Đặng Thị Thắm chưa bao giờ thấy đêm ba mươi Tết nào đến gần mà buốt giá đến tê tái như đêm nay—đêm hăm tám tháng Chạp năm Quý Hợi. Gió mùa đông bắc từ bên kia bãi bồi sông Hồng tràn về, mang theo hơi nước lạnh như kim châm rải đều khắp triền đê Yên Sa. Sương muối giăng đặc quánh, phủ một lớp bụi trắng mờ ảo lên những ngọn cỏ may xơ xác và những rặng chuối tiêu trơ trụi bên mép dốc.
Dưới gian chòi gỗ vừa dựng lại bên bến đò Vạn Cát, không khí đặc quánh lại, ngột ngạt chẳng khác nào chiếc lò than đang bị bít bễ.
“Để tôi thồ đi! Tôi là đàn ông, lại là lính phục viên, cùng lắm thì...”
Hùng vừa gằn giọng vừa gượng chống chiếc gậy tre đứng dậy, nhưng chỉ mới dồn trọng lực xuống chân trái, cơ thể cao lớn của anh đã khẽ lảo đảo. Vết thương đạn súng cối nơi khớp gối sau ba ngày đêm thức trắng rèn sắt, cưa gỗ và đạp chiếc lồng nướng đối lưu đã sưng tấy lên như củ chuối, tấy đỏ qua lớp vải quần lính bạc phếch. Mồ hôi lạnh túa ra trên vầng trán rộng, làm nhòe đi cả vệt muội than trấu còn sót lại.
“Anh Hùng!” Thu hốt hoảng lao tới, hai bàn tay quấn kín những lớp khăn rằn nhuộm đỏ dịch thuốc lá chè vội vã đỡ lấy cánh tay anh. “Anh không được đi! Chân anh thế này, ra đến đầu đê là khuỵu xuống mất. Hay là... hay là em đi! Bác buôn chuyến dẫu có giận, thấy em mang hàng đến tận nơi cũng không nỡ hủy đâu...”
“Chị đi làm sao được mà đi!” Thắm giậm chân một cái rõ mạnh xuống nền đất nện, tiếng nói giòn tan thường ngày giờ nghẹn lại vì sốt ruột. Cô bước phắt tới, giật lấy chiếc ghi-đông của chiếc xe đạp Thống Nhất khung nam đã tróc hết lớp sơn bóng. “Chị nhìn lại đôi tay của chị xem! Chị vừa bốc than cứu lò, da non còn chưa kịp se lại, chạm vào dây thừng chằng sọt là máu ứa ra ngay. Hai người tính ra nộp mạng cho lão Bền cả đôi à?”
Thắm hít một hơi thật sâu, luồng khí lạnh buốt tràn vào lồng ngực khiến đầu óc cô gái mười chín tuổi tỉnh táo lạ thường. Cô nhìn hai sọt bánh kẹo nặng trĩu đặt hai bên gác-ba-ga. Một trăm sáu mươi chiếc bánh đa vừng phồng rộp, thơm nức mùi gạo nếp cái hoa vàng quyện sắn bở; tám mươi phong kẹo lạc vuông vức, vàng óng màu mật mía hoa cau được bọc cẩn thận trong từng lớp giấy báo cũ và lá chuối khô. Đây không chỉ là mẻ hàng Tết đơn thuần. Đây là năm đồng tiền cọc của người ta, là mười lăm đồng nợ tang ma còn lại của thầy u chị Thu, là danh dự của anh trai cô, và là mồ hôi nước mắt của cả bốn con người đã vắt kiệt sức lực suốt mấy ngày đêm qua.
Nếu trước mười hai giờ đêm nay không giao đủ hàng sang bến phà phụ bên kia sông, chiếc thuyền chở hàng đường dài sẽ nhổ neo đi huyện Đông. Khi ấy, hợp đồng bị hủy, tiền phạt đền gấp đôi, và cái quán nước chòi gỗ này sẽ vĩnh viễn mang tiếng quỵt nợ, lừa đảo.
“Để em đi.” Thắm nhìn thẳng vào mắt anh trai, ánh mắt cương nghị không chút nao núng. “Con đê này em chăn trâu cắt cỏ từ ngày còn để chỏm, từng mô đất, từng bụi gai mây em thuộc như lòng bàn tay. Em không dại gì đi trên mặt đê cái để chui đầu vào cái barie của lão Bền đâu. Em sẽ dắt xe men theo lối mòn chân đê, luồn qua bãi ngô xóm Bãi, rồi vòng lên ngã ba Cây Chay. Chỗ ấy bờ đê thoai thoải, vắng tanh, em phóng vèo một mạch là sang đến bến phà.”
“Thắm... nguy hiểm lắm em ơi.” Thu run rẩy níu lấy vạt áo hoa đã rách sờn của Thắm, khóe mắt hoe đỏ rơm rớm nước. “Đêm hôm sương muối, đường chân đê bùn đất trơn như đổ mỡ, một mình em con gái con lứa...”
“Chị Thu!” Thắm nắm lấy bàn tay băng bó của Thu, bóp nhẹ một cái để người con gái mồ côi tội nghiệp ấy an lòng. “Chị gọi em là cô em gái, thì lúc này em phải ra mặt chứ! Anh Hùng tàn tật, chị bị thương, chỉ có em lành lặn nhất. Cứ tin em!”
Hùng nhìn em gái trân trối. Trong đáy mắt người lính trinh sát từng vào sinh ra tử, một tia xúc động mãnh liệt dâng lên, quyện lẫn nỗi xót xa khôn xiết. Anh hiểu tính con bé, đã quyết là trời cũng không cản nổi. Hùng thở hắt ra một hơi, lẳng lặng bước tới bên sọt hàng, dùng đôi bàn tay thợ mộc chai sạn kiểm tra lại từng nút buộc của những sợi dây dù chiến lợi phẩm. Anh kéo căng dây chằng, chèn thêm hai túm rơm nếp vào mép sọt gỗ nghiến để bánh không bị xô lệch khi qua đường xóc.
Thấy anh trai cẩn thận thọc tay vào túi trong của chiếc áo trấn thủ nắn nhẹ một vật gì vuông vắn cộm lên, Thắm khẽ chớp mắt hỏi:
“Anh Hùng, tờ giấy xác nhận của Ủy ban với biên lai hợp tác xã chiều nay anh với bác Thược vừa xin được đâu? Đưa đây em nhét vào cạp quần mang theo, lỡ có chạm mặt trạm gác thì chìa ra cho chúng nó khỏi hạch sách.”
Hùng lập tức lắc đầu, giọng anh đanh lại đầy vẻ cẩn trọng:
“Không được. Tờ giấy xác nhận kèm con dấu đỏ của xã với biên lai thuế là bản gốc duy nhất, chiều nay anh và bác Thược phải chầu chực, cam kết mãi mới xin được chữ ký của đồng chí Phó Chủ tịch xã. Con đường mòn bãi ngô chân đê lầy lội trơn trượt, sương muối ướt sũng, ngộ nhỡ em trượt ngã ngập bùn làm ướt rách hay nhòe mất con dấu thì toi công. Hơn nữa, em là phận gái non nớt, nếu gặp đám dân quân trật tự hay lão Bền lộng quyền, lão thấy em thân cô thế cô sẽ giật phăng xé nát phi tang ngay tại trận. Tờ giấy hộ mệnh ấy để anh giữ. Em cứ lách lối tắt ven sông đi trước, anh sẽ nhờ bác Thược lấy xe thồ bọc lót, mang theo giấy tờ hợp pháp đón lõng ở ngã ba Cây Chay. Có biến là anh ra mặt đối chất đường đường chính chính ngay!”
Nghe anh trai tính toán kín kẽ đâu ra đấy, Thắm gật đầu tin phục. Hùng rút từ trong túi áo trấn thủ ra một vật bọc trong manh bao tải nhỏ, dúi vào tay Thắm:
“Cầm lấy cái này. Là củ gừng nướng còn ấm, lạnh quá thì ngậm một lát cho ấm giọng. Đi lối bãi ngô phải cẩn thận bùn lầy.”
“Em biết rồi!” Thắm nở một nụ cười giòn tan quen thuộc để xua tan không khí ảm đạm. Cô với chiếc khăn len màu chàm quấn kín cổ, đội sụp chiếc mũ nồi vải bạt của anh trai lên đầu, rồi thoăn thoắt dắt chiếc xe thồ bước ra khỏi chòi.
Gió sông Hồng lập tức táp thẳng vào mặt Thắm rát buốt. Hai sọt bánh kẹo nặng gần một tạ đè trĩu gác-ba-ga khiến chiếc xe đạp cọt kẹt r*n r* theo từng vòng quay của xích líp. Thắm ghì chặt tay lái, gồng đôi vai gầy guộc đẩy chiếc xe men theo con dốc đá dẫn xuống đường mòn ven sông.
Màn đêm ở làng Yên Sa những năm tháng bao cấp tối tăm như hũ nút. Không một ánh đèn điện, không một bóng người qua lại. Xa xa, chỉ có tiếng chó cắn ma sủa vu vơ từ những xóm ngõ sâu hoắm, tiếng sóng phù sa đập vào vách đất lở bì bọp như tiếng thở dài của dòng sông mùa cạn.
Thắm cắn chặt môi, mắt căng ra dò từng vết lún trên mặt đất. Con đường mòn dưới chân đê trũng thấp, nước mưa phùn mấy ngày trước vẫn còn đọng lại thành những vũng bùn quánh dẻo như cháo. Bánh xe đạp thồ lún ngập nửa vành, nặng trịch. Thắm phải hạ thấp người, dùng cả hông và đùi tì vào gióng xe, nhích từng bước một. Đôi dép nhựa Tiền Phong mòn vẹt đế trượt liên tục trên bùn trơn, có những đoạn dốc nghiêng, đất nhão kéo tụt cả chân cô xuống, bùn non ngập lên tận bắp chân buốt như ngâm trong hầm đá.
Hơi thở của Thắm dồn dập, phả ra thành từng luồng khói trắng xóa giữa sương đêm. Mồ hôi bắt đầu vã ra từ trán, chảy dọc sống lưng, ướt đẫm manh áo hoa mỏng manh rồi nhanh chóng bị gió bấc thổi cho lạnh toát. Đôi bàn tay con gái vốn chỉ quen đưa thoi dệt vải và bẻ ngô nay tì chặt vào ghi-đông sắt lạnh ngắt đến tê dại, mất hết cảm giác. Nhưng trong tâm trí cô, hình ảnh đôi bàn tay phỏng rộp rỉ máu của chị Thu khi liều mạng bốc than dập lửa, và ánh mắt đau đáu, bất lực của anh Hùng lúc gãy gậy cứ chập chờn hiện lên.
“Mình phải đi. Bằng mọi giá phải đưa số hàng này sang sông an toàn!” Thắm tự nhủ, nghiến răng đẩy mạnh chiếc xe qua một vũng lầy ngập ngụa rơm mục.
Mùi mật mía ngọt lịm và mùi vừng thơm ngậy từ hai chiếc sọt nan kín mít thoang thoảng bay ra, át đi mùi bùn bốc lên nồng nặc. Đó là mùi của sự sống, mùi của mồ hôi lương thiện, của sự chắt chiu từ từng hạt thóc, củ sắn mà chị Thu đã gom góp suốt hai năm ròng rã. Thắm thương chị Thu vô cùng. Một cô gái mồ côi đơn chiếc, sống nép mình dưới bóng cây đa bến đò, bị người đời dị nghị, bị những kẻ như Lê Tiến Bền chèn ép đủ đường, vậy mà chưa bao giờ buông một lời oán thán. Chị Thu đã vực anh Hùng dậy từ đáy sâu của sự tuyệt vọng, đã thắp lại ngọn lửa ấm áp trong gia đình họ Đặng vốn đã nguội ngắt suốt bao năm trời. Với Thắm, người phụ nữ ấy từ lâu đã là chị dâu của cô, là người mà cả nhà cô phải mang ơn và bảo bọc.
Qua được bãi ngô xóm Bãi, con đường mòn bắt đầu dốc ngược lên đê chính. Đoạn này là ngã ba rẽ ra bến phà phụ, chỉ còn cách bờ sông bên kia chưa đầy hai cây số đường cái. Thắm thở phào một hơi nhẹ nhõm, ngẩng đầu nhìn lên triền đê. Trên ấy, sương mù có vẻ thưa hơn, chỉ cần dắt xe vượt qua đoạn dốc này là có thể nhảy lên yên, đạp một mạch tới điểm hẹn trước giờ tý.
Nhưng đúng lúc chiếc bánh trước của xe đạp vừa chạm vào mép đá dăm trên triền đê, một âm thanh khô khốc rợn người bất thần vang lên:
Rắc! Ken két!
Từ trong lùm tre gai rậm rạp bên vệ đường, một thanh tre luồng già to bằng bắp đùi người lớn, sơn hai màu đỏ trắng loang lổ, bất ngờ hạ sập xuống chắn ngang toàn bộ lối đi.
Thắm giật thót tim, hoảng hốt bóp chặt phanh. Chiếc xe đạp trĩu nặng bị khựng lại đột ngột, quán tính đẩy cả thân xe trượt dài trên lớp đá dăm lởm chởm. Thắm phải gồng hết sức bình sinh, xoạc hai chân ra ghì chặt lấy khung xe, suýt nữa thì cả người lẫn hai sọt hàng đã lộn nhào xuống mép hào sâu hoắm.
Chưa kịp hoàn hồn, ba luồng ánh sáng chói lòa từ những chiếc đèn pin sắt ba pin của Liên Xô đồng loạt bật sáng, quét thẳng vào mặt cô.
“Đứng im! Bắt quả tang rồi nhé!”
Ánh sáng gay gắt làm Thắm lóa mắt, cô đưa cánh tay áo lên che, tim đập thình thịch như trống trận. Giữa màn đêm lạnh lẽo, ba bóng người lù lù bước ra từ trạm gác dã chiến được che bằng mấy tấm cót rách nép sau bụi tre. Đi đầu là một dáng người gầy quắt, chiếc áo dạ sĩ quan cũ màu cỏ úa cài khuy kín mít đến tận cổ, chiếc khăn len xám quấn nhiều vòng quanh cổ họng, và dưới nách luôn cặp kè một cuốn sổ bìa xanh bóng mỡ.
Lê Tiến Bền!
Nụ cười trên gương mặt choắt cheo của gã Đội phó trạm kiểm soát giãn ra, đắc thắng và ghê tởm như một con cú vọ vừa tóm được con chuột đồng giữa đêm đông. Phía sau gã, hai dân quân trẻ của xã Yên Sa, tay lăm lăm gậy tầm vông bịt sắt, lập tức tản ra hai bên khóa chặt đường lui của Thắm.
“A chà chà... Đặng Thị Thắm!” Giọng Bền the thé, mỉa mai đến gai ốc. “Đêm hôm khuya khoắt, rét mướt thế này mà con gái rượu nhà ông Quỳ lại chịu khó lội bùn, lách đường mòn chân đê thế này cơ à? Đê cái thênh thang không đi, lại rúc bờ rúc bụi như quân trộm đạo. Chở cái gì nặng thế kia hả cô em?”
Thắm hít một hơi sâu, nén chặt nỗi sợ hãi đang trào lên trong lồng ngực. Cô đứng thẳng người, bàn tay vẫn nắm chặt ghi-đông xe, đôi mắt đen láy nhìn trừng trừng vào mặt Bền:
“Tôi đi đâu, chở cái gì là việc của tôi! Tôi đi đường làng ngõ xóm chứ có đi ăn trộm ăn cướp của nhà anh đâu mà anh hạ barie chặn đường người ta?”
“Đường làng ngõ xóm à?” Bền cười khẩy, bước từng bước chậm rãi lại gần chiếc xe thồ. Gã đưa ngón tay trỏ dài ngoằng gõ gõ lên mép sọt. “Cô tưởng qua mặt được cái trạm kiểm soát liên ngành này à? Đừng tưởng ban ngày các người thậm thụt nhóm lò dưới bến đò mà mắt tôi không nhìn thấy! Khói mùn cưa, mùi mật mía bay nồng nặc cả khúc sông, điếc mũi người ta!”
Dứt lời, Bền không đợi Thắm cho phép, bàn tay gầy guộc như móng chim ưng giật phăng lớp bao tải dứa và mớ lá chuối khô đậy trên miệng sọt.
Dưới ánh đèn pin sáng quắc, những phong kẹo lạc vàng óng phủ kín vừng thơm lừng và những chồng bánh đa nướng phồng rộp, tròn trịa, tăm tắp hiện ra rõ mồn một. Mùi thơm ngào ngạt của đường mía hoa cau, của gừng tươi và nếp mới lập tức tràn ngập không gian buốt giá, như một sự thách thức trơ trẽn đối với chiếc áo dạ cũ kỹ và cuốn sổ bìa xanh của Lê Tiến Bền.
Mắt Bền sáng rực lên một tia nhìn độc địa. Gã reo lên, giọng điệu hân hoan như bắt được vàng:
“Bắt quả tang nhé! Bắt tại trận! Một sọt, hai sọt... cả trăm chiếc bánh đa, hàng mấy chục phong kẹo! Hàng hóa nhiều thế này mà dám to mồm bảo không buôn bán tư thương? Vận chuyển nông sản, thực phẩm chế biến số lượng lớn qua ranh giới hành chính trái phép, trốn tránh trạm kiểm soát trong đêm tối! Đây là tội đầu cơ tích trữ, phá hoại trật tự lưu thông phân phối của Nhà nước!”
Bền quay phắt lại hai dân quân, quát lớn:
“Các đồng chí ghi nhận hiện trường! Thu giữ toàn bộ tang vật và phương tiện vận chuyển! Tịch thu chiếc xe đạp Thống Nhất này cùng hai sọt hàng, áp giải người và tang vật về kho hợp tác xã để lập biên bản xử lý làm gương!”
Hai thanh niên dân quân ngập ngừng một thoáng. Họ cùng là người làng Yên Sa, biết Thắm là con gái ông thợ mộc Quỳ, em gái thương binh Hùng, nên có phần e dè. Nhưng trước cái uy hách dịch và chức quyền của Đội phó kiểm soát, một người bước tới, giơ tay định giật lấy chiếc ghi-đông xe.
“Không được động vào!”
Thắm hét lên một tiếng xé ruột, toàn thân cô lao về phía trước, hai cánh tay dang rộng, ôm ghì lấy hai chiếc sọt tre trên gác-ba-ga. Đôi mắt cô gái trẻ long lên sòng sọc, đỏ hoe vì phẫn uất:
“Các anh không có quyền tịch thu! Đây là bánh kẹo nhà tôi làm, từ chút thóc nếp khoán dư, từ mật mía gia đình tăng gia! Tết nhất đến nơi, tôi thồ sang sông đổi lấy củi, lấy mớ cá cho gia đình ăn Tết, các anh dựa vào đâu mà bảo tôi đầu cơ buôn lậu?”
“Đổi chác à? Ai cho phép các người tự do lưu thông hàng hóa kiểu ấy?” Bền xấn tới, mặt gã đỏ gay vì bị một đứa con gái cãi lại. Gã rút mạnh cuốn sổ bìa xanh kẹp dưới nách, đập chan chát vào ghi-đông xe. “Chỉ thị của huyện, quyết định của Ban quản trị Hợp tác xã sờ sờ ra đấy! Mọi nông sản, thực phẩm chế biến vượt hạn mức tự cấp tự túc đều phải nằm dưới sự điều phối của Nhà nước và Mậu dịch quốc doanh! Cô mang hàng ra khỏi địa phận xã mà không có giấy phép lưu thông của Ban chỉ đạo thị trường là phạm pháp! Buông tay ra! Đừng để tôi khép cô vào tội chống người thi hành công vụ!”“Tôi không buông!” Thắm vừa khóc vừa gào lên, nước mắt trào ra hòa vào sương muối buốt lạnh trên hai gò má ửng hồng. “Các anh là đồ tàn nhẫn! Mấy người các anh ngồi trong trạm ấm chén trà, có biết chị Thu phải bốc than cháy bỏng cả hai bàn tay để nướng từng chiếc bánh này không? Có biết anh Hùng tôi chân đau lết không nổi vẫn phải thức trắng mấy đêm để đóng cái lò không? Đây là mồ hôi, là máu, là miếng cơm manh áo của người nghèo! Các anh muốn cướp để dồn người ta vào đường chết à?”
“Láo xược! Rõ ràng là tư tưởng con buôn ngoan cố!” Bền giận tím mặt, giơ tay túm lấy bả vai Thắm, giật mạnh cô ra khỏi sọt hàng. “Kéo nó ra! Tịch thu ngay lập tức!”
Hai dân quân bị quát liền xông vào kéo tay lái. Chiếc xe đạp chao đảo dữ dội. Trong lúc giằng co hỗn loạn, thanh tre chắn barie rung bần bật, những nhánh mắt tre sắc nhọn quệt ngang qua người Thắm. Gai tre cào rách toạc một mảng bắp tay áo hoa, rạch vào da thịt cô một vệt dài rướm máu đỏ tươi. Cơn đau rát buốt ập đến, nhưng Thắm dường như không hề cảm thấy. Cô vẫn cắn chặt răng đến bật máu môi, hai bàn chân bấm chặt xuống lớp đá dăm, mười đầu ngón tay bấu chặt vào nan sọt nứa đến mức bật cả móng.
Chiếc xe nghiêng ngả, một phong kẹo lạc ở mép sọt rơi xuống đất, vỡ vụn dưới gót giày của Lê Tiến Bền. Nhìn mảnh kẹo vàng ươm bị dẫm nát dưới bùn, Thắm thét lên nghẹn ngào:
“Bớ người ta! Cướp! Giết người cướp của giữa đêm hôm rồi bà con ơi!”
“Bịt miệng nó lại!” Bền hoảng hốt quát lên, sợ tiếng la hét kinh động đến xóm Bãi gần đó. “Lôi nó về đồn!”
“DỪNG TAY LẠI!”
Một tiếng quát vang lên như sấm rền giữa đêm đông buốt giá, xé toang màn sương muối đặc quánh. Tiếng quát đầy uy lực, trầm hùng và đanh thép, mang theo khí thế của một người từng gầm thét chỉ huy giữa làn đạn pháo chiến trường.
Cả Bền lẫn hai dân quân đều giật thót người, bất giác dừng tay lại.
Từ phía con dốc dẫn lên mặt đê cái, tiếng bước chân nện cồm cộp xuống nền đá dăm vang lên đều đặn, dứt khoát.
Cộp... cộp... cộp...
Mỗi tiếng gậy gõ xuống đất như một nhát búa giáng vào không gian tĩnh mịch. Một bóng người cao lớn, vai rộng vững chãi, dần dần hiện ra từ trong màn sương mờ mịt. Đặng Văn Hùng bước tới. Anh khoác chiếc áo trấn thủ bạc màu của lính công binh, chiếc khăn rằn rách quấn hờ quanh cổ. Dù bước chân trái phải khập khiễng, dù mỗi bước đi là một cơn đau buốt nhói chạy dọc từ khớp gối lên tận óc, nhưng lưng anh vẫn thẳng tắp như một cây tùng sừng sững giữa gió bấc.
Phía sau anh, bác Thược thợ rèn với chiếc búa con vắt bên hông và bà cụ Vấn tay chống gậy tre, miệng nhai trầu đỏ thắm, cũng đang vội vã rảo bước đi theo.
“Anh Hùng!” Thắm òa khóc nức nở, bao nhiêu uất ức, đau đớn lúc này mới vỡ òa ra. Cô vịn vào ghi-đông xe, cánh tay rách áo rỉ máu run rẩy.
Hùng bước nhanh tới bên em gái. Ánh mắt anh lướt qua vết rách trên tà áo hoa và vệt máu tươi trên cánh tay Thắm, rồi nhìn xuống phong kẹo lạc bị giẫm nát dưới đất. Trong đáy mắt người lính trinh sát, một ngọn lửa giận dữ bốc lên ngùn ngụt, lạnh lùng và sắc bén như lưỡi lê tuốt trần. Anh bước lên một bước, chắn ngang giữa Thắm và ba người của trạm kiểm soát, tấm lưng rộng như bức tường thành vững chãi che chở trọn vẹn cho cô em gái nhỏ.
Lê Tiến Bền thoáng giật mình lùi lại nửa bước trước khí thế bức người của Hùng. Nhưng rồi, nhìn thấy chiếc gậy tre trên tay Hùng và cái chân tật nguyền đang run rẩy, bản tính hách dịch, trịch thượng của gã lại trỗi dậy. Gã chỉnh lại chiếc khăn len xám, cười gằn một tiếng:
“A, anh thương binh Đặng Văn Hùng! Đến đúng lúc lắm. Anh nhìn xem, em gái anh đang làm cái trò gì giữa đêm hôm khuya khoắt thế này? Vận chuyển nông sản tiểu thủ công nghiệp trái phép, trốn tránh kiểm soát, lại còn lăng mạ, chống đối lực lượng thi hành công vụ! Anh là đảng viên, là quân nhân phục viên, anh dạy dỗ người nhà thế này đấy à?”
Bền đắc chí phe phẩy cuốn sổ bìa xanh, giọng điệu đầy vẻ đe dọa:
“Tôi nói cho anh biết, tang chứng rành rành ra đây rồi! Hai sọt hàng này sẽ bị tịch thu sung công quỹ. Tôi cũng sẽ làm văn bản gửi lên Đảng ủy và Ủy ban xã Yên Sa, đề nghị xem xét lại tư cách thương tật và tiêu chuẩn cung cấp gỗ của gia đình anh! Đừng tưởng có mấy cái huân chương mà muốn ngồi xổm lên kỷ cương của tập thể!”
Hai dân quân đứng bên cạnh nghe Bền nói vậy thì lấy lại vẻ mặt lạnh lùng, định bước lên kéo chiếc xe thồ đi.
Nhưng Hùng không hề nhúc nhích. Khuôn mặt góc cạnh, phong sương của anh đanh lại như tạc bằng đá hoa cương. Đôi mắt thâm trầm nhìn xoáy thẳng vào đôi mắt lươn giảo quyệt của Lê Tiến Bền, không hề có lấy một tia sợ hãi hay nao núng.
“Lê Tiến Bền.” Hùng cất tiếng, giọng anh trầm thấp nhưng sang sảng, từng từ từng chữ rành rọt như rót vào tai mọi người giữa triền đê vắng. “Anh đừng mở miệng ra là đem cái danh nghĩa tập thể ra để dọa dẫm, ức h**p dân lành! Anh bảo số hàng này là buôn lậu, là đầu cơ tích trữ trái phép? Anh dựa vào đâu?”
“Dựa vào đâu à?” Bền cười tướng lên, chỉ tay vào hai sọt bánh. “Cả trăm cái bánh đa, gần trăm phong kẹo! Hàng hóa lưu thông qua ranh giới xã mà không có giấy tờ mậu dịch, không qua trạm kiểm soát, không có hóa đơn chứng từ, không phải hàng lậu thì là cái gì? Anh giải thích được thì tôi mở barie cho anh đi!”
“Được! Vậy thì anh mở to mắt ra mà nhìn cho rõ!”
Hùng lạnh lùng thọc tay vào túi trong của chiếc áo trấn thủ cũ. Anh cẩn thận rút ra một chiếc túi bóng kính nhỏ được buộc dây chun kỹ càng để chống sương ẩm. Mở lớp túi bóng, Hùng lấy ra hai mảnh giấy được gập phẳng phiu, giơ thẳng ra trước luồng ánh sáng đèn pin của trạm kiểm soát.
Tờ giấy thứ nhất chìa ra trước mặt Bền. Đó là một tờ biên lai in trên giấy bổi vàng ngà, có tiêu đề rõ ràng: “Hợp tác xã Tiểu thủ công nghiệp và Mộc dân dụng xã Yên Sa”. Phía dưới, dòng mực tím nắn nót ghi rõ: “Tạm thu tiền trích nộp quỹ phúc lợi và thuế nông sản phụ gia đình xã viên Đặng Văn Hùng - đợt hàng Tết Giáp Tý”. Con dấu vuông đỏ au của Hợp tác xã cùng chữ ký tươi rói của bác Kế toán trưởng xã nằm trang trọng ở góc dưới.
Mặt Bền hơi biến sắc, nụ cười trên môi gã khựng lại một nửa.
Hùng không để cho gã kịp hoàn hồn, lập tức mở tiếp tờ giấy thứ hai. Tờ giấy này được đánh máy chữ rõ ràng trên tiêu đề của “Ủy ban nhân dân xã Yên Sa - Hội đồng Thương binh Xã hội”. Nội dung ghi rõ: Xét đơn đề nghị tự lực cánh sinh, tạo việc làm phụ cận cho thương binh nặng phục viên hạng hai Đặng Văn Hùng và gia đình, Ủy ban xã xác nhận và đồng ý cho phép cơ sở làm bánh kẹo truyền thống được lưu thông, trao đổi sản phẩm thủ công để tự trang trải sinh hoạt trong dịp Tết Nguyên đán năm 1984.
Ở góc dưới tờ giấy, con dấu tròn đỏ chót của Ủy ban nhân dân xã Yên Sa in đè lên chữ ký quen thuộc của đồng chí Phó Chủ tịch xã phụ trách khối nội chính—một cựu chiến binh thời chống Pháp đầy uy tín!
“Anh Bền!” Giọng Hùng vang lên, đanh thép như tiếng búa gõ đe. “Hàng này là sản phẩm lao động chính đáng của thương binh tàn tật và gia đình xã viên nghèo, làm ra từ hạt gạo củ sắn tăng gia, đã nộp thuế đầy đủ cho Hợp tác xã theo đúng tinh thần Chỉ thị một trăm của Ban Bí thư! Lại được chính Ủy ban nhân dân xã ký giấy xác nhận hỗ trợ lưu thông phục vụ bà con dịp Tết! Giấy trắng mực đen, dấu đỏ tươi của chính quyền còn chưa ráo mực! Anh bảo đây là hàng lậu? Anh muốn tịch thu hàng này, tức là anh coi thường quyết định của Ủy ban xã, hay là anh cố tình muốn bóp nghẹt đường sống của thương binh phục viên?”
Không khí trên triền đê bỗng chốc im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió rít qua rặng tre ngà.
Hai người dân quân trẻ nhìn thấy con dấu tròn đỏ chót của Ủy ban xã thì hoảng hốt, vội vàng rụt tay lại, lùi ra xa chiếc xe đạp như thể vừa chạm phải lửa. Ở làng quê thời bấy giờ, con dấu đỏ của Ủy ban xã là thứ quyền lực tối cao, không một trật tự viên nào dám cả gan làm trái.
Bác Thược thợ rèn lúc này mới bước lên, chiếc búa con trong tay gõ nhẹ vào thanh tre chắn barie kêu cốp một tiếng giòn tan, cất giọng oang oang:
“Đúng đấy chú Bền ạ! Chiều nay đích thân tôi cùng anh Hùng lên gặp Ban quản trị và đồng chí Phó Chủ tịch xã để nộp thuế đàng hoàng rồi. Giấy tờ hợp lệ thế này, chú mà còn đòi giam xe, cướp hàng của người ta thì sáng mai tôi lôi cả cái xóm Mộc này lên trụ sở xã đòi lẽ công bằng đấy!”
Bà cụ Vấn cũng nhổ toẹt một bãi bọt trầu đỏ thắm xuống vệ cỏ, đôi mắt tinh anh nheo lại nhìn Bền, giọng bà run rẩy nhưng đanh gọn:
“Chú Bền ơi là chú Bền... Người ta đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm manh áo ấm ăn Tết, chứ có buôn gian bán lận của ai đâu. Đừng có cậy chút quyền rơm vạ đá mà thất đức với con cháu, tội chết chú ạ!”
Lê Tiến Bền đứng chôn chân tại chỗ. Mặt gã lúc trắng bệch, lúc lại chuyển sang màu xám ngoét như tro bếp dưới ánh đèn pin. Cặp mắt lươn ti hí của gã dán chặt vào con dấu đỏ tươi của Ủy ban xã, bàn tay cầm cuốn sổ bìa xanh run rẩy kịch liệt. Gã không thể ngờ được rằng, một người lính tưởng chừng chỉ biết đục đẽo gỗ như Hùng, lại có thể đi trước gã một bước, lẳng lặng hoàn tất mọi thủ tục hành chính ngặt nghèo ấy ngay trong buổi chiều tà.
Nụ cười ngạo mạn, đắc thắng ban nãy trên mặt Bền chợt đông cứng lại, méo mó một cách thảm hại. Cái bẫy mà gã kỳ công giăng ra suốt mấy ngày đêm, thanh tre chắn barie mà gã cất công hạ xuống giữa đêm sương muối để tóm gọn mẻ lưới cuối năm, nay lại biến thành một trò cười trơ trẽn trước mắt bàn dân thiên hạ.
“Anh Bền.” Hùng bước lên thêm nửa bước, giọng anh chùng xuống nhưng đầy sức nặng ngàn cân. “Mười hai giờ đêm nay là chuyến thuyền nhổ neo. Anh định giữ chúng tôi ở đây để bồi thường hợp đồng cho dân buôn, hay là anh mở barie?”
Bền cắn chặt răng, cơ mặt co giật từng hồi. Gã nhìn quanh, thấy hai dân quân đã lén lút cụp đèn pin xuống đất, thấy bác Thược và bà cụ Vấn đang nhìn mình bằng ánh mắt khinh bỉ tột cùng. Biết rõ nếu làm căng lúc này, gã sẽ mang tội làm trái lệnh Ủy ban xã và chèn ép thương binh, Bền đành nuốt cục tức nghẹn ứ vào trong cổ họng.
“Mở... nâng thanh tre lên!” Bền gằn từng tiếng qua kẽ răng, giọng the thé run lên vì giận dữ.
Một dân quân vội vã chạy lại, nhấc bổng thanh tre chắn lên. Con đường đá dăm dẫn ra bến phà phụ lại mở toang trước mắt.
Thắm thở hắt ra một hơi dài, nước mắt tuôn rơi lấp lánh dưới ánh đèn pin, nhưng lần này là những giọt nước mắt nhẹ nhõm và tự hào. Cô nhìn anh trai mình bằng ánh mắt tràn đầy sự ngưỡng mộ. Hùng khẽ nghiêng đầu, đưa bàn tay thô ráp vỗ nhẹ lên vai em gái:
“Đi đi em. Cẩn thận đường trơn. Bác Thược sẽ đạp xe theo hộ tống em sang tận bến phà.”
“Dạ!” Thắm quệt vạt áo lau nước mắt, nhanh nhẹn nhảy lên yên chiếc xe đạp Thống Nhất. Bác Thược cũng vội vã dắt chiếc xe Phượng Hoàng cũ đuổi theo sau. Tiếng xích líp cọc cạch và tiếng bánh xe lăn đều trên nền đá dăm nhanh chóng hòa vào màn đêm sương muối, lao vút đi về phía bờ sông rực ánh đèn phà.
Nhưng ngay khi chiếc xe đạp vừa lăn bánh qua cần barie tre, linh tính mách bảo khiến Thắm bất giác ngoái đầu nhìn lại.
Dưới quầng sáng vàng vọt, tù mù hắt ra từ ngọn đèn bão treo bên đ**m canh dã chiến, Thắm rùng mình ớn lạnh khi bắt gặp trọn vẹn gương mặt của Lê Tiến Bền. Gã vẫn đứng chôn chân bên thanh tre vừa hạ sập trở lại, tấm lưng gầy gò co ro trong chiếc áo dạ cũ. Nụ cười ngạo mạn khi nãy đã biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho một vẻ mặt tím tái, méo mó vì căm hờn. Đôi mắt lươn ti hí của gã nheo lại, dán chặt vào tấm lưng cao lớn nhưng khập khiễng của Hùng đang quay gót về phía bến đò, ánh lên những tia nhìn hằn học độc địa như rắn độc chực cắn trộm giữa đêm đông.
Thắm thấy hai hàm răng vàng ố của Bền nghiến trèo trẹo vào nhau, những ngón tay gầy guộc bóp nát mép cuốn sổ bìa xanh. Từ kẽ môi gã phì phò phả ra từng luồng hơi khói buốt giá, lẫn trong tiếng gió bấc rít qua rặng tre ngà là những lời lẩm bẩm gằn từng tiếng cay độc, the thé ghê rợn như tiếng kim loại cào vào vách đá:
“Được lắm... Cứ đợi đấy! Các người tưởng có mấy tờ giấy lộn ấy là kê cao gối ngủ yên được à? Cứ ăn cho hết cái Tết này đi! Qua giêng hai, trong cuộc họp toàn thể xã viên tổng kết khoán sản phẩm và thanh trừng kinh tế tư thương lén lút, tao sẽ đưa cái lò bánh kẹo của con ranh mồ côi với cái xưởng mộc của bố con mày ra trước bàn dân thiên hạ! Để xem lúc ấy, cái huân chương với cái chân thọt của mày có đỡ nổi đòn này không!”
Gió lạnh rít từng cơn qua tai, nhưng Thắm ghì chặt tay lái, cắn chặt môi nhấn mạnh từng vòng bàn đạp lao về phía trước. Lòng cô gái trẻ vừa dâng trào niềm vui sướng vì cứu thoát mẻ hàng Tết trong gang tấc, vừa trĩu nặng một linh cảm âu lo trước cơn bão ngầm tàn khốc đang chực chờ bùng nổ trên đất làng Yên Sa ngay sau những ngày Tết Nguyên đán.