí Bền bảo quán nước của Thu là mầm mống tư thương phá hoại trật tự kinh tế? Tôi xin hỏi đồng chí: Khách qua đò lỡ bước nhỡ chuyến giữa đêm đông rét buốt, có bát nước chè xanh, có củ sắn lùi chống đói, đó là phá hoại hay là cứu người? Những người buôn gánh bán bưng nhỡ độ đường, những người thợ cày dầm mưa rét buốt tạt vào chòi xin hớp nước nóng, xin thanh kẹo lạc dằn bụng để có sức cày tiếp mẫu ruộng khoán cho hợp tác xã, đó là tư bản hay là tình nghĩa đồng bào?”
Dưới sân đình, tiếng xì xào đồng tình lại nổi lên, lần này mạnh mẽ và dứt khoát hơn hẳn:
“Đúng đấy! Anh Hùng nói không sai một lời!”
“Lao động vất vả, bát nước chè ấm bụng mà cũng bị quy chụp là tội lỗi thì còn ra cái thể thống gì nữa!”
Mặt Lê Tiến Bền đỏ bừng lên như gà chọi, vừa nhục nhã vừa tức tối. Hắn chộp lại chiếc micro, the the gào lên:
“Đồng chí Hùng! Anh đừng có mượn danh nghĩa tình cảm để ngụy biện! Thu dùng bột gạo, đường mật làm kẹo bánh bán ra ngoài, đó là kinh doanh trái phép, là cạnh tranh với mậu dịch quốc doanh!”
“Kinh doanh trái phép?” Hùng cười nhạt, một nụ cười khinh bỉ tột cùng xé toang vẻ ngụy biện của Bền. “Suốt mấy tháng bão giá vừa qua, đồng tiền mới đổi biến động, người nghèo trong làng không có tiền mua nổi bơ gạo, Thu đã thức trắng bao đêm bên lò than, tay phỏng rộp rỉ máu để tráng từng chiếc bánh đa, nấu từng phong kẹo đổi lấy củi khô, mớ rau, củ sắn cho bà con vượt qua cơn giáp hạt! Đồng chí bảo mồ hôi nước mắt người ta đổ ra để tự nuôi sống bản thân, không ngửa tay xin xỏ của hợp tác xã một hạt thóc, không ăn cắp của Nhà nước một đồng nào, mà là tội lỗi sao?”
Hùng bước thêm một bước, mũi gậy tre nện mạnh xuống mép bàn bọc vải đỏ, tiếng vang đanh gọn như lệnh truyền:
“Còn về phần tôi! Xương máu của tôi và đồng đội đổ xuống ở chiến trường là để bảo vệ mảnh đất này, bảo vệ cho đồng bào tôi, cho những người dân cày nghèo khổ như cha tôi, như Thu có được manh áo ấm, có được bát cơm lành! Tôi cầm súng chiến đấu không phải để hôm nay trở về nhìn những kẻ như đồng chí nhân danh tập thể, nhân danh chỉ thị để nhũng nhiễu, chèn ép, bóp nghẹt đường sống của những con người lao động lương thiện!”
Hùng dằn từng tiếng, dõng dạc tuyên bố trước toàn thể dân làng:
“Hôm nay, trước mặt tất cả bà con, tôi Đặng Văn Hùng xin tuyên bố: Tôi sẵn sàng trả lại từng tấc gỗ xoan tiêu chuẩn, trả lại từng mét vải phân phối, thậm chí trả lại cả tấm thẻ thương binh nếu cái giá để giữ lấy nó là phải hùa theo sự bất nhân, phải cúi đầu chà đạp lên ân nghĩa của người đã vực dậy cuộc đời mình! Nhưng chiếc chòi gỗ bên bến đò Vạn Cát, chừng nào Đặng Văn Hùng này còn thở, chừng đó không một kẻ nào được phép vô cớ đụng vào!”
“Rầm!”
Một tràng pháo tay rộ lên từ góc sân đình, bắt đầu từ bàn tay thô ráp của bác Thược thợ rèn, rồi lan nhanh như một đám cháy bùng lên khắp đám đông xã viên, thợ đò và các cựu chiến binh.
“Nói hay lắm!”
“Người lính Cụ Hồ phải thế chứ!”
“Anh Hùng nói đúng tim gan bà con chúng tôi rồi!”
Tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay rền vang dưới mái đình cổ kính, át đi hoàn toàn tiếng rè rè của chiếc loa nén Liên Xô. Sự thật, lẽ phải và khí phách hiên ngang của Hùng đã đánh thức lương tri và lòng trắc ẩn bấy lâu nay bị kìm nén dưới lớp vỏ bọc giáo điều, sợ hãi.
Dưới sân đình, Thu đưa tay ôm chặt lấy lồng ngực mình, nơi trái tim đang đập những nhịp rung động mãnh liệt. Nước mắt cô trào ra, lăn dài trên gò má bánh mật nhưng trên môi lại nở một nụ cười rạng rỡ. Cô nhìn bóng lưng cao lớn, vững chãi của Hùng – người đàn ông đã không ngần ngại đem cả danh dự, tương lai và tấm thẻ thương binh xương máu ra để che chở cho cô trước cơn cuồng phong định kiến. Dưới hàng hiên, ông Quỳ đã buông tay khỏi mặt, đôi mắt ngấn lệ nhìn con trai với một niềm tự hào và nhẹ nhõm vô bờ; còn Thắm thì reo hò, nước mắt giàn giụa vỗ tay vang dội.
Qua làn nước mắt, Thu nhìn thấy Lê Tiến Bền đang run lên bần bật vì nhục nhã và giận dữ tột độ. Cặp mắt lươn của hắn vằn lên những tia máu đỏ lòm, hai bên thái dương giật giật. Uy thế quyền lực mà hắn dày công vun đắp bằng những cuốn sổ kiểm tra và những lời dọa dẫm bấy lâu nay đã bị bẻ gãy hoàn toàn ngay trước mắt bàn dân thiên hạ. Thu thấy rõ sự hoảng loạn và căm thù cuồng dại hiện rõ trên khuôn mặt méo mó của hắn.
“Im hết đi! Hỗn xược! Vô tổ chức! Chống đối đường lối tập thể!”
Bền lồng lộn gào thét vào micro, tiếng rú rít của âm thanh chói tai xé toang không gian khiến đám đông giật mình im bặt. Hắn đập mạnh cuốn sổ bìa xanh xuống mặt bàn bọc vải đỏ kêu “rầm” một tiếng kinh hoàng, bọt mép bắn tung tóe:
“Ban quản trị không thể dung túng cho thái độ ngông cuồng, kích động quần chúng của Đặng Văn Hùng! Đây là hành vi chống đối trắng trợn!”
Hắn quay phắt sang phía các thành viên ban quản trị và đội trật tự viên đang đứng lố nhố bên mép hiên, điên cuồng hạ lệnh:
“Các đồng chí trong ban quản trị! Không thể để một vài cá nhân làm loạn kỷ cương xã hội chủ nghĩa! Tôi đề nghị chúng ta tiến hành biểu quyết ngay tại chỗ: Thứ nhất, khai trừ tư cách hợp đồng nhận chỉ tiêu gỗ xẻ của xưởng nhà ông Quỳ! Thứ hai, điều động toàn bộ lực lượng dân quân và trật tự viên bến đò, ngay trong đêm nay, tiến thẳng ra bến Vạn Cát giật sập chòi gỗ, tịch thu toàn bộ lò nướng, bàn ghế và trục xuất Nguyễn Thị Thu ra khỏi địa bàn hành lang sông Hồng để lập lại trật tự!”
Bền giơ phắt cánh tay khẳng khiu của mình lên trời, mắt quắc lên đe dọa:
“Ai đồng ý giơ tay biểu quyết! Đội trật tự đâu, chuẩn bị xà beng, dây thừng, theo lệnh tôi!”
Một vài trật tự viên thân tín của Bền rục rịch rút gậy tre, hai ba cánh tay của những kẻ a dua trong ban quản trị bắt đầu ngập ngừng giơ lên giữa không trung. Không khí trong sân đình căng thẳng tột độ như một thùng thuốc súng chỉ chực bốc cháy. Thu siết chặt bọc vải thô vào ngực, bước vội lên đứng cạnh Hùng, ngẩng cao đầu sẵn sàng cùng anh đối mặt với đòn thù hung bạo nhất.
Đúng vào tích tắc nghẹt thở ấy, khi những cánh tay của Bền và tay chân hắn chuẩn bị hoàn tất màn biểu quyết phi lý, thì từ ngoài cổng tam quan tối om của đình làng, một tiếng quát già nua nhưng đanh thép, sang sảng như tiếng chuông đồng rền vang xé toang màn đêm:
“Dừng tay lại hết cho tôi! Đứa nào dám động vào cái chòi nước bến đò?!”