Gió từ lòng sông Hồng thổi thốc lên triền đê xơ xác, mang theo hơi lạnh buốt giá của đợt gió mùa đông bắc đầu mùa, táp thẳng vào chòi quán bằng gỗ xoan ngâm. Nhưng trong lòng bàn tay Đặng Văn Hùng lúc này, những tờ bạc giấy mới cùng nắm tiền hào, tiền xu nhôm lại nóng rực như một bọc than hồng vừa gắp ra khỏi bễ lò rèn.
Hùng đứng chết trân, cánh tay buông thõng run lên bần bật. Mắt anh dán chặt vào mớ tiền lộn xộn đang nằm trọn trong đôi bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của mình. Anh ngửi thấy một mùi hương quen thuộc đến thắt lòng xộc thẳng vào sống mũi: mùi ngai ngái của đất nện dưới gầm cột cái, mùi ngọt khé của mật mía hoa cau, mùi gừng già cay nồng từ những mẻ kẹo lạc lưu cữu qua năm tháng và cả mùi mồ hôi chua nồng vất vả của người con gái đang đứng trước mặt.
Đó là những tờ tiền giấy mới tinh của đợt đổi tiền vừa diễn ra vào trung tuần tháng Chín năm 1985. Hùng nhớ rất rõ, mới chỉ tuần trước thôi, khi cả nước rúng động trước lệnh thu hồi tiền cũ để phát hành tiền mới theo tỷ lệ mười đổi một, Thu đã phải thức từ nửa đêm, lén đào chiếc hũ sành chôn dưới chân cột lên để mang số tiền tích cóp suốt bốn năm ra bàn đổi tiền của ủy ban xã. Cô cẩn thận xếp từng hào lẻ, vuốt phẳng từng nếp gấp cũ kỹ sờn rách, nộp vào để đổi lấy những tờ bạc mệnh giá mới còn thơm nguyên mùi mực in của nhà máy in tiền quốc gia. Đổi xong, sợ trộm cắp và sợ cả những cặp mắt nhòm ngó của đội kiểm soát, cô lại tỉ mỉ bọc mớ tiền mới ấy vào ba lớp bao tải gai và mảnh vải nhựa xám chống ẩm, chôn sâu xuống ba tấc đất dưới chân chiếc cột cái gỗ xoan vững chãi nhất quán nước.
Chín trăm đồng tiền mới! Một con số khổng lồ đối với một thân gái mồ côi gánh vác quán nước ven sông, nơi từng đồng bạc lẻ gom nhặt chỉ tính bằng xu, bằng hào.
Đây là máu thịt, là sinh mệnh, là bốn năm thanh xuân ròng rã của Thu.
Hùng biết quá rõ từng đồng bạc này từ đâu mà có. Chúng chắt ra từ những đêm đông gió hú đến thấu xương khi Thu thức trắng bên bếp trấu, hai bàn tay rộp bỏng vì quạt than nướng bánh đa; từ những buổi trưa hè oi nồng dãi nắng dầm mưa gánh từng thùng nước sông lắng phèn lên đun nước chè xanh phục vụ khách nhỡ đò; từ những lần cô phải nuốt nước mắt nuốt cả tủi nhục khi bị người ta dè bỉu, bị tay Đội phó kiểm soát Lê Tiến Bền vác sổ xanh xuống hạch sách từng đồng thuế chợ. Cô đã nhịn ăn, nhịn mặc, cắn răng dằn lòng trước manh áo mới ngày Tết để chắt chiu từng hào. Số nợ gốc ba mươi đồng ngày cha mẹ qua đời, sau bao năm cô thắt lưng buộc bụng chắt bóp trả dần, nay chỉ còn lại mười lăm đồng quy thóc với hợp tác xã. Số tiền trong chiếc hũ sành này là tất cả vốn liếng liều mạng của cô, chỉ chờ ngày trả dứt mười lăm đồng quy thóc ấy vào kỳ quyết toán cuối năm để rũ sạch nợ nần, ngẩng cao đầu làm một người con gái lương thiện giữa làng Yên Sa.
Vậy mà giờ đây, cô trút sạch. Không một cái chớp mắt do dự. Không một tiếng thở dài tiếc nuối.
“Thu... Không được!”
Cổ họng Hùng nghẹn đắng, thanh âm thốt ra khản đặc như tiếng gỗ mục cọ vào đá tảng. Anh toan khép các ngón tay lại để đẩy xấp tiền về phía chiếc hũ sành da lươn vẫn còn dính đất cát bết dính trên nền đất, nhưng đôi bàn tay nhỏ bé, thô ráp với những vết sẹo bỏng than chưa kịp lành của Thu đã vội vã phủ lên mu bàn tay anh.
Bàn tay cô lạnh ngắt vì gió sông, nhưng cái siết chặt của cô lại truyền sang anh một luồng nhiệt lượng mãnh liệt đến run rẩy.
“Anh Hùng, nghe em nói đã!”
Thu ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt phong trần, hốc hác của người thương binh. Dưới ánh chiều tà ảm đạm, Hùng nhìn thấy đôi mắt đen láy của cô gái mồ côi thường ngày vẫn đượm một nỗi buồn sâu thẳm, nay bỗng rực lên một thứ ánh sáng trong veo và kiên định đến kỳ lạ.
“Tiền bạc là thứ người ta làm ra được. Mất đi rồi, em với anh còn đôi bàn tay, còn khối óc, thức khuya dậy sớm một đôi năm nữa rồi cũng sẽ kiếm lại được. Lò nướng bánh cải tiến anh đóng cho em vẫn còn đó, bến đò Vạn Cát này khách khứa vẫn qua lại mỗi ngày, em không sợ khổ, không sợ đói. Nhưng anh Triệu... anh ấy chỉ có một mạng sống duy nhất thôi anh!”
Giọng Thu nghẹn lại, một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài qua gò má rám nắng bánh mật, rớt xuống xấp tiền giấy còn vương mùi mực in lẫn mùi đất ẩm:
“Anh ấy là đồng đội của anh, là người đã cõng anh vượt qua làn đạn cối ở biên giới Tây Nam để anh lành lặn trở về làng Yên Sa này với em. Nếu không có anh ấy hy sinh tấm thân xẻ dọc chiến trường, thì ngày hôm nay làm sao có một Đặng Văn Hùng đứng đây che mưa chắn gió cho quán nước này? Anh Triệu là con một của gia đình ba đời liệt sĩ, anh ấy ngã xuống thời bình thì u già ở quê biết nương tựa vào ai? Món nợ của thầy u em, mười lăm đồng quy thóc ấy em xin khất lại với hợp tác xã, cùng lắm là em đi làm cỏ bờ, cuốc đất trừ công điểm thêm một vài vụ nữa. Nhưng nếu để anh Triệu chết vì thiếu tiền thuốc... thì cả đời này anh sẽ sống trong cắn rứt, mà em... em cũng không bao giờ có thể thanh thản nhìn vào mặt anh được nữa!”
Từng lời, từng chữ của Thu như nhát đục nện thẳng vào tim Hùng. Người lính dạn dày bom đạn, từng cắn răng nhẫn nhịn trước sự hách dịch của chính quyền xã, nay bỗng thấy sống mũi cay xè. Một giọt nước mắt mặn chát bất giác trào ra khỏi khóe mi sâu hoắm của anh, rơi trúng vào vạt áo trấn thủ cũ sờn.
Phía sau lưng họ, Toàn “rỗ” vẫn ngồi bệt dưới đất. Nghe những lời gan ruột của người con gái chèo chống quán nước nghèo, Toàn đưa hai bàn tay gầy guộc lên ôm chặt lấy mặt, đôi vai rung lên bần bật. Người lính công binh từng xông pha trận mạc run rẩy gượng dậy, vội vàng móc từ trong ruột tượng quấn quanh bụng ra một bọc vải dù cũ kỹ.
Toàn đặt bọc vải dù vào tay Hùng, giọng run bắn lên vì xúc động:
“Anh Hùng... Phân đội gom góp mãi, vét cạn cả tiền phụ cấp lẫn tiền bán chiếc đồng hồ Poljot của em cũng chỉ được ba trăm đồng tiền mới này thôi. Nhờ chín trăm đồng của chị Thu, gộp lại là tròn một nghìn hai trăm đồng, vừa vặn đủ số tiền thuốc ngoại cứu mạng anh Triệu rồi! Chị Thu... Ơn này của chị đối với phân đội và gia đình anh Triệu, lính công binh chúng em xin khắc cốt ghi tâm. Cả đời này anh em chúng em không bao giờ dám quên tấm lòng vàng ngọc của chị!”
“Chú Toàn! Anh em một nhà cả, đừng nói lời khách sáo!”
Hùng gắt khẽ một tiếng, nhưng thanh âm đã lạc đi vì xúc động. Nhìn sang Thu, thấy nụ cười hiền hậu pha lẫn giọt nước mắt cảm thông trên gương mặt cô, Hùng hiểu rằng mọi lời từ chối lúc này đều là phụ bạc tấm lòng son sắt của người con gái mình thương.
Anh cẩn thận gom trọn chín trăm đồng của Thu cùng ba trăm đồng của phân đội, gói chặt vào vuông vải nhựa rồi nhét sâu vào chiếc túi vải dù bộ đội đeo bên hông, cài then chốt sắt cẩn thận. Đôi mắt Hùng bừng lên ngọn lửa quyết liệt của người lính trinh sát năm nào trước giờ xuất kích:
“Thu... Ơn này của em, đời này kiếp này Đặng Văn Hùng xin ghi tạc vào xương tủy. Chú Toàn, dắt chiếc xe đạp của anh ra! Chúng ta phải đạp tắt qua ngả đê Bến Cốc lên thẳng Bệnh viện Đa khoa tỉnh ngay trong đêm. Bốn mươi cây số đường bùn, bằng mọi giá trước khi trời sáng phải đưa được số tiền này đến tay bác sĩ!”
“Dạ! Em đi ngay!” Toàn quệt ngang dòng nước mắt, vội vã lao ra chiếc xe đạp Phượng Hoàng cũ kỹ dựng bên gốc đa.
Hùng chống gậy, toan bước nhanh theo Toàn thì một bóng đen lầm lũi từ sau rặng chuối hột nơi đầu con dốc dẫn xuống bến đò khẽ lay động.
Trời chập choạng tối. Dưới ánh hoàng hôn đỏ ối như máu đang lặn dần xuống bờ bên kia sông Hồng, bóng dáng một người đàn ông lớn tuổi đứng lặng phắc như một pho tượng đá cổ.
Đó là ông Đặng Văn Quỳ.
Hùng khựng lại, tim thắt nghẹn. Bàn tay anh bất giác siết chặt lấy chiếc gậy tre đến trắng bệch các đầu ngón tay. Cha anh đã đứng đó từ lúc nào? Ông đã nghe thấy những gì? Suốt hai mươi năm qua, nỗi sợ hãi về thời kỳ cải tạo công thương nghiệp, nỗi ám ảnh về việc xưởng mộc của tổ tiên bị niêm phong đã biến ông Quỳ thành một người đàn ông cay nghiệt, cẩn trọng đến hèn nhát. Ông từng đập gãy chiếc bào gỗ của Hùng, từng mắng chửi anh thậm tệ, từng cấm tiệt anh bén mảng đến quán nước vì sợ vạ lây từ cái tội “buôn bán tư thương” mà Lê Tiến Bền gieo rắc. Liệu giờ đây, khi thấy anh mang cả một bọc tiền khổng lồ đi lo việc bao đồng giữa thời buổi đổi tiền nhiễu nhương này, ông có lại nổi trận lôi đình, có lại đem chữ “bất hiếu” ra để trói buộc chân anh?
Hùng nhìn sang Thu, thấy cô cũng vừa nhận ra bóng dáng ông Quỳ. Mặt Thu tái đi, hai bàn tay luống cuống túm chặt lấy vạt áo nâu, rụt rè cúi đầu:
“Thầy... thầy mới ra chơi ạ...”
Gió bấc rít qua những kẽ tre kẽo kẹt. Không khí bỗng chốc đông cứng lại, ngột ngạt đến nghẹt thở.
Hùng đứng thẳng người, dù bên chân tật nguyền đang nhói buốt từng cơn sau một ngày dài đứng máy lò nướng. Anh nhìn thẳng vào mắt cha, chuẩn bị đón nhận một trận thịnh nộ lôi đình. Anh đã quyết rồi, dù cha có mắng nhiếc, có đoạn tuyệt tình phụ tử, đêm nay anh cũng phải đi cứu Triệu.
Thế nhưng, điều kỳ lạ đã xảy ra.
Ông Quỳ không hề quát tháo. Đôi bàn tay gân guốc, chai sạn vì nửa thế kỷ cầm cưa cầm đục của người nghệ nhân già buông thõng bên sườn, khẽ run lên một cách bất thường. Ánh mắt ông không còn vẻ sắc lạnh, dò xét hay sợ sệt như mọi khi. Đôi mắt đùng đục dấu ấn của thời gian ấy đang dán chặt vào chiếc hũ sành rỗng không nằm chỏng trơ dưới đất, rồi chuyển sang nhìn đôi bàn tay trần lạnh cóng của Thu.
Trên khóe mắt đầy những vết chân chim sâu hoắm của người cha già nghiêm khắc, một giọt nước mắt đục ngầu bất chợt ứa ra, chầm chậm lăn qua gò má nhăn nheo, rơi xuống chòm râu điểm bạc.
Cả đời Hùng, từ thuở ấu thơ nhìn xưởng mộc gia đình bị dán giấy niêm phong, cho đến ngày nhận giấy báo tử hụt của anh từ chiến trường gửi về, anh chưa từng thấy cha mình rơi nước mắt. Người đàn ông ấy có thể cắn răng chịu đựng những trận đấu tố oan khiên, có thể nuốt đắng cay ăn bo bo ròng rã hàng chục năm trời để giữ lấy cái cốt cách thợ mộc họ Đặng, nhưng chưa bao giờ khóc trước mặt con cái.
Vậy mà lúc này, giọt nước mắt hiếm hoi ấy lại rơi vì tấm lòng thơm thảo của một người con gái mồ côi ngoài dòng họ.
Ông Quỳ khẽ thở hắt ra một hơi dài, mang theo tất cả những u uất, định kiến và nỗi sợ hãi đè nặng trong lồng ngực suốt bao năm qua tan biến vào làn sương lạnh sông Hồng. Ông bước chầm chậm xuống dốc đê, bước chân già nua giẫm trên nền cát lạo xạo.
Đến trước mặt Hùng, ông Quỳ dừng lại. Ánh mắt ông nhìn sâu vào đôi mắt người con trai cả, rồi khẽ gật đầu, giọng trầm và nghẹn lại:
“Đi đi con. Cứu lấy bạn mày. Đi cho kịp trước khi trời trở gió lớn... Đường xa đêm tối, nhớ trông chừng cái chân đau.”
Hùng sững sờ, lồng ngực nghẹn ứ không thốt nên lời. Anh chỉ biết gập đầu thật mạnh:
“Thầy... con đi!”
Nói rồi, ông Quỳ quay sang nhìn Thu. Ánh mắt nghiêm nghị thường ngày đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự trìu mến xót xa của một người cha nhìn đứa con gái ruột thịt chịu nhiều cơ cực. Ông mở miệng định nói điều gì đó, nhưng rồi lại thôi. Ông chỉ khẽ đưa bàn tay thô ráp vỗ nhẹ lên vai cô một cái, rồi lẳng lặng quay lưng bước ngược lên triền đê, bóng lưng còng còng đổ dài trong ráng chiều chập choạng.
Cái vỗ vai ấy nhẹ như một làn gió thoảng, nhưng đối với Thu, nó nặng tựa thái sơn. Hùng nhìn thấy khóe mắt Thu ướt đẫm, đôi vai nhỏ run lên từng chặp khi cô đưa tay che miệng để ngăn tiếng nấc nghẹn ngào.
“Đi thôi chú Toàn!”
Hùng quàng chiếc khăn rằn bộ đội lên cổ, dứt khoát nhảy lên gióng sau chiếc xe đạp Phượng Hoàng. Chiếc xe đạp cọc cạch lao vút vào màn đêm mịt mùng trên mặt đê sông Hồng, bỏ lại sau lưng ánh đèn dầu le lói ấm áp từ căn chòi gỗ của người con gái đang đứng ngóng theo.
*
Đêm ấy là một đêm dài dằng dặc khắc sâu vào ký ức của Đặng Văn Hùng.
Những cơn gió heo may se lạnh cuối thu quyện với đợt gió mùa đông bắc đầu mùa tràn về dữ dội, rít từng hồi qua những rặng phi lao ven đường đê. Mưa phùn bắt đầu rơi lất phất, quyện với đất cát biến mặt đường thành những bãi bùn nhão nhoét quánh đặc như keo dán gỗ. Chiếc xích xe đạp Phượng Hoàng khô dầu kêu lách cách từng chập nặng trĩu.
Khớp gối trái của Hùng tấy đỏ, mảnh đạn cối găm sâu trong xương tủy gặp gió lạnh bắt đầu hành hạ anh bằng những cơn đau buốt nhói như có ngàn mũi kim châm. Mồ hôi lạnh vã ra đầm đìa trên trán, ướt đẫm cả lưng áo trấn thủ, nhưng Hùng không hề hé răng kêu một tiếng. Cứ mỗi lần cơn đau ập đến, bàn tay anh lại vô thức chạm vào chiếc túi vải dù đeo bên hông. Hơi ấm từ bọc tiền chứa trọn chín trăm đồng mồ hôi nước mắt của Thu và ba trăm đồng nghĩa tình của phân đội như tiếp thêm cho anh một nguồn sức mạnh vô song, thúc giục anh vượt qua cơn hành xác.
Bốn giờ sáng, khi tiếng gà gáy canh tư bắt đầu râm ran vọng ra từ các xóm làng ven thị xã, hai chiếc bóng xiêu vẹo, lấm lem bùn đất từ đầu đến chân cuối cùng cũng đẩy chiếc xe đạp gãy một bên pê-đan vào cổng Bệnh viện Đa khoa tỉnh.
Không khí bên trong khu điều trị ngoại khoa nồng nặc mùi thuốc sát trùng carbolic và mùi ẩm mốc của những tấm chăn chiên cũ rách. Dưới ánh đèn ống huỳnh quang chập chờn nhập nhèm, hành lang bệnh viện lạnh tanh, thi thoảng lại vang lên tiếng rên xiết đau đớn của các bệnh nhân nặng.
Hùng chống gậy khập khiễng lao thẳng vào phòng cấp cứu số ba.
Trên chiếc giường sắt tróc sơn loang lổ, Triệu “đen” nằm bất động. Khuôn mặt người lính trinh sát từng một thời ngang dọc chiến trường nay teo tóp, xanh xao như tàu lá chuối héo, hai hốc mắt trũng sâu đen ngòm. Ống dẫn lưu từ lồng ngực anh cắm xuống chiếc bình thủy tinh đặt dưới gầm giường liên tục sủi bọt khí lẫn dịch mủ vàng đục. Bên cạnh giường, một người phụ nữ trạc bốn mươi tuổi — vợ Triệu — đôi mắt sưng húp vì khóc nhiều ngày, đang run rẩy dùng khăn ướt lau những giọt mồ hôi lạnh ngắt trên trán chồng.
“Bác sĩ! Bác sĩ đâu rồi!” Toàn “rỗ” thở không ra hơi, đập cửa phòng trực thất thanh.
Vị bác sĩ già đeo cặp kính trắng dày cộp vội vã bước ra, trên mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi và bất lực:
“Các đồng chí làm cái gì mà ầm ĩ thế? Đã bảo là trường hợp này áp xe phổi giai đoạn cuối vỡ vào màng phổi, nếu không có thuốc kháng sinh đặc trị của Tiệp Khắc thì chỉ cầm cự được đến sáng nay thôi. Tiêu chuẩn phân phối của bệnh viện đã cạn kiệt, thuốc ngoài thị trường tự do thì giá cắt cổ, các đồng chí kiếm đâu ra chín trăm đồng còn thiếu trong lúc này để đủ một nghìn hai trăm đồng cả viện phí...”
“Có đủ tiền đây rồi! Thưa bác sĩ, chúng tôi gom đủ một nghìn hai trăm đồng đây rồi!”
Hùng gạt Toàn sang một bên, run rẩy cởi chiếc túi vải dù ra. Trước ánh mắt sững sờ của vị bác sĩ và người nhà bệnh nhân, Hùng dốc toàn bộ gói tiền chín trăm đồng của Thu và ba trăm đồng của phân đội đặt lên mặt bàn trực.
Mùi mật mía ngọt dịu và mùi gừng già ấm nồng từ những tờ tiền lưu cữu trong hũ sành của Thu lập tức lan tỏa, xua bớt đi cái mùi thuốc sát trùng chết chóc trong căn phòng lạnh lẽo.
“Đúng một nghìn hai trăm đồng tiền mới! Bác sĩ đếm đi! Cứu lấy bạn tôi... Làm ơn, cứu lấy đồng đội của tôi!” Hùng nắm chặt lấy vạt áo blouse trắng của người thầy thuốc, hai mắt đỏ ngầu khẩn thiết.
Vị bác sĩ già ngơ ngác nhìn đống tiền lẻ được vuốt phẳng phiu, xếp ngay ngắn từng góc mép. Ông khẽ chạm tay vào xấp tiền, ngửi thấy mùi mật mía thân thương của đồng quê, rồi ngước nhìn khuôn mặt phong trần đẫm mồ hôi cùng chiếc chân tập tễnh của Hùng. Đôi mắt người thầy thuốc già chợt ánh lên niềm xúc động sâu xa. Ông không đếm lại, chỉ gật đầu thật mạnh:
“Được rồi! Tôi sẽ mở tủ thuốc dự phòng đặc biệt ngay lập tức! Các đồng chí yên tâm, còn nước còn tát, chúng tôi sẽ dốc toàn lực!”
Cánh cửa phòng mổ cấp cứu khép lại. Đèn đỏ bật sáng.
Hùng ngồi sụp xuống băng ghế đá lạnh ngắt ngoài hành lang, buông rơi chiếc gậy tre sang một bên. Đôi chân anh tê dại hoàn toàn, không còn cảm giác. Bên cạnh anh, vợ Triệu nghẹn ngào nắm chặt lấy bàn tay thô ráp của Hùng, đôi vai gầy run lên vì xúc động và biết ơn tột cùng, nước mắt giàn giụa ướt đẫm cổ tay anh. Hùng chỉ khẽ lắc đầu, đỡ chị ngồi ngay ngắn lại rồi ngửa mặt lên trần nhà bệnh viện, trút một hơi thở dài nhẹ nhõm.Trong tâm trí anh lúc này, chỉ hiện lên hình ảnh đôi mắt đen láy và nụ cười dịu dàng của Thu bên bếp lửa bến đò Vạn Cát.
*
Mười ngày sau.
Cơn bão đổi tiền và điều chỉnh giá - lương - tiền năm 1985 vẫn tiếp tục càn quét qua từng ngõ ngách, xóm chợ, nhưng nhịp sống bên bến đò Vạn Cát đã dần tìm lại được sự thăng bằng nhờ vào sự tháo vát của Thu.
Không còn tiền vốn để xoay xở mua bán những chuyến hàng lớn, Thu triệt để áp dụng phương thức “hàng đổi hàng”. Khách qua đò từ mạn trung du xuống mang theo sắn củ, măng khô, củi gộc; người từ mạn biển lên mang theo mắm cá, muối hạt; bà con trong làng mang sang bơ gạo nếp cái hoa vàng, rổ đỗ xanh... Tất cả đều có thể đem đổi lấy những phong kẹo lạc giòn xốp thơm lừng, những chiếc bánh đa vừng nướng phồng rộp và bát nước chè xanh nóng hổi của Thu.
Quán nước chòi gỗ không những không bị lụi tàn sau khi Thu dốc cạn hũ sành tiết kiệm, mà trái lại, nó trở thành một trạm dừng chân nhộn nhịp, nghĩa tình nhất trên khúc sông Hồng này. Người ta tìm đến quán không chỉ để ăn tấm bánh, uống ngụm nước, mà còn để sưởi ấm lòng mình giữa những ngày tháng gian nan, ngột ngạt của thời cuộc.
Buổi trưa hôm ấy, nắng hanh vàng như mật trải nhẹ trên những triền ngô xanh mướt bãi bồi. Khúc sông Hồng êm đềm trôi, lấp lánh ánh bạc phù sa.
Một người đưa thư của bưu điện huyện đạp chiếc xe cà tàng dừng lại trên đê, cất tiếng gọi với xuống bến:
“Có thư từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh gửi cho đồng chí Đặng Văn Hùng và cô Nguyễn Thị Thu ở bến đò Vạn Cát!”
Tiếng gọi lập tức thu hút sự chú ý của bà con xóm Mộc và xóm chài đang ngồi uống nước trong quán. Bác Thược thợ rèn đang nhấp dở ngụm nước chè vội đặt chiếc bát sành xuống, Thắm đang thoăn thoắt đảo vừng trên nia cũng dừng tay, cùng chạy ùa ra.
Hùng từ sau chòi bước ra, tay vẫn cầm chiếc giũa sắt đang mài dở lưỡi dao cắt kẹo. Anh run run đón lấy phong bì thư dán tem cẩn thận từ tay người đưa thư. Nét chữ bên ngoài ngay ngắn, nhưng hơi run, được viết bằng mực Cửu Long xanh thẫm: “Kính gửi: Ân nhân Nguyễn Thị Thu và đồng đội Đặng Văn Hùng — Bến đò Vạn Cát, xã Yên Sa”.
“Anh Hùng! Mở ra đọc đi anh! Có phải tin của anh Triệu không?” Thắm sốt ruột giục giã, đôi mắt long lanh ngập tràn hy vọng.
Mọi người xung quanh đều nín thở, quây quần lại quanh chiếc bàn mộc giữa chòi. Cụ Vấn bỏm bẻm nhai trầu, đôi mắt tinh anh từng trải nhìn chăm chú vào phong thư. Hùng nhìn sang, thấy hai bàn tay Thu đan chặt vào nhau run rẩy, lồng ngực phập phồng theo từng nhịp thở dồn dập đầy hồi hộp.
Hùng hít một hơi thật sâu, cẩn thận xé mép phong bì. Bên trong là một bức thư dài ba trang viết trên giấy kẻ ngang học trò đã hơi ngả vàng, nét chữ có chỗ nhòe đi vì những giọt nước mắt rơi xuống lúc viết.
Hùng cất giọng trầm ấm, nhưng từng câu từng chữ đều chất chứa sự rung động mãnh liệt từ đáy lòng:
“Kính gửi chú Hùng và em Thu — người em gái anh chưa từng được gặp mặt...
Hôm nay, sau mười ngày nằm giữa ranh giới của sự sống và cái chết, Triệu ‘đen’ này mới có thể tự mình gượng dậy cầm bút viết những dòng này gửi về cho hai em.
Bác sĩ bảo, nếu chậm chừng một tiếng đồng hồ nữa thôi, khối mủ áp xe tràn kín cuống phổi thì dù có là thần tiên cũng không cứu nổi anh. Nhưng trời cao có mắt, tình đồng đội và tấm lòng thơm thảo của em Thu đã giật anh lại từ tay tử thần. Mấy mũi kháng sinh Tiệp Khắc mua bằng mồ hôi nước mắt của em đã phát huy tác dụng. Hôm nay phổi anh đã thông, không còn sốt, dịch mủ đã cạn. Bác sĩ bảo chỉ cần an dưỡng chừng nửa tháng nữa là anh được xuất viện về với u già và vợ con.
Các em à, ngày hôm qua khi tỉnh lại, nghe nhà anh kể lại chuyện em Thu đã dốc cạn chiếc hũ sành chôn dưới đất suốt bốn năm trời — số tiền gom góp từng hào để trả nốt món nợ mười lăm đồng quy thóc của thầy u — để cứu lấy cái mạng tàn này của anh, người lính già này đã khóc như một đứa trẻ. Cả đời anh đi đánh giặc, bom đạn cày xới nát thịt da anh chưa từng rơi một giọt nước mắt, vậy mà hôm nay anh khóc vì cảm phục, vì biết ơn một người con gái làng Yên Sa mà anh chưa từng được diện kiến.
Vợ anh bảo, lúc cầm những đồng tiền ấy đưa cho bác sĩ, cả phòng cấp cứu ai cũng ngửi thấy mùi thơm của mật mía và gừng tươi. Mùi thơm ấy không chỉ cứu sống một mạng người, mà nó còn cứu sống cả niềm tin vào tình người, vào đạo nghĩa giữa cái thời buổi nhiễu nhương, đảo điên vì miếng cơm manh áo này.
Món nợ này, anh Triệu xin ghi lòng tạc dạ. Anh đã dặn u già ở nhà nuôi lại đàn gà con, chắt chiu từng gánh thóc, đợi ngày anh bình phục khỏe mạnh, anh sẽ đích thân về làng Yên Sa, bước vào quán nước bến đò Vạn Cát để cúi đầu cảm tạ em Thu, người em gái đã cho anh được sống thêm một lần nữa...
Hùng ơi, em có một người con gái như thế ở bên đời, em là người đàn ông hạnh phúc nhất trần gian này rồi. Hãy giữ lấy cô ấy, che chở cho cô ấy suốt đời em nhé!”
Hùng đọc đến câu cuối cùng thì giọng anh nghẹn lại hoàn toàn. Anh không thể đọc tiếp được nữa.
Cả chòi quán im phăng phắc. Gió sông Hồng thổi qua mang theo tiếng sóng vỗ rì rào vào bờ bãi phù sa.
Bác Thược thợ rèn đưa bàn tay hộ pháp quệt mạnh lên khóe mắt đỏ hoe, rồi vỗ mạnh một cái thật kêu lên vai Hùng:
“Khá lắm! Thằng Triệu sống rồi! Người lính của chúng ta sống rồi! Tấm lòng của con bé Thu... thật đúng là vàng mười không gì sánh nổi!”
Mấy bà, mấy chị gánh hàng rong ngồi quanh quán sụt sùi lau nước mắt. Cụ Vấn khẽ gật gù, miệng nhai trầu đỏ thắm, cất giọng run run:
“Phúc đức tại mẫu... Trời Phật có mắt cả đấy các con ạ. Cái tâm con bé Thu nó sáng như trăng rằm, bến đò này nhờ có nó mà ấm áp bao nhiêu năm nay.”
Hùng nhìn sang Thu. Cô đứng lặng bên mép bàn gỗ, những giọt nước mắt lăn dài qua gò má rám nắng. Hùng hiểu rằng đó không phải là những giọt nước mắt tủi hờn của chuỗi ngày cơ cực, mà là niềm xúc động nghẹn ngào khi biết rằng sự hy sinh của mình đã cứu sống một con người, đã mang lại sự sống cho một gia đình người lính nghèo.
Hùng bước lại gần Thu. Bốn mắt nhìn nhau đắm đuối giữa sự chứng kiến của dân làng. Trong ánh mắt của người thương binh lúc này không còn một chút mặc cảm, không còn sự tự ti về đôi chân tật nguyền hay cảnh ngộ bần hàn. Chỉ có một tình yêu sâu thẳm, sự trân trọng và lòng biết ơn vô hạn dành cho người con gái mảnh mai trước mặt. Anh đưa bàn tay thô ráp khẽ siết chặt lấy bàn tay nhỏ bé của Thu, những ngón tay đan chặt vào nhau không rời.
Đúng lúc ấy, từ phía con dốc lát gạch nghiêng dẫn xuống bến đò, một bóng người chầm chậm bước tới.
Tiếng bước chân giẫm trên nền đất rất khẽ khàng, nhưng lại khiến cả quán nước bỗng chốc im bặt.
Người vừa bước tới là ông Đặng Văn Quỳ.
Hôm nay, ông Quỳ không mặc bộ quần áo lao động lấm lem mùn cưa như mọi bận. Ông mặc một chiếc áo cánh vải đại màu nâu gụ còn khá lành lặn, mái tóc điểm bạc được chải gọn gàng ra phía sau. Đôi bàn tay gân guốc chắp sau lưng, dáng đi khoan thai nhưng ánh mắt lại chứa chan một sự xúc động sâu kín.
Mọi người trong quán dạt sang hai bên nhường lối. Hùng giật mình, toan buông tay Thu ra theo phản xạ, nhưng lần này, anh chợt khựng lại, ngón tay vẫn siết chặt lấy tay cô, kiên định đứng đón ánh nhìn của cha.
Thế nhưng, ông Quỳ không hề nhìn vào sự gắn kết của đôi trẻ với ánh mắt giận dữ như trước. Ông bước thẳng vào bên trong chòi gỗ — nơi mà suốt bốn năm qua, dù mưa hay nắng, ông chưa từng một lần đặt chân tới vì nỗi sợ hãi mang tiếng với hợp tác xã.
Ông dừng lại trước chiếc bàn mộc ở gian giữa. Đôi mắt người nghệ nhân già chăm chú ngắm nhìn từng đường nét của chiếc bàn, chiếc ghế đẩu do chính tay con trai mình đóng. Ông đưa bàn tay gân guốc v**t v* mép gỗ xoan ngâm, sờ vào từng đường mộng mang cá khít khao, tinh xảo không một vết hở, không cần dùng đến một chiếc đinh sắt. Khóe miệng ông khẽ mỉm cười — một nụ cười hiếm hoi nở trên gương mặt khắc khổ sau hai mươi năm đằng đẵng nén nhịn.
Ông Quỳ từ từ ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ xoan ngâm ấy. Chiếc ghế mà Hùng từng thức trắng đêm lén lút đóng tặng Thu trong những ngày đầu anh tìm lại ý nghĩa cuộc đời.
“Thầy...” Hùng khẽ thốt lên, giọng run rẩy.
Ông Quỳ ngước nhìn lên, ánh mắt dừng lại trên khuôn mặt đang bối rối, e ấp của Thu. Người cha già khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ nhõm, rồi cất giọng trầm ấm, chậm rãi:
“Cô Thu... Rót cho tôi xin một bát nước chè tươi.”
Một câu nói ngắn gọn, mộc mạc như bao câu nói của người khách qua đò, nhưng rơi vào không gian lúc này lại vang vọng như một lời tuyên bố chấn động.
Ông gọi cô là “cô Thu”, ông xin một bát nước chè, và quan trọng nhất, ông đã ngồi lên chiếc ghế mộc của con trai mình bên trong quán nước của cô!
Rào cản ngăn cấm suốt bao năm qua, bức tường định kiến sắt đá tưởng chừng không thể phá vỡ của dòng họ Đặng danh giá xóm Mộc... nay đã hoàn toàn sụp đổ trước chén nước chè xanh và tấm lòng vàng mười của người con gái mồ côi.
Hùng nhìn thấy Thu run run vì xúc động. Cô luống cuống lấy chiếc bát sứ hoa lam đẹp nhất, cẩn thận tráng qua nước sôi, rồi múc một muôi nước chè xanh sóng sánh, thả vào đó một lát gừng tươi thái mỏng. Hai tay bưng bát nước dâng lên trước mặt ông Quỳ, Thu nghẹn ngào cất tiếng:
“Dạ... con mời thầy xơi nước ạ!”
Tiếng “thầy” thốt ra từ miệng Thu tự nhiên, nghẹn ngào mà đong đầy sự kính trọng.
Ông Quỳ đón lấy bát nước từ đôi bàn tay rám nắng, đầy sẹo bỏng của Thu. Hơi khói nghi ngút bốc lên, mang theo hương chè tươi chát ngọt và vị gừng nồng ấm phả vào khuôn mặt già nua của ông. Người nghệ nhân nâng bát nước lên môi, nhấp một ngụm thật sâu, rồi gật đầu tán thưởng:
“Nước đậm, gừng cay, ngọt hậu... Tốt lắm. Đúng là phong vị của đất Yên Sa.”
Ông ngước nhìn Hùng, rồi lại nhìn Thu, ánh mắt chan chứa sự bao dung và chấp thuận tuyệt đối:
“Hai đứa... từ nay cứ yên tâm mà làm ăn. Xưởng mộc nhà ta, từ ngày mai thằng Hùng cứ mở toang cửa ra mà đón gỗ. Ai nói ngả nói nghiêng, cái thân già này sẽ đứng ra gánh vác!”
Tiếng vỗ tay rộ lên từ bác Thược, từ cụ Vấn và bà con chèo đò xung quanh chòi quán. Thắm ôm chầm lấy chị dâu tương lai, nước mắt giàn giụa vì sung sướng. Khung cảnh bến đò Vạn Cát bỗng chốc ngập tràn trong niềm hân hoan, ấm áp như thể mùa xuân đã thực sự gõ cửa từng mái nhà.
Ông Quỳ khẽ mỉm cười, chầm chậm đặt chiếc bát sứ hoa lam xuống mặt bàn gỗ xoan.
“Cạch.”
Tiếng va chạm thanh mảnh giữa đáy bát sứ và mặt gỗ xoan vừa vang lên, thì bỗng nhiên—
“Tò... te... tí... Rè... rè...”
Một tràng âm thanh chói tai, rít lên từng hồi ghê rợn cắt ngang bầu không khí ấm áp của quán nước. Tiếng loa phóng thanh của xã Yên Sa gắn trên ngọn cây đa cổ thụ đầu bến đò bỗng sôi lên sùng sục, tiếng màng loa kim loại rung lên bần bật trong gió lạnh.
Tất cả mọi người đều giật mình khựng lại, ngước mắt nhìn lên ngọn đa.
Sau tiếng tằng hắng khô khốc quen thuộc, giọng nói the thé, hách dịch và đanh thép của Lê Tiến Bền vang lên chát chúa, dội thẳng xuống bến sông vắng:
“A lô! A lô! Thông báo khẩn của Ban Quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp xã Yên Sa!
Yêu cầu toàn thể bà con xã viên, các đồng chí đảng viên, đoàn viên và cán bộ các thôn xóm đúng bảy giờ tối nay có mặt đông đủ tại sân đình làng Yên Sa để tham dự cuộc họp toàn thể bất thường!
Nội dung cuộc họp: Kiểm điểm công tác quản lý lương thực, chấn chỉnh trật tự lưu thông phân phối và tiến hành đấu tố, xử lý triệt để các phần tử buôn bán tư thương, đầu cơ tích trữ, chiếm dụng đất đai công cộng tại khu vực bến đò Vạn Cát, làm tha hóa nếp sống kinh tế tập thể!
Nhắc lại: Đúng bảy giờ tối nay tại sân đình! Ai vắng mặt sẽ bị trừ ba mươi công điểm và đình chỉ tiêu chuẩn mua hàng mậu dịch quý bốn! A lô... hết!”
Tiếng loa vừa dứt, không gian bến đò bỗng chốc rơi vào một sự im lặng chết chóc.
Gió sông Hồng lại thốc lên từng cơn buốt giá. Giông bão lớn nhất, khốc liệt nhất đã chính thức kéo đến trước thềm sân đình làng Yên Sa.