Thích Thốn Tâm chỉ mơ màng ngủ được một lát, vừa sáng trời đã mở mắt gọi Liễu Nhứ vào.
Sau khi rửa mặt chải đầu, thay một bộ y phục khác, Thích Thốn Tâm đến bữa sáng cũng chẳng kịp ăn, đã vội vàng dẫn theo Tử Ý, Tử Như cùng những người khác sang bờ bên kia sông Tử Viên.
Chu Tĩnh Phong đang ngồi trước bàn uống cháo. Ông liếc nhìn nét chữ trên mảnh giấy nhăn nhúm, nói: “Hắn đã là bằng hữu của con, nếu giờ đây thật sự bị người khác khống chế, vậy chuyện này nhất định là nhắm vào con.”
“Cho nên con càng phải mau chóng tìm được hắn.”
Thích Thốn Tâm bưng chén trà, cúi đầu nói: “Nhưng đứa trẻ ấy chẳng biết gì cả. Khi chiếc bánh nướng đến tay con vẫn còn nóng, cho nên nơi hắn mua bánh nhất định không cách Ngọc Hiền Lâu quá xa. Con đã bảo Tử Như mang chân dung hắn đi tìm, nhưng gần đó có đến bốn năm hàng bán bánh nướng, chủ các hàng đều nói người qua lại quá đông, không nhớ rõ dung mạo.”
“Sau đó con lại nhớ ra mỗi lần mua bánh nướng, con đều bảo người bán cho thêm nhân sữa và vừng. Chiếc bánh con nhận được cũng có rất nhiều nhân sữa và vừng. Cuối cùng dựa vào chi tiết ấy, con mới tìm ra hàng bánh hắn đã mua nằm trên phố Tấn Nam phía sau Ngọc Hiền Lâu.”
Nhưng ngoài chuyện ấy ra, Thích Thốn Tâm không còn biết thêm tin tức gì khác.
“Người của thái tử đã tìm kiếm ở phố Tấn Nam mà vẫn không thấy sao?” Chu Tĩnh Phong uống một ngụm trà.
Thích Thốn Tâm lắc đầu: “Không ạ, đã lục soát hết rồi.”
“Tổng quản Kha Tự dưới tầng ngầm Thải Hí viên nói Tiểu Cửu chạy nạn đến Nguyệt Đồng, hắn nhặt được Tiểu Cửu giữa đám ăn mày.”
Trước khi rời đi, Tạ Miểu đã bảo Hàn Chương đứng đợi bên ngoài điện Tử Ương, chờ Thích Thốn Tâm ra khỏi điện thì kể lại những chuyện này cho nàng.
“Thế là hắn cho một người Hán đến từ Bắc Ngụy như Tiểu Cửu thay mặt Lý Thích Thành ký khế ước tiếp quản Thải Hí viên. Lý do hắn đưa ra là gì?” Chưa đợi Thích Thốn Tâm nói tiếp, Chu Tĩnh Phong đã mỉm cười, ngẩng mắt nhìn cô nương trẻ tuổi ngồi đối diện. “Bởi hắn là người Hán ở Bắc Ngụy, nên nhất thời khó điều tra rõ thân phận, lại không có liên quan gì đến các thế lực ở Nam Lê, không dễ khiến người khác nghi ngờ?”
“Đúng vậy.” Thích Thốn Tâm gật đầu.
“Con tin sao?”
Chu Tĩnh Phong thổi chén trà trong tay.
“Không tin.”
Thích Thốn Tâm đáp.
Nghe vậy, Chu Tĩnh Phong không khỏi nhướng mày. Có lẽ hơi bất ngờ vì nàng nói ra hai chữ “không tin” mà chẳng chút do dự, ông liền có hứng thú: “Vì sao không tin?”
“Trong trận chiến Tuy Ly, có bao nhiêu dân tị nạn người Hán từ vùng biên giới Bắc Ngụy chạy đến Nam Lê? Sao lại trùng hợp đến thế, bọn chúng tùy tiện tìm trong đám ăn mày mà lại chọn trúng Tiểu Cửu?” Thích Thốn Tâm không tin. Trên suốt chặng đường từ Đông Lăng đến Đề Dương, nàng đã tận mắt trông thấy cảnh dân chúng chạy nạn. Trong số những người ăn xin được thành Nguyệt Đồng thu nhận hiện giờ, có bao nhiêu người Hán trốn từ Bắc Ngụy sang, nàng cũng đã sai Tử Ý đi dò hỏi.
Nàng không tin trên đời lại có sự trùng hợp khớp nhau đến từng chi tiết như vậy.
Chu Tĩnh Phong dường như khá hài lòng. Ông mỉm cười gật đầu: “Xem ra những ngày qua ta không uổng công dạy con. Ta còn tưởng cứ gặp chuyện liên quan đến người thân bằng hữu, con sẽ rối loạn đầu óc, chẳng còn suy nghĩ được gì.”
“Vậy con đã từng nghĩ, hôm qua hắn làm sao biết được con đang ở Ngọc Hiền Lâu chưa?”
“Đứa trẻ ấy nói Tiểu Cửu đã kể cho nó biết màu sắc y phục con mặc, bên cạnh con còn có hai thị nữ đi theo. Cho nên con đoán, ngay lúc con xuống xe ngựa bên ngoài Ngọc Hiền Lâu, hắn đã trông thấy con rồi.”
Chén trà trong tay Thích Thốn Tâm từ ấm nóng đã nguội đi đôi chút, nhưng nàng vẫn chưa uống một ngụm nào. “Hắn chỉ để lại một câu, nét chữ trông như được viết bằng cục than cháy chứ không phải bút lông. Trong tình thế cấp bách, hắn chỉ kịp viết một câu như vậy, cũng không phải không có khả năng.”
“Hoặc cũng có thể những kẻ bắt giữ hắn đã uy h**p hắn viết mảnh giấy ấy gửi cho con…” Nhất thời Thích Thốn Tâm vẫn có vài điều không sao hiểu nổi. “Nhưng tại sao chỉ có đúng một câu ấy? Mục đích của bọn chúng là gì?”
“Không cần vội.”
Chu Tĩnh Phong đặt chén trà xuống, rồi như thường lệ lấy bảo kiếm Bạc Quang của mình ra, cẩn thận lau chùi: “Con cũng không cần quá lo lắng cho tính mạng người bằng hữu ấy. Bất kể tin tức đó do chính hắn gửi đến hay hắn bị ép buộc, thiết nghĩ trước mắt tính mạng hắn vẫn chưa gặp nguy hiểm.”
Thật ra Chu Tĩnh Phong còn một vài lời chưa nói rõ. Ông chỉ liếc nhìn tiểu cô nương đối diện, thấy nàng cứ vì người bằng hữu này mà đứng ngồi không yên, liền cảm thấy hiện giờ chưa phải lúc nói những điều ấy.
Cô nương này còn trẻ, chưa thể nhìn rõ giữa những biến động mưu mô khó lường của hoàng gia rốt cuộc ẩn giấu bao nhiêu cuộc tranh đấu đẫm máu. Nhưng nàng đã ở nơi này, bên cạnh thái tử Tạ Phồn Thanh. Nàng đã lựa chọn muốn biết chuyện thiên hạ, vậy thì không thể tránh khỏi những chuyện của hoàng gia.
Có những lời hiện giờ ông vẫn chưa thể nói thẳng ra.
——
Tạ Miểu đã đến điện Thiên Kính dự buổi chầu sớm từ khi trời còn chưa sáng, sau đó lại xuất cung, đến thiên lao Đại Lý tự thẩm vấn Lý Thích Thành. Nói là thẩm vấn, thật ra cũng chẳng có gì đáng hỏi.
Từ khi bị tống vào ngục, ngày nào Lý Thích Thành cũng kêu oan, chỉ là hai hôm nay đã không còn kêu nữa. Có lẽ hắn đã nhận ra mình là quân cờ chết trong ván cờ này, không còn khả năng sống lại. Hôm nay Tạ Miểu thẩm vấn hắn chẳng qua chỉ là làm theo ý chỉ Tạ Mẫn Triều ban xuống trong buổi chầu sớm, định tội và buộc hắn ký tên điểm chỉ. Năm ngày sau, hắn sẽ bị xử chém.
“Nếu điện hạ không trở về Nam Lê, có lẽ ta đã chẳng đến nông nỗi này.”
Lý Thích Thành mặc áo tù nhân, ngồi trước bàn nhìn dấu tay đỏ thẫm trên giấy nhận tội, đôi mắt phủ đầy vẻ tàn tạ, tuyệt vọng.
“Sao Lý đại nhân lại đề cao ta đến thế?”
Tạ Miểu ngồi ngay ngắn trên ghế thái sư, giọng điệu lười nhác.
“Bệ hạ mưu tính sâu xa, điện hạ cũng có thủ đoạn sấm sét.” Có lẽ đến giờ đây Lý Thích Thành mới cuối cùng tỉnh ngộ, công lao phò tá tân quân lên ngôi gì đó, tất cả đều chỉ là hư vọng.
Diên Quang đế Tạ Mẫn Triều chưa từng nghĩ đến chuyện tiếp tục giữ hai huynh đệ Lý gia bọn họ lại trong triều đại mới. Thái tử giết Lý Thành Nguyên, thiết nghĩ cũng là ý của Tạ Mẫn Triều. Tạ Mẫn Triều cố ý khơi lên mối thù giữa hắn và thái tử, chính là muốn mượn tay thái tử giết hắn một cách danh chính ngôn thuận.
Đáng tiếc, trước đây Lý Thích Thành còn thật sự cho rằng mình là cận thần của thiên tử.
“Nếu không phải Thành Nguyên bị vu oan giả truyền thánh chỉ, còn vì thế mà mất mạng, thì hiện giờ ta và Thành Nguyên vốn nên trở thành người dưới trướng Đông Cung.” Lý Thích Thành ngẩng mắt nhìn thiếu niên áo tím đang ngồi ngay ngắn bên ngoài cửa lao. “Hiện giờ đối với điện hạ, người cần phải đối phó nhất vốn không nên là Lý Thích Thành ta, mà là vị kia.”
Vị kia là ai, chẳng cần nói cũng hiểu.
“Lý đại nhân đã đánh giá bản thân quá cao rồi.”
Nghe vậy, Tạ Miểu hơi nhướng mày, nhưng vẻ mặt vẫn lạnh lẽo: “Ngươi cho rằng nếu được vào Đông Cung dưới trướng ta thì ngươi có thể làm nên chuyện gì?”
Chòm râu xanh đen của Lý Thích Thành khẽ động. Hắn thoáng sững sờ.
“Lý đại nhân ngươi xưa nay chỉ biết dâng lời can gián, mở miệng ra là chi hồ giả dã, lời răn của thánh hiền, ra vẻ một văn quan thanh liêm, có khí tiết. Ngay cả nhận hối lộ cũng chẳng nhận vàng bạc thật, chỉ nhận thư họa, đồ cổ.”
Tạ Miểu tiện tay giao chén trà cho Từ Doãn Gia bên cạnh, ngồi thẳng lưng, giọng đầy châm chọc: “Kết bè kết phái, liều chết can gián, cũng chỉ biết khuyên Đức Tông chuyện gì ‘không nên’, chuyện gì ‘không được’, nhưng lại chẳng hề có ý thức của một bề tôi phải thay quân vương san sẻ nỗi lo.”
Hắn cười khẩy, hờ hững liếc gương mặt lúc xanh lúc trắng của Lý Thích Thành: “Nếu thật sự để ngươi vào dưới trướng Đông Cung, e rằng người ngoài còn tưởng Đông Cung ta không có nhân tài.”
Hai huynh đệ Lý Thích Thành và Lý Thành Nguyên từ sau khi triều đình dời về phương Nam, nhân lúc hoàng đế Xương Tông vẫn còn tại vị đã giành được quyền thế. Về sau, bọn họ lại dựa vào hoàng đế Đức Tông ngày càng u mê, bất tài, không giỏi xử lý chính sự, tự xưng là dòng quan can gián thanh cao, cùng ba phe phái khác trong triều tranh đấu gay gắt, thế lực ảnh hưởng sâu rộng, gây ra vô số vụ án oan sai.
Khi ấy, giữa các ngôn quan trong triều thịnh hành một lối can gián — liều chết can gián. Rất nhiều ngôn quan dựa vào đó để dâng tấu. Hễ quân vương hơi tỏ vẻ không vui, đã có vô số ngôn quan dập đầu xuống đất, nước mắt giàn giụa, vừa khóc vừa khuyên nhủ.
Trong giới ngôn quan, nhiều người xem việc liều chết can gián là vinh quang của văn thần. Lâu dần, bọn họ đã phát cuồng đến mức sẵn sàng hy sinh tất cả chỉ vì thanh danh. Nhưng mỗi khi gặp đại sự quốc gia, bọn họ tuy đưa ra vô vàn lời khuyên, lại không chịu gánh vác trách nhiệm giải quyết vấn đề.
Lý Thích Thành chính là nhân vật nổi bật nhất trong số đó. Hắn đánh đổ Hà Phượng Hành của đảng Bão Phác. Ban đầu Đức Tông muốn dùng hắn để kiềm chế hoạn đảng do thái giám chưởng ấn Trương Hữu đứng đầu, nào ngờ lại khiến hắn nhất thời quyền thế ngút trời, không ai sánh bằng.
Bấy giờ, văn quan trong triều nếu không lấy đảng Thanh Cừ làm đầu, tất sẽ gặp tai họa.
Khí tiết văn nhân gì chứ, ngôn quan cương trực liều chết gì chứ, chẳng qua chỉ là một lũ sâu mọt khoác lớp da thịt con người.
“Lý đại nhân sắp chết đến nơi mà vẫn còn dám huênh hoang, tưởng mình là thứ tốt đẹp gì sao?” Tạ Miểu đứng dậy, thong thả vuốt phẳng những nếp nhăn trên tay áo, trên mặt chẳng còn chút biểu cảm nào.
Lý Thích Thành ngồi bất động trước bàn, ngây người nhìn ngục tốt cầm tờ giấy nhận tội trước mặt mang ra ngoài. Cửa lao đóng lại, tiếng khóa vang lên, còn thiếu niên áo tím đã được đám người vây quanh, xoay lưng đi về phía bên ngoài thiên lao.
Tạ Miểu vừa rời Đại Lý tự, ngồi lên xe ngựa, đã có người của phủ thị vệ Đông Cung vội vàng chạy đến. Từ Doãn Gia nghe thị vệ ấy bẩm báo xong liền lập tức bước đến cạnh xe ngựa, chắp tay nói: “Điện hạ, có tin tức về Hạ Cửu rồi.”
Nghe vậy, Tạ Miểu đưa tay vén rèm: “Nói.”
“Qua phố Tấn Nam về phía sau là chùa Kim Long. Hạ Cửu đang ở trên ngọn núi phía sau chùa Kim Long. Nếu không nhờ một vị hòa thượng chuyên gánh nước trồng rau trong chùa từng trông thấy hắn, e rằng người của chúng ta vẫn còn tìm kiếm khắp trong ngoài thành.”
Từ Doãn Gia cung kính cúi đầu: “Cố phó hương sứ của Địch Thần Hương đã dẫn người đến đó. Có tổng cộng sáu kẻ bắt giữ Hạ Cửu, ba tên chết dưới kiếm của người Quy Hương, ba tên còn lại đều một mực khẳng định bọn chúng làm theo lệnh Kha Tự.”
“Còn mảnh giấy ấy?”
Tạ Miểu thản nhiên hỏi.
“Theo lời Hạ Cửu, hôm qua khi sáu kẻ kia định chuyển hắn lên ngọn núi phía sau chùa Kim Long, lúc đi ngang qua bên ngoài Ngọc Hiền Lâu đã vừa hay trông thấy thái tử phi. Vì thế, nhân lúc mấy tên kia ăn cơm tại một hàng quán trên phố Tấn Nam, hắn lấy cớ mua bánh nướng, vội dùng cục than mà người bán bánh vô tình bỏ quên bên ngoài viết mảnh giấy ấy. Sau đó hắn tiện tay đưa tiền cho một đứa trẻ đang mua bánh, nhờ nó chuyển thư.” Từ Doãn Gia thuật lại đầy đủ từng lời giải thích của Hạ Cửu cho Tạ Miểu.
Tạ Miểu cũng không nói tin hay không, chỉ rủ mắt trầm ngâm một lát. Có lẽ nhớ đến quầng xanh nhạt dưới mắt cô nương nằm trong lòng mình sáng nay, cuối cùng hắn mới nâng mắt, thần sắc thêm vài phần lạnh lẽo âm u: “Ngươi về cung mời thái tử phi đến.”
Từ Doãn Gia nhận tấm lệnh bài vàng ngọc, hành lễ đáp: “Vâng.”
Đến lúc hoàng hôn, ánh chiều tà cùng những ráng mây đan xen giữa tầng mây lớp lớp, nhuộm đỏ nửa bầu trời.
Thích Thốn Tâm vừa từ bờ sông Tử Viên trở về điện Tử Ương ở Đông Cung chưa được bao lâu, Từ Doãn Gia đã vội vàng chạy đến. Vừa nghe tin hắn mang tới, nàng liền nhanh chóng thay thường phục, tháo trâm bộ diêu giao châu cùng những món trang sức cầu kỳ khác, rồi vội vàng xuất cung.
Từ Sơn Tễ không ngờ mình còn có cơ hội gặp lại thái tử đương triều. Khoảng sân này là nơi hắn lén mua từ hai năm trước. Tuy không thường xuyên ở lại, nhưng nơi đây vẫn luôn có người hầu chăm sóc sạch sẽ, gọn gàng. Đang giữa mùa xuân, hoa cỏ trong sân xanh tốt rực rỡ, trong mấy chiếc lồng chim treo ở đình đá thỉnh thoảng lại vang lên những tiếng hót trong trẻo êm tai.
Hắn cung kính đứng dưới bậc thềm đình đá, thỉnh thoảng lén liếc thiếu niên áo tím đang ung dung ngồi uống trà trong đình. Suốt thời gian ấy, Từ Sơn Tễ thậm chí không dám thở mạnh.
Thiếu niên mười lăm tuổi Hạ Cửu có không ít vết trầy xước trên mặt cũng đang ngồi rất câu nệ trên bậc thềm hành lang phía bên kia. Những thị vệ đứng canh cạnh đình đá ai nấy đều ôm kiếm. Vị thái tử trẻ tuổi trong đình có bóng lưng thẳng như tùng hạc, từ đầu đến cuối chưa từng ngoảnh lại nhìn hắn một lần.
Dáng vẻ ấy hoàn toàn không giống thiếu niên tuấn tú ôn hòa trầm tĩnh trong ký ức, người từng ngồi cùng bàn ăn cơm với cả nhà hắn ở Đông Lăng.
Sắc trời dần tối xuống, cửa viện đột nhiên vang lên tiếng gõ.
Đan Ngọc vội bước tới mở cửa.
“Thích Thốn Tâm!”
Tiểu Cửu vẫn ngồi trên bậc thềm, từ đầu đến giờ đều dè dặt không dám nói chuyện. Vừa ngẩng đầu trông thấy bóng người màu trắng ánh trăng bên ngoài cánh cửa viện rộng mở, hắn đã lập tức đứng dậy chạy tới.
“Tiểu Cửu!”
Sau một thời gian dài xa cách, khi gặp lại người trước mắt, Thích Thốn Tâm lại có cảm giác như đã trải qua cả một kiếp. Thấy trên mặt hắn có nhiều vết trầy xước, nhưng chân tay vẫn nhanh nhẹn, lúc này trái tim luôn treo lơ lửng của nàng cuối cùng mới được thả xuống.
“Thốn Tâm, ta kể cho ngươi nghe…”
Tiểu Cửu vừa gặp nàng đã có vô số lời muốn nói. Nhưng mới mở miệng, hắn đã nghe phía bên kia có tiếng động. Ngoảnh đầu lại, hắn trông thấy thiếu niên áo tím đã đặt chén trà trong tay xuống, đôi mắt chăm chú nhìn bàn tay hắn đang nắm tay áo Thích Thốn Tâm.
Sống lưng hơi lạnh, Tiểu Cửu chẳng hiểu sao lại rụt người một cái.
Tạ Miểu trong đình bước xuống bậc thềm, vẻ mặt hết sức lạnh nhạt. Hắn đưa tay rút tay áo Thích Thốn Tâm khỏi những ngón tay Tiểu Cửu, sau đó nắm lấy cổ tay nàng, kéo nàng về bên cạnh mình. Lúc ấy hắn mới thờ ơ nâng mắt nhìn Tiểu Cửu:
“Nói nghe xem, rốt cuộc ngươi đã đến Nam Lê bằng cách nào?”