Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy

Chương 16: Bão giá - Lương - Tiền (1985)

Gió heo may tháng chín âm lịch năm 1985 thổi dọc triền đê Yên Sa mang theo cái se lạnh hanh hao của đất trời chớm đông. Nước sông Hồng mùa này cạn dần, để trơ ra những dải bãi cát bồi đỏ quạch phù sa, nằm im lìm dưới rặng dâu da đang rụng lá. Nhưng cái buốt lạnh của ngọn gió đầu mùa chẳng thấm tháp vào đâu so với cơn hoang mang, nháo nhác đang phủ bóng đen kịt lên từng mái nhà tranh, từng phiên chợ quê dọc triền sông.

Đêm ngày mười ba tháng chín, đài bán dẫn ở đ**m canh đê phát đi bản thông cáo đặc biệt về cuộc đổi tiền và cải cách “Giá - Lương - Tiền”. Sáng hôm sau, cả làng Yên Sa như vừa trải qua một cơn địa chấn. Người ta bồng bế, dắt díu nhau đổ xô ra đình làng, nơi tổ đổi tiền lưu động làm việc sau những hàng rào tre cắm chông bảo vệ nghiêm ngặt. Tiền cũ mười đồng đổi lấy một đồng tiền mới. Mọi khoản vượt quá hạn mức quy định đều phải kê khai rành rọt nguồn gốc và nộp vào sổ tiết kiệm phong tỏa.

Nhưng điều khiến người dân lao đao nhất không phải là việc đổi tiền, mà là những ngày tiếp sau đó. Cơn sốt giá cả bùng lên như chõ xôi sôi trào nắp. Đồng tiền mới cầm trên tay chưa kịp quen mắt, quen tay đã tụt giá thảm hại từng giờ. Những kệ hàng mậu dịch quốc doanh ở huyện vốn đã thưa thớt, nay càng trống huếch trống hoác vì hàng hóa bốc hơi sạch sẽ. Ngoài chợ tự do, người buôn kẻ bán nhìn nhau bằng ánh mắt ngờ vực, vừa bán vừa run. Sáng một bát phở năm hào, chiều đã vọt lên một đồng rưỡi; bơ gạo nếp hôm qua ba đồng, hôm nay người ta đã đòi bốn đồng năm hào mà vẫn ngúng nguẩy không muốn bán. Người có tiền giấy chỉ nhăm nhe đổi ra vàng, ra thóc hoặc mua bất cứ thứ gì có thể cầm nắm được, bởi giữ tiền trong túi lúc này chẳng khác nào ôm tảng băng giữa trưa hè nung nấu.

Bên bến đò Vạn Cát, chiếc chòi gỗ kiên cố của Thu nép mình dưới bóng cây đa cổ thụ, hứng trọn từng cơn gió sông lồng lộng.

Thu ngồi bên bậu cửa quán, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên vạt áo bà ba nâu đã sờn chỉ. Trước mặt cô, chiếc hòm gỗ nhỏ đựng tiền lẻ nằm chỏng trơ. Trong đáy hòm chỉ có vỏn vẹn ba tờ tiền mới mệnh giá năm hào nhăn nhúm và vài đồng xu nhôm nhẹ bẫng. Cả buổi sáng, đò sang ba chuyến, chở theo ngót năm mươi lượt khách bộ hành, nhưng chỉ có hai người ghé vào quán uống bát nước chè tươi. Một cụ già đi thăm cháu ở vùng bán sơn địa lóng ngóng móc ra mấy hào tiền cũ đã hết hạn lưu hành, mắt ngấn lệ run rẩy nhìn ấm nước đang bốc khói nghi ngút. Thu vội xua tay, múc dâng cụ bát nước chè gừng nóng hổi, rồi khéo léo gạt đi việc tính tiền. Cụ già uống xong, lau nước mắt, run giọng bảo:

“Khổ quá con ơi... Tiền bạc một đời ky cóp chôn dưới chân cột, đùng một cái thành giấy lộn. Giờ ra đường cầm đồng bạc mới mà người ta lườm nguýt như quân trộm cắp. Đến ngụm nước cũng thành xa xỉ…”

Câu nói nghẹn ngào của người khách qua đường cứa vào lòng Thu buốt nhói.

Thu đứng dậy, bước lại gần góc chòi kiểm tra bao tải nguyên liệu. Cảnh tượng bên trong khiến ngực cô thắt lại. Thùng tôn đựng mật mía hoa cau chỉ còn trơ một lớp vàng sánh mỏng dính sát đáy, đủ để ngào thêm chừng nửa mẻ kẹo. Bao lạc sẻ phơi khô vốn căng tròn nay đã xẹp lép, chỉ còn lại dăm bát con. Gạo nếp cái hoa vàng để tráng bánh đa đã cạn kiệt từ ba hôm trước.

Sáng nay, Thu cầm số tiền lời ít ỏi chạy bộ hơn bảy cây số lên chợ Huyện Đông để tìm mối mua mật và gạo nếp. Nhưng vừa bước chân vào khu chợ, cô đã chết lặng. Mấy bà hàng xáo quen mặt xua tay quầy quậy:

“Không bán tiền mặt nữa đâu cô Thu ơi! Giờ ôm tiền vào người để mà chết đói à? Có thóc thật, có vải phíp hay dầu hỏa thì mang ra đây đổi, chứ tiền giấy này chiều nay mang đi mua mớ rau muống chưa chắc người ta đã chịu cầm cho!”

Chuyến xe thồ chở mật mía từ mạn Hà Nam ngược lên cũng bị trạm kiểm soát giữ lại, giá chợ đen đội lên gấp bốn lần. Với chút vốn liếng chắt chiu của Thu, gom hết sạch túi cũng chẳng đủ mua nổi một hũ mật mười lít. Nếu không có mật, không có nếp, chiếc lò nướng đối lưu đạp chân mà Hùng cùng bác Thược thức trắng bao đêm rèn dũa sẽ phải nằm nguội lạnh. Bến đò Vạn Cát sẽ lại vắng bóng khói lam chiều, và gánh hàng của cô — chiếc phao cứu sinh duy nhất để cô nuôi sống bản thân và trả nốt món nợ nghĩa tình ba mươi đồng — đứng trước nguy cơ gãy vụn giữa cơn bão giá.

“Chị Thu ơi!”

Tiếng gọi giòn tan quen thuộc cắt ngang dòng suy nghĩ trĩu nặng của Thu. Từ triền dốc đá dẫn xuống bến, Đặng Thị Thắm thoăn thoắt bước xuống, chiếc nón lá cời cầm trên tay phe phẩy xua đi những giọt mồ hôi lấm tấm bên thái dương. Thắm quẳng chiếc làn mây rỗng không lên mặt bàn gỗ mộc, thở hắt ra một hơi dài, mặt mày ỉu xìu:

“Hỏng hết rồi chị ạ. Em sang bên xóm Rèn gom gạo nếp giùm chị theo giá hôm kia họ nhận lời, ai ngờ đến nơi bà Cả Trâm trở mặt ngay. Bà ấy bảo tiền sụt giá quá, giờ ai bán gạo giá ấy là ngu. Trừ phi chị trả thêm mỗi bơ sáu hào tiền mới, không thì bà ấy để dành nấu rượu lậu còn có ăn hơn. Em tức quá cãi nhau một trận, rốt cuộc chẳng lấy được hạt nào!”

Thu khẽ thở dài, kéo chiếc ghế đẩu gỗ xoan ngâm — kỷ vật mà Hùng đã đóng tặng cô năm nào — bảo Thắm ngồi xuống, rồi rót một bát nước vối đặc còn ấm trao cho cô gái trẻ:

“Em uống ngụm nước cho hạ hỏa đã. Thời buổi này ai người ta cũng sợ, trách bà Cả sao được. Đến bản thân chị cầm mấy đồng bạc trong tay còn thấy hoang mang như đi trên cầu khỉ giữa đêm tối nữa là người làm ruộng.”

Thắm bưng bát nước, nhấp một ngụm lớn rồi nhìn quanh chòi quán vắng hoe. Chiếc lò nướng đối lưu phủ tấm bao tải gai nằm im lìm trong góc. Mùi thơm ngào ngạt của vừng rang, mật mía và gừng tươi vốn là linh hồn của bến sông này suốt hai năm qua nay đã biến mất, nhường chỗ cho mùi bùn non ngai ngái bốc lên từ lòng sông cạn.

“Thế rồi tính sao hả chị?” Thắm lo lắng hỏi, giọng chùng xuống. “Quán nước đóng cửa thì lấy gì mà sống? Rồi còn khoản nợ thuốc thang của thầy u chị ngày trước... Bác Trưởng thôn bảo hạn cuối năm nay phải thanh toán nốt mười lăm đồng tiền cũ quy ra thóc cho hợp tác xã, không là họ trừ thẳng vào định mức phân bón vụ chiêm của ruộng phần trăm đấy!”

Thu lặng thinh. Cô nhìn ra dòng sông Hồng cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa. Từng đợt sóng vỗ oàm oạp vào bờ đất lở. Khó khăn thời bao cấp như những ngọn sóng ngầm, cứ ngỡ đã vượt qua được ghềnh thác năm 1983 nhờ chiếc lò nướng cải tiến và tấm giấy thông hành của Ủy ban xã, nào ngờ cơn bão “Giá - Lương - Tiền” năm 1985 lại quét qua tàn khốc hơn gấp bội.

Đúng lúc ấy, chiếc đò ngang của bà cụ Vấn từ từ cập bến.

Mũi thuyền chài gõ lách cách vào cọc cọc tiêu bằng gỗ nghiến. Trên khoang đò, ngoài chục người khách lếch thếch mang quang gánh rỗng, còn có bác chài Tạ — người đàn ông góa vợ xóm Chài chuyên nghề kéo lưới đêm, và chị Dần — người đàn bà nghèo xóm Bãi một nách ba con thơ chuyên đi mót củi rều dọc triền sông.

Chị Dần gánh đôi sọt củi khô nặng trĩu bước lên dốc bến, đôi chân trần gầy guộc bấm sâu vào nền đất trơn trượt. Đứa con gái nhỏ chừng năm tuổi bám chặt vào cạp váy rách tươm của mẹ, mắt dán chặt vào chiếc tủ kính nhỏ đặt trên quầy quán của Thu, nơi còn sót lại ba phong kẹo lạc cắt vuông vức rắc kín vừng. Đứa bé nuốt nước bọt ừng ực, cất giọng the thé ngây ngô:

“U ơi... kẹo kìa u. U mua cho con một góc kẹo lạc đi, sáng giờ con đói cồn cào cả ruột rồi…”

Chị Dần khựng lại. Gương mặt sạm đen vì nắng gió của chị thoáng co rúm vì đau xót. Chị thọc tay vào túi áo cánh vá chằng vá đụp, móc ra một nắm bạc vụn rách nát, rồi lại ngậm ngùi nhét vào. Chị kéo giật tay đứa con, gượng gạo mắng khẽ:

“Đi nhanh lên con! Tiền đâu mà kẹo với bánh! Mớ củi này mang lên chợ chưa chắc đã đổi nổi nửa bơ ngô hạt nấu cháo, kẹo cái gì mà kẹo!”

Đứa bé mếu máo, nước mắt lưng tròng nhưng không dám khóc to, lủi thủi bước theo bóng lưng còng queo của mẹ.

Chứng kiến cảnh tượng ấy, lồng ngực Thu như bị ai bóp nghẹn. Cô nhớ lại những ngày đông rét mướt năm 1981, khi cha mẹ vừa qua đời, cô cũng từng đứng chôn chân bên bến đò này, bụng đói lả, nhìn người ta ăn củ khoai nóng mà tủi phận đến rơi nước mắt. Miếng ăn trong thời buổi thắt ngặt không đơn thuần là vật chất, nó là phẩm giá, là sự an ủi tột cùng cho những kiếp người khốn khó.

“Chị Dần! Chị Dần ơi, đứng lại đã!”

Thu bật dậy khỏi chiếc ghế đẩu, cất tiếng gọi với theo.

Chị Dần ngơ ngác dừng bước dưới gốc đa, ái ngại quay đầu lại: “Gì thế cô Thu? Tôi... tôi không có tiền mua nước đâu, còn phải vội gánh củi lên chợ xem có ai thương tình đổi cho bát gạo…”

Thu bước nhanh lại gần, đôi mắt đen láy ánh lên một tia sáng kiên định. Cô nhìn đôi sọt củi khô nỏ của chị Dần — toàn là những khúc củi rều bằng gỗ trôi sông được phơi nỏ cong, loại củi đượm than nhất để ủ lò nước chè tươi. Rồi cô nhìn sang bác chài Tạ đang lúi húi xách một chiếc giỏ tre, bên trong có dăm con cá mương và hai con cá diếc sông còn quẫy đuôi tanh tách.

Một ý nghĩ táo bạo bỗng lóe lên trong đầu Thu. Một tia sáng xé toang màn sương mù bế tắc bấy lâu.

“Chị Dần này,” Thu chỉ vào gánh củi, giọng cô ấm áp và dứt khoát. “Chị gánh củi lên chợ huyện xa bảy cây số, vừa mệt xác lại vừa bị người ta ép giá. Em đang cần củi đượm để ủ ấm chè xanh và nhóm lò nướng bánh. Chị san cho em một nửa gánh củi này, em đổi cho chị một phong kẹo lạc to với hai chiếc bánh đa vừng nướng giòn. Lại thêm cho cháu bát nước chè gừng nóng với củ khoai luộc em vừa lùi tro sáng nay. Chị thấy thế nào?”

Chị Dần sững sờ. Đôi mắt trũng sâu của người mẹ nghèo mở to, nhìn Thu như không dám tin vào tai mình:

“Cô... cô đổi thật đấy à? Củi rều sông này tôi vớt dưới bãi, chỉ tốn công phơi, người ta chê ỏng chê eo... Cô đổi kẹo thật cho cháu sao?”

“Thật chứ chị! Thời buổi này đồng tiền giấy khó tính giá, nhưng mồ hôi công sức thì ở đâu cũng quý như nhau. Em cần củi, chị cần thức ăn cho cháu dằn bụng. Đổi cho nhau là đôi bên cùng đỡ khổ!”

Thu nói dứt lời liền thoăn thoắt quay vào quán. Cô bưng ra chiếc đĩa tre, đặt lên đó phong kẹo lạc vàng óng sực nức mùi gừng cay, bẻ đôi chiếc bánh đa vừng nướng phồng xốp thơm lừng đưa tận tay đứa bé. Đứa nhỏ reo lên một tiếng lí nhí, hai tay đón lấy thanh kẹo, cắn một miếng giòn rụm rã rời, gương mặt bừng sáng nụ cười hạnh phúc. Chị Dần run rẩy dỡ bó củi nỏ nhất xếp gọn gàng vào chái quán của Thu, miệng không ngớt lời cảm ơn rơm rớm nước mắt.

Thấy vậy, bác chài Tạ đang đứng ngập ngừng bên bến cũng bước vội lại, chìa chiếc giỏ cá ra:

“Cô Thu ơi... lão có mấy con cá mương sông vừa cất vó được. Không biết... không biết cô có ưng đổi cho lão lấy mấy phong kẹo lạc mang về cho bà lão ở nhà ngậm cho đỡ ho gió không? Mấy hôm nay trời trở lạnh, bà ấy ho rũ rượi mà chẳng có đồng nào mua thuốc lá tía tô…”

Thu mỉm cười rạng rỡ, nụ cười xua tan đi vẻ ảm đạm của buổi chiều gió bấc:

“Đổi chứ bác! Cá tươi sông Hồng kho với tương gừng thì quý bằng mười thịt mậu dịch! Bác cứ để cá vào chiếc chậu sành kia cho cháu, cháu biếu bác hai phong kẹo lạc đặc biệt nhiều gừng, kèm thêm một bát nước chè tươi bác uống ngay tại chỗ cho ấm người!”

Thắm đứng bên cạnh, chứng kiến toàn bộ sự việc từ đầu đến cuối, đôi mắt tròn xoe kinh ngạc rồi nhanh chóng chuyển thành sự thán phục tột cùng. Cô gái trẻ vỗ đùi đánh “đét” một cái, nhảy cẫng lên:

“Trời đất ơi! Chị Thu ơi là chị Thu! Sao chị thông minh thế không biết! Đúng rồi! Tiền mất giá thì mình dùng hàng đổi hàng! Dân làng mình thiếu tiền mặt chứ đâu có thiếu sắn, thiếu củi, thiếu ngô khoai! Cứ thế này thì quán mình không bao giờ sợ chết đói!”

Thu nhìn Thắm, ánh mắt đượm vẻ trầm ngâm của người từng trải qua bao cơn sóng gió:

“Không phải chị khôn ngoan gì đâu Thắm ạ. Cụ ngoại chị ngày xưa từng dạy, buôn bán cốt ở cái tâm và sự luân chuyển. Đất trời sinh ra hạt thóc củ khoai là để nuôi sống con người. Đồng tiền chỉ là cái vỏ ngoài để người ta chuyền tay nhau, khi cái vỏ ấy bị bão gió làm méo mó, thì mình phải quay về với cái gốc của cội nguồn. Người có củi góp củi, người có sắn góp sắn, ai có gì góp nấy. Quán nước mình đứng ở bến đò, chính là nơi nối nhịp cho cái sự sẻ chia ấy.”

Ngay trong chiều hôm đó, Thu cùng Thắm bắt tay vào thực hiện phương kế mới. Thắm dùng mẩu than củi vẽ nắn nót lên tấm bảng gỗ xoan gắn trước chòi quán dòng chữ mộc mạc:

“Quán nước bến đò Vạn Cát: Nhận đổi bánh đa, kẹo lạc, nước chè xanh lấy củi khô, sắn lát, đỗ xanh, lạc củ và nông sản gia đình.”

Tin tức về quán nước đổi hàng của cô Thu mồ côi nhanh chóng lan truyền khắp làng Yên Sa như một luồng gió ấm thổi qua xóm nghèo giữa mùa đông ảm đạm.

Chỉ trong vòng vài ngày, cảnh tượng trước bến đò Vạn Cát thay đổi đến ngỡ ngàng. Không còn cảnh khách bộ hành đứng co ro nhìn chằm chằm vào quầy hàng với đôi bàn tay trắng. Thay vào đó, người đi chợ mang theo dăm bơ đỗ đen, người xóm Bãi đem sang một gùi sắn lát phơi giòn trắng muốt, mấy bác thuyền chài mang đến mớ tôm càng sông hay mớ rau má bến bồi.

Thu tiếp nhận tất cả bằng sự trân trọng và sòng phẳng tuyệt đối. Sắn lát bở loại ngon, Thu đem giã mịn thành bột, phối trộn với bột nếp theo đúng bí quyết gia truyền trong cuốn sổ tay của cụ ngoại, tạo ra thứ bột tráng bánh đa giòn tan mà lại tiết kiệm được lượng gạo nếp quý giá. Đỗ xanh, đỗ đen Thu đồ chín, ngào với chút mật mía sót lại làm nhân bánh đa xốp. Củi rều sông chất đầy một góc hiên quán, cung cấp nguồn nhiệt dồi dào, đượm lửa cho chiếc lò nướng cải tiến quay đều suốt ngày đêm. Thậm chí, mớ cá sông và rau bến Thu đem kho tương chia lại một phần cho những cụ già cơ nhỡ sang đò lỡ bước.

Quán nước bến đò bỗng chốc trở thành một trạm điều hòa cứu trợ ấm áp giữa cơn bão “Giá - Lương - Tiền”. Trong khi các cửa hàng mậu dịch trên huyện đóng cửa im ỉm vì khủng hoảng phân phối, chợ búa nháo nhác vì tiền mất giá, thì chiếc chòi gỗ bên bến đò Vạn Cát vẫn đỏ lửa rực hồng, khói lam chiều quyện mùi mật mía, mùi gừng tươi và hương vừng nướng thơm ngát cả một khúc sông. Dân buôn đường dài, cánh lái đò, người nông dân nghèo đi làm đồng về, ai nấy đều tìm thấy ở nơi đây một chốn dừng chân ấm cúng, nơi lòng tự trọng của họ không bị tổn thương bởi sự nghèo khó, nơi một củ khoai, một khúc củi cũng đổi được một bát nước chè gừng nóng và nụ cười hiền hậu của cô chủ quán mồ côi.

Lê Tiến Bền mấy lần dẫn trật tự viên xuống lượn lờ quanh bến. Cặp mắt lươn ti hí của gã soi mói từng góc quán, cuốn sổ bìa xanh kẹp nách chực chờ bắt lỗi. Nhưng gã đành nghiến răng ken két mà quay gót. Thu không dùng tiền mặt để đầu cơ tích trữ, không bán phá giá mậu dịch, việc bà con đổi mớ rau, thanh củi lấy ngụm nước, chiếc bánh hoàn toàn là sự tương trợ xóm giềng trong lúc hoạn nạn, được cả cụ Vấn lẫn Ban quản trị xóm chài đồng lòng bảo bọc. Bền chẳng thể tìm ra bất cứ cái cớ nào để hạ thanh barie quyền lực của mình xuống chòi gỗ một lần nữa.

Hoàng hôn buông xuống bến Vạn Cát, nhuộm đỏ cả một vùng mặt nước bao la.Gió bấc thổi mỗi lúc một mạnh, rít qua những kẽ lá đa cổ thụ nghe như tiếng thở dài của đất trời. Khách qua đò đã thưa dần. Thu lúi húi quét dọn những vụn bánh đa rơi trên mặt bàn gỗ mộc, xếp lại những thanh củi nỏ vào góc bếp.

Từ phía bờ đê, tiếng bước chân tập tễnh quen thuộc vang lên trên nền sỏi đá.

Thu ngẩng đầu lên, khóe môi bất giác nở một nụ cười dịu dàng. Đặng Văn Hùng đang bước xuống dốc. Chiếc áo lính Tô Châu bạc màu khoác trên tấm lưng rộng vững chãi của anh dường như không ngăn nổi cái lạnh buốt của ngọn gió sông. Tay phải anh chống chiếc gậy tre đực, tay trái ôm một chiếc xô gỗ nhỏ đựng đầy mùn cưa và phoi bào từ xưởng mộc mang ra cho cô ủ lò. Bước chân anh có phần khập khiễng hơn mọi ngày, mỗi bước hạ xuống đều dồn lực nặng nề sang bên chân phải để gánh đỡ cho bên gối trái đang sưng tấy vì trở trời.

“Anh Hùng!” Thu vội vã buông chiếc chổi rơm, chạy ra đón lấy chiếc xô gỗ từ tay anh. “Trời lạnh thế này, chân anh lại đau nhức mà còn vác nặng làm gì cho khổ. Mấy hôm nay quán có củi rều của chị Dần đổi cho rồi, đủ đun nấu cả tuần không hết đâu anh.”

Hùng đứng lại bên hiên quán, đưa bàn tay thô ráp đầy vết chai sần quệt những giọt mồ hôi lạnh rịn ra trên trán vì đau khớp. Anh nhìn Thu, ánh mắt thâm trầm, sâu thẳm ánh lên một sự ấm áp đặc biệt mà chỉ khi ở trước mặt cô mới bộc lộ ra:

“Mùn cưa gỗ xoan này đượm lửa lắm, ủ trấu qua đêm giữ than rất tốt. Anh sợ nửa đêm gió sông thổi thốc vào làm tắt lò của em.”

Giọng anh trầm khàn, kiệm lời như bản tính bao đời nay của người thợ mộc họ Đặng. Thu đỡ anh ngồi xuống chiếc ghế đẩu quen thuộc, rồi thoăn thoắt đi múc một bát nước chè xanh gừng đặc sánh, nóng hổi đưa tận tay anh:

“Anh uống ngụm nước cho ấm người đi. Em có nướng củ gừng già lùi tro, giã nát hòa vào chè đấy, trừ hàn giải cảm tốt lắm.”

Hùng đón lấy bát sành từ tay Thu. Hai ngón tay vô tình chạm nhẹ vào nhau. Một luồng hơi ấm truyền qua da thịt khiến cả hai khẽ giật mình, một thoáng bối rối e ấp len lỏi giữa không gian tĩnh mịch của buổi chiều muộn. Hơn hai năm qua, kể từ đêm bão sông Hồng đánh sập quán cũ, mối dây liên kết giữa họ cứ thế lớn dần lên như mạch nước ngầm chảy sâu dưới lòng phù sa. Anh âm thầm dùng rìu, dùng bào che chắn cho cô trước giông bão cuộc đời; cô lặng lẽ dùng hơi ấm của ấm chè xanh, sự dịu dàng của người phụ nữ săn sóc những vết thương thể xác và tinh thần cho người lính phục viên. Họ chưa từng nói một lời thề non hẹn biển, nhưng trong lòng mỗi người, hình bóng của người kia đã cắm rễ tự bao giờ.

Hùng nhấp từng ngụm chè ấm, ánh mắt dõi nhìn những sọt sắn lát và củi khô chất đầy quanh chòi. Khẽ mỉm cười, anh bảo:

“Mấy hôm nay xưởng mộc của thầy anh cũng ế ẩm vì người ta không có tiền đóng bàn ghế. Nhưng nghe dân làng đồn ầm lên chuyện cô chủ quán bến đò dùng kẹo đổi sắn, cứu giúp bao nhiêu người qua cơn thắt ngặt. Thầy anh... trưa nay ngồi ăn cơm bỗng buột miệng khen em một câu, bảo con bé mồ côi thế mà tháo vát, biết lo toan việc đời.”

Nghe Hùng nhắc đến ông Quỳ, tim Thu khẽ đập rộn lên. Cô biết ông Quỳ vẫn luôn là rào cản lớn nhất ngăn cách giữa hai người. Nỗi sợ hãi bóng ma quá khứ và sự khắt khe của một nghệ nhân mộc truyền thống khiến ông luôn giữ khoảng cách, thậm chí từng cấm đoán con trai giao du với cô gái mồ côi làm nghề buôn bán vặt vãnh. Lời khen hiếm hoi ấy của ông lão, dù gián tiếp, cũng như một tia nắng ấm rọi vào nỗi mặc cảm bấy lâu trong lòng Thu.

“Em chỉ làm theo lẽ tự nhiên thôi anh,” Thu cúi đầu, ngón tay mân mê tà áo. “Bà con nghèo khổ quá, nhìn họ đói rét em không đành lòng. Với lại... nhờ có bà con đổi sắn, đổi củi mà lò nướng của anh đóng cho em không phải bỏ không ngày nào. Em mang ơn anh còn chẳng hết…”

“Đừng nói ơn huệ với anh.” Hùng ngắt lời, giọng anh trầm xuống, đầy vẻ nghiêm nghị nhưng chan chứa sự chở che. “Nếu ngày ấy không có bát nước chè của em bên bến đò này, anh đã buông xuôi tất cả dưới đáy sông Hồng rồi. Mạng này của anh, là em nhặt lại cho đời.”

Hai người ngồi lặng bên nhau dưới mái chòi gỗ. Tiếng lửa trấu lách tách cháy trong lò nướng, tiếng nước sông Hồng vỗ nhè nhẹ vào bờ cát tạo nên một giai điệu bình yên đến lạ kỳ giữa thời buổi tao loạn của giá cả, tiền tệ.

Bỗng nhiên, từ trên con đường đê hun hút gió, một bóng người mặc quân phục bạc màu, chống gậy tập tễnh bước vội vã xuống dốc bến.

Người ấy vừa đi vừa cất tiếng gọi thất thanh, giọng lạc đi giữa tiếng gió rít:

“Hùng ơi! Có phải Đặng Văn Hùng công binh trinh sát C9 đấy không? Hùng ơi!”

Hùng giật mình buông vội bát chè xanh xuống bàn, chống gậy đứng phắt dậy. Anh nheo mắt nhìn qua màn sương chiều đang giăng mờ mặt đê. Dáng người kia, bước chân khập khiễng ấy…

“Cậu... cậu là Toàn ‘rỗ’ trạm điều dưỡng Ba Sao?” Hùng thốt lên, giọng run rẩy vì kinh ngạc.

Người lính lạ mặt lao xuống bến đò, th* d*c không ra hơi. Toàn ngã quỵ xuống bãi cát trước cửa quán, chiếc ba lô con cóc trên vai tuột xuống đất. Toàn nắm chặt lấy cánh tay Hùng, đôi mắt đỏ ngầu, đẫm lệ, bàn tay gầy trơ xương run lên bần bật:

“Hùng ơi... nguy mất rồi! Thằng Triệu... thằng Triệu ‘đen’ cùng tiểu đội với tụi mình... nó sắp không qua khỏi rồi cậu ơi!”

Như một tiếng sét đánh ngang tai giữa trời quang, sắc mặt Hùng biến đổi hoàn toàn. Mặt anh tái mét đi, chiếc gậy tre trên tay run rẩy:

“Cậu nói cái gì? Triệu làm sao? Tháng trước nó còn gửi thư về bảo vết thương mảnh cối ở phổi đã đỡ nhiều, đang dưỡng bệnh ở trại an dưỡng cơ mà?”

Toàn ôm mặt, bật khóc nức nở như một đứa trẻ:

“Bão giá đợt này làm trại an dưỡng kiệt quệ rồi Hùng ơi! Thuốc men viện trợ bị cắt sạch, tiêu chuẩn gạo thịt của thương binh cũng bị rút ruột vì tiền mất giá. Vết thương cũ của Triệu tái phát, áp xe phổi vỡ mủ, lại dính thêm cơn sốt rét ác tính biến chứng. Bác sĩ ở viện quân y bảo phải có ngay ba lọ thuốc kháng sinh đặc trị nhập ngoại của Tiệp Khắc thì mới giữ được tính mạng nó! Nhưng viện hết thuốc mậu dịch rồi, chỉ có ngoài thị trường tự do ở thị xã mới có người tuồn ra bán!”

Toàn run rẩy thọc tay vào ngực áo, lôi ra một mảnh giấy nhàu nát đẫm mồ hôi và một bức thư gấp vội:

“Họ đòi... họ đòi một nghìn hai trăm đồng tiền mới! Một nghìn hai trăm đồng Hùng ơi! Bằng cả gia tài của một gia đình! Tụi tao trong trại an dưỡng vét sạch túi, bán cả chiếc đồng hồ Poljot đồng đội tặng cũng chỉ gom được ba trăm đồng! Bác sĩ bảo chỉ trong vòng bốn mươi tám giờ nữa, nếu không có thuốc tiêm chống nhiễm trùng máu, thằng Triệu... thằng Triệu sẽ đi theo anh Toàn mất thôi! Tao bí quá, nhớ ra quê cậu ở làng Yên Sa gần đây, tao liều mạng nhảy xe tải chạy suốt ngày đêm về tìm cậu... Cậu có cách nào cứu nó không Hùng ơi? Nó là đứa duy nhất còn lại của gia đình liệt sĩ ba đời ở Thái Bình đấy!”

Từng lời nói của Toàn như những nhát đục giáng thẳng vào lồng ngực Hùng.

Hùng đứng chôn chân tại chỗ. Toàn thân anh run rẩy dữ dội. Triệu “đen” — người đồng đội từng cùng anh bò qua bãi mìn ở biên giới Tây Nam, người đã từng cõng anh suốt mười cây số đường rừng khi gối trái của anh bị đạn cối xé toạc, vừa chạy vừa khóc thét gọi tên anh để anh không ngất đi. Giờ đây, người anh em vào sinh ra tử ấy đang thoi thóp trên giường bệnh, giành giật từng hơi thở chỉ vì thiếu ba lọ thuốc, chỉ vì một con số tiền bạc vô tri giữa thời buổi đảo điên này!

Một nghìn hai trăm đồng tiền mới!

Giữa lúc đồng tiền vừa đổi, một tạ thóc chỉ đáng giá vài chục đồng, xưởng mộc đóng cửa, gỗ không có quota, người dân ăn bo bo thay cơm... Kiếm đâu ra một số tiền khổng lồ như thế trong vòng hai ngày?

Hùng siết chặt hai nắm đấm đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay rớm máu. Nỗi bất lực tột cùng bóp nghẹt lấy cổ họng anh. Anh quay mặt ra dòng sông Hồng cuồn cuộn sóng, hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra những tiếng ken két ghê người. Anh giơ nắm đấm lên, tự đấm mạnh vào bên chân tật nguyền của mình trong cơn quẫn trí và uất nghẹn:

“Tại sao... tại sao lại là lúc này? Chiến trường bom đạn không giết nổi chúng tao, mà về đến thời bình... lại để đồng đội tao chết vì không có tiền mua thuốc ư? Khốn nạn! Khốn nạn cái thân tàn phế này!”

“Anh Hùng! Đừng anh!”

Thu hốt hoảng lao tới, hai tay ôm chặt lấy cánh tay đang run rẩy của Hùng, giằng lấy chiếc gậy tre để anh không tự hành hạ bản thân. Nhìn những giọt nước mắt uất hận trào ra từ khóe mắt người lính kiên cường, trái tim Thu như vỡ vụn từng mảnh. Cô chưa bao giờ thấy Hùng tuyệt vọng đến thế. Người đàn ông từng đứng vững trước mũi súng, từng ngẩng cao đầu đối đầu với cả đội kiểm soát của Lê Tiến Bền, nay lại gục ngã trước sự tàn nhẫn của đồng tiền thời bao cấp.

Thu nhìn sang Toàn đang ngồi bệt dưới đất ôm đầu khóc, nhìn bức thư cầu cứu đẫm máu và nước mắt của người lính.

Không một giây do dự, một quyết định dứt khoát lóe lên trong tâm trí người con gái làng Yên Sa. Đôi mắt đen láy của Thu bỗng trở nên tĩnh lặng và kiên định đến lạ thường.

Thu buông tay Hùng ra. Cô không nói một lời nào, lẳng lặng quay gót bước nhanh vào sâu trong mái chòi gỗ.

Bên chân chiếc cột cái bằng gỗ xoan ngâm — nơi vững chãi nhất của quán nước, Thu quỳ sụp hai gối xuống nền đất nện ẩm ướt. Cô gạt đống tro trấu và lớp rơm rạ phủ trên mặt đất sang một bên. Đôi bàn tay thoăn thoắt cào từng lớp đất cát mịn.

Chỉ một lát sau, miệng một chiếc hũ sành da lươn nhỏ bọc vải nhựa xám dần lộ ra.

Đó là chiếc hũ sành sinh mệnh của Thu.

Suốt bốn năm trời, từ mùa đông buốt giá năm 1981 dựng lại quán nước rách tã tượi, trải qua biết bao đêm thức trắng quạt than nướng bánh phỏng rộp hai bàn tay, bao lần nặn từng viên kẹo lạc trong cái lạnh cắt da cắt thịt, Thu đã chắt bóp từng đồng xu, từng tờ bạc hào lẻ. Mỗi hào kiếm được từ mồ hôi nước mắt, cô đều trân trọng vuốt phẳng phiu, nhét vào chiếc hũ sành này. Đó là số tiền cô dành dụm để trả nốt món nợ thuốc men tang ma ba mươi đồng của cha mẹ để lại, là ước mơ về một mái nhà nhỏ yên bình, là danh dự và sự tự do của một người con gái mồ côi không muốn cúi đầu trước bất kỳ ai. Mới tuần trước, cô vừa đem số tiền cũ đi đổi sang tiền mới, cẩn thận đếm từng tờ, gói ghém kỹ càng, chỉ chờ đến cuối năm mang lên trả nốt cho hợp tác xã để rũ sạch mọi âu lo nợ nần kiếp này.

Thu run rẩy ôm chiếc hũ sành vào lòng. Đất cát bám đầy vạt áo nâu của cô.

Cô mở nắp bao tải gai bọc ngoài, giật tung sợi dây chuối khô buộc miệng hũ.

Thu đứng dậy, hai tay ôm chặt chiếc hũ sành bước ra cửa quán. Bóng chiều tà buông xuống sau lưng cô, phủ lên dáng người mảnh mai một quầng sáng ấm áp, rực rỡ.

Hùng vẫn đứng chết lặng bên bờ sông, gió bấc thổi tung mái tóc phong trần của người thương binh.

Thu bước lại gần, đứng đối diện với Hùng. Cô nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu, ngập tràn đau đớn của anh. Không một lời than vãn, không một thoáng tiếc nuối hay đắn đo, Thu dốc ngược chiếc hũ sành.

Từng xấp tiền giấy mới tinh còn thơm mùi mực in, cùng những cọc tiền hào, tiền xu nhôm leng keng trút cạn xuống, rơi trọn vào lòng bàn tay thô ráp, chai sần đang run rẩy kịch liệt của Đặng Văn Hùng.

Gió sông Hồng thổi thốc qua mang theo hơi nước buốt giá, nhưng những đồng tiền mang trọn hơi ấm mồ hôi, nước mắt và cả cuộc đời của Thu đang nằm gọn trong tay anh, nóng rẫy như than hồng.

Thu ngước nhìn Hùng, khóe môi khẽ run lên nhưng ánh mắt sáng ngời niềm tin son sắt, cô nghẹn ngào cất tiếng:

“Anh Hùng... Cầm lấy đi anh. Cứu người đồng đội của anh trước đã!”

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn