Nữ Quan Thượng Dược Không Màng Long Sủng

Chương 19: Hoàng Đế Băng Hà – Di Chiếu Sinh Tử

Bức rèm châu bằng ngọc bích va vào nhau lách cách, từng chuỗi âm thanh giòn tan ngày thường vốn tượng trưng cho sự tôn quý của bậc đế vương, nay lại như những tiếng chuông đưa hồn gấp gáp nơi cõi u minh.

Mùi long diên hương ngạt ngào – thứ hương thơm xa xỉ ngự trị nơi tẩm điện suốt mấy mươi năm qua – lúc này hoàn toàn bị đè bẹp bởi một thứ mùi hăng nồng, tanh tưởi đến rợn người. Đó là mùi của máu ứ đọng lâu ngày, mùi của niêm mạc dạ dày bị hoại tử, và mùi tanh kim loại đặc trưng của tàn dư thủy ngân cùng thạch tín đang từ sâu trong tạng phủ trào ngược ra ngoài.

“Phụ hoàng! Người tỉnh lại đi! Phụ hoàng!”

Chu Duệ quỳ phục bên mép long sàng, hai bàn tay nhỏ bé dính đầy máu đen đặc quánh, bờ vai gầy guộc run rẩy dữ dội theo từng tiếng nấc nghẹn ngào. Đứa trẻ mười tuổi dù hiểu chuyện và kiên cường đến đâu, trước ngưỡng cửa sinh tử rùng rợn của đấng sinh thành, cũng chỉ còn lại nỗi kinh hoàng tột độ của một đứa con thơ.

Chu Dịch siết chặt lấy bàn tay còn quấn băng vải của ta, bước chân chàng trầm ổn nhưng từng thớ thịt dưới lớp hắc y đều căng cứng. Ta cảm nhận được luồng khí lạnh toát ra từ lòng bàn tay chàng. Mười năm ẩn nhẫn, mười năm nuốt độc ngậm hờn nhìn kẻ thù xâu xé giang sơn và bức hại mẫu thân, giờ phút này đứng trước người cha đã gián tiếp đẩy đời chàng vào hố sâu tăm tối, nội tâm Chu Dịch cuộn trào những đợt sóng ngầm khốc liệt.

“Nhược Lan...” Giọng chàng khàn đặc, trầm thấp đến mức chỉ có hai người nghe thấy. “Người... còn cứu được không?”

Ta không đáp ngay, bước nhanh tới mép giường, vén vạt áo xanh nhạt quỳ xuống bên cạnh Chu Duệ. Mặc kệ cơn đau nhói từ mười đầu ngón tay vừa được nẹp xương sau nhục hình ở Thận Hình Ty, ta vươn tay đặt hai ngón trỏ và ngón giữa lên động mạch cảnh nơi cổ Chu Nguyên Đế, đồng thời lật nhẹ mi mắt của ngài lên.

Ánh nến chập chờn rọi vào gương mặt người từng nắm giữ vận mệnh của cả thiên hạ.

Sắc diện Chu Nguyên Đế đã chuyển sang màu xám tro của tử khí. Dưới lớp da mỏng khô khốc như vỏ cây mục, những mạch máu li ti vỡ vụn tạo thành từng mảng xuất huyết màu tím thẫm rải rác từ gò má xuống tận cổ. Đồng tử ngài đã giãn rộng ra quá nửa, mất phản xạ với ánh sáng; đáy mắt xuất huyết đỏ ngầu. Bọt máu trào ra từ khóe miệng ngài không chỉ mang màu đỏ thẫm của máu tươi, mà quánh đặc một màu đen cháy, lẫn theo những mảng mô lầy nhầy bị bào mòn.

Ta đưa tay ấn nhẹ vào vùng hạ sườn phải và thượng vị của hoàng đế. Bụng ngài trướng cứng như một khối đá, các mạch máu lớn nơi mạc treo và tạng phủ đã bị tàn phá không còn nguyên vẹn. Mạch tượng nơi cổ tay ngài đập tán loạn, ngắt quãng, lúc có lúc không, như sợi tơ mỏng manh treo trước ngọn cuồng phong – đây chính là hiện tượng “mạch tuyệt” trong Trung y, hay suy đa tạng kết hợp sốc mất máu cấp tính do ngộ độc kim loại nặng giai đoạn cuối trong y học thực nghiệm.

Chất độc thủy ngân và asen trioxit tích tụ ròng rã suốt mười năm qua từ hàng ngàn viên Diên Thọ Đơn đã âm thầm gặm nhấm từng tế bào thận, gan và mạch máu. Cơn thịnh nộ tột cùng khi phát hiện sự phản bội của Liễu gia cùng biến cố binh đao vừa rồi đã đẩy huyết áp ngài l*n đ*nh điểm, làm vỡ tung toàn bộ hệ thống huyết quản vốn đã giòn vụn như tro tàn.

Máu đen tràn vào khoang ngực và đường thở, lục phủ ngũ tạng đã hóa thành một vũng bùn lầy nát vụn.

Ta chầm chậm rút tay về, cúi đầu nhìn Chu Dịch, khẽ lắc đầu. Thanh âm của ta bình tĩnh đến tàn nhẫn, bởi trước lưỡi hái của tử thần, sự dối trá của người thầy thuốc chỉ là một trò hề lố bịch:

“Độc tố đã khóa chặt tâm mạch, tạng phủ vỡ nát, máu đen tràn ngược vào phế quản. Dù có Hoa Đà tái thế hay Đại La Kim Tiên giáng trần, cũng không thể đảo ngược sinh cơ.” Ta dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt chàng: “Nhiều nhất chỉ còn nửa khắc. Đây là hồi quang phản chiếu cuối cùng.”

Chu Dịch nhắm nghiền mắt lại. Bàn tay chàng buông lỏng khỏi chuôi nhuyễn kiếm Băng Phách bên hông, một hơi thở dài trĩu nặng thoát ra từ lồng ngực. Bao nhiêu oán hận, bao nhiêu bi phẫn và cay đắng của mười năm qua, dường như trước ngưỡng cửa vĩnh hằng này bỗng chốc hóa thành một nắm tro tàn lạnh lẽo.

Dường như nghe thấy lời phán quyết của ta, ngón tay gầy guộc như cành củi khô của Chu Nguyên Đế bỗng co giật mạnh. Ngài phát ra một tiếng r*n r* khản đặc từ sâu trong cuống họng, lồng ngực gầy trơ xương phập phồng dữ dội.

Đôi mắt đục ngầu, vốn đã mất đi tiêu cự, đột nhiên trừng lớn, ánh lên một tia sáng kỳ dị – thứ ánh sáng le lói cuối cùng của một ngọn đèn dầu sắp cạn bấc.

Ngài đảo mắt nhìn quanh gian tẩm điện lộng lẫy nhưng ngập mùi chết chóc. Nhìn những bức hoành phi dát vàng, nhìn đỉnh trầm hương rỗng tuếch, nhìn vạt long bào vàng rực dính đầy máu đen tanh tưởi... và cuối cùng, ánh nhìn run rẩy ấy dừng lại trên gương mặt của Chu Dịch.

“Dịch... Dịch nhi...”

Thanh âm của ngài đứt quãng, nghẹn ứ bởi những cục máu đông chặn ngang cổ họng, nghe như tiếng đá sỏi cọ xát vào nhau dưới đáy vực sâu. Bàn tay run rẩy, đầy những đốm đồi mồi và vết thâm tím của hoàng đế vươn lên giữa không trung, chới với, ngơ ngác như một đứa trẻ lạc lối giữa đêm đen.

Chu Dịch bước tới một bước, chậm rãi quỳ một gối xuống bên long sàng. Chàng không né tránh, cũng không vồ vập, chỉ bình thản vươn bàn tay nhuốm đầy khói súng và bụi than nơi sa trường, nắm lấy những ngón tay khô khốc của phụ hoàng mình.

Cái chạm tay ấy dường như truyền cho Chu Nguyên Đế một chút hơi tàn. Ngài siết chặt lấy tay con trai – một cái siết yếu ớt đến tuyệt vọng. Từng giọt nước mắt đục ngầu, già nua ứa ra từ khóe mắt chằng chịt nếp nhăn, lăn dài trên đôi gò má xám xịt, hòa cùng vệt máu đen nơi khóe miệng.

“Trẫm... trẫm sai rồi...”

Chu Nguyên Đế th* d*c, từng búng bọt khí lẫn máu lại trào ra, nhưng ngài vẫn cố trừng mắt nhìn Chu Dịch, ánh mắt tràn ngập nỗi thống khổ và ăn năn muộn màng:

“Mười năm... trẫm nghi kỵ cốt nhục, trẫm sợ hãi các ngươi cướp đoạt ngai vàng này... Trẫm nghe lời sàm tấu, để mẫu thân ngươi chết trong uất ức... Trẫm ngỡ rằng bọn họ trung thành, trẫm ngỡ rằng đan dược kia có thể cho trẫm trường sinh bất lão...”

Tiếng cười the thé, đau đớn như tiếng kim loại rách toạc vang lên trong lồng ngực vị đế vương.

“Trường sinh... Ha ha... Trường sinh đâu chẳng thấy, chỉ thấy một lũ sài lang hổ báo vây quanh róc thịt, uống máu trẫm từng ngày! Chúng biến trẫm thành một con rối điên dại... Một phế nhân tự tay b*p ch*t giang sơn của tổ tông!”

Ngài quay sang nhìn ta. Ánh mắt đục ngầu dán chặt vào đôi bàn tay quấn đầy băng vải trắng còn rướm máu đỏ của ta – đôi bàn tay của một nữ quan thất phẩm mà ngài từng suýt hạ lệnh xử tử vì lời vu cáo của Liễu gia.

“Tiêu... Tiêu Nhược Lan...” Ngài thều thào, lồng ngực co rút lại sau từng đợt đau đớn cùng cực. “Ngươi... ngươi nói đúng... Kim thạch vô tình, độc thảo đoạt mệnh. Y thuật của ngươi... mới là chân lý... Trẫm hận... hận không nghe lời can gián sớm hơn...”

Ta đứng thẳng người, ánh mắt không hề có sự đắc thắng, cũng chẳng có vẻ xót thương mù quáng. Trước mắt ta, ngài không phải là chân long thiên tử tối thượng, mà chỉ là một bệnh nhân bất hạnh bị sự tham lam và hoang tưởng của chính mình đưa vào chỗ chết.

“Bệ hạ,” ta cất giọng nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, thanh âm vang vọng rõ ràng trong không gian tĩnh mịch của tẩm điện. “Oan khiên của tiền triều, tội nghiệt của kẻ ác, đất trời đều đã ghi nhận. Giờ phút này, ngoài cửa thành, ba vạn thiết kỵ của Trấn Viễn Hầu đã dẹp tan quân phản loạn. Nhưng ngài phải tỉnh táo, giang sơn Đại An này không thể một ngày vô chủ. Ngài cần để lại một lời công đạo cho thiên hạ.”

Lời nói của ta như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào tâm thức đang dần phân rã của hoàng đế. Ánh mắt Chu Nguyên Đế co rút lại, ngài bừng tỉnh, nhận ra trách nhiệm tối thượng mà mình sắp sửa bỏ lại.

Cùng lúc đó, cánh cửa Dưỡng Tâm Điện mở rộng. Viện phán Cố Hoài Viễn cùng Trấn Viễn Hầu Lục Kính Chương trong bộ giáp sắt đẫm máu bước nhanh vào, theo sau là Tào Thiềm công công đang ôm chặt chiếc tráp ngọc đựng Hoàng Đế Chi Bảo – ngọc tỷ truyền quốc của triều Đại An. Cả ba quỳ sụp xuống trước bậc long sàng, sắc mặt nghiêm cẩn khôn xiết.

“Bệ hạ!” Lục Kính Chương dập đầu, giọng vang như chuông đồng: “Nghịch tặc họ Liễu đã bị chế ngự, cấm quân đầu hàng. Xin bệ hạ định đoạt đại cục!”

Chu Nguyên Đế nhìn chiếc tráp ngọc tỷ, rồi lại nhìn Chu Dịch và Chu Duệ. Ngài run rẩy giơ ngón tay trỏ dính đầy máu đen lên, chỉ thẳng vào mặt bàn ngự án cách đó không xa.

“Giấy... Bút... Mau!”

Tào Thiềm gạt nước mắt, run rẩy trải một dải lụa vàng dệt rồng mây lên chiếc bàn nhỏ mang lại gần long sàng. Cố Viện phán nhanh chóng mài mực, nhưng Chu Nguyên Đế đã gạt phắt nghiên mực sang một bên. Sinh mệnh ngài đang trôi đi từng khắc, ngài không còn đủ sức để cầm ngọn bút lông nặng nề kia nữa.

Bằng một nỗ lực phi thường của ý chí trước khi chết, ngài chấm thẳng ngón tay khô khốc đẫm máu đen của mình lên mặt lụa vàng.

Từng nét chữ ngoằn ngoèo, run rẩy nhưng đỏ quạch và rực cháy như lửa địa ngục hiện lên trên tấm lụa:

“Trẫm thống ngự thiên hạ hai mươi ba năm, ngu muội tin lời gian thần Liễu thị, dùng đan dược độc hại, tự hủy hoại long thể, suýt dâng giang sơn xã tắc cho loài phản nghịch. Nay mệnh trời đã tận, lục phủ ngũ tạng sụp đổ, biết mình không thể qua khỏi ngày hôm nay...”

Ngài th* d*c một hơi dài, máu từ mũi lại rỉ ra. Chu Duệ vội ôm lấy cánh tay phụ hoàng, khóc không thành tiếng: “Phụ hoàng... Phụ hoàng đừng viết nữa...”

Chu Nguyên Đế nhìn đứa con út mới mười tuổi, đôi mắt lộ rõ vẻ xót xa vô bờ bến. Bàn tay dính máu run rẩy xoa l*n đ*nh đầu đứa trẻ, rồi ngài quay phắt sang nhìn Chu Dịch, ánh mắt bừng lên một sự tin tưởng tuyệt đối – sự tin tưởng mà suốt hai mươi tám năm qua, chàng chưa từng một lần nhận được từ người cha này:

“Dịch nhi... Giang sơn này... Trẫm nợ mẫu thân ngươi, nợ ngươi một đời... Nhưng ngươi... ngươi không thể làm vua...”

Gian phòng bỗng chốc im phăng phắc. Cố Hoài Viễn và Lục Kính Chương đều nín thở kinh ngạc.

Chu Dịch vẫn quỳ thẳng tắp, thần sắc không hề gợn sóng, chàng bình thản đón nhận ánh mắt của hoàng đế: “Nhi thần hiểu. Mạng lưới Phong Nhận trong tay nhi thần, tính tình nhi thần quá lạnh lùng sát phạt, nếu nhi thần đăng cơ, triều đình sẽ chỉ có tắm máu trả thù, không thể đem lại thái bình cho bách tính.”

Một nụ cười yếu ớt, mãn nguyện hiện lên trên gương mặt vặn vẹo vì đau đớn của Chu Nguyên Đế:

“Thông tuệ... Quả nhiên là hài nhi của Đức phi... Ngươi hiểu trẫm, hiểu thiên hạ hơn cả trẫm...”

Ngón tay đẫm máu của hoàng đế lại hạ xuống dải lụa vàng, từng chữ từng chữ như rạch vào lịch sử triều Đại An:

“... Hoàng thập nhất tử Chu Duệ, tính tình nhân hậu, thuần lương thông tuệ, có lòng thương xót lê dân, nay sắc lập làm Hoàng Thái Tử, tức vị Hoàng Đế, kế thừa đại thống!

Sắc phong Cửu hoàng tử Chu Dịch làm Phụ Chính Vương! Ban kiếm Thượng Phương, chưởng quản toàn bộ cấm quân và binh mã thiên hạ, thay ấu chúa nhiếp chính chấn hưng triều cương. Phàm là chính lệnh quốc gia, đại sự triều chính, trước khi ấu chúa trưởng thành, đều phải do Phụ Chính Vương tài quyết. Ai dám làm trái, chém trước tấu sau!”

Chữ cuối cùng vừa dứt, toàn bộ sức lực của Chu Nguyên Đế dường như tiêu tán sạch sành sanh. Bàn tay ngài rũ rượi buông thõng xuống đệm gấm, thở hắt ra từng hơi gấp gáp.

“Tào... Tào Thiềm... Ngọc tỷ...”

Tào công công run rẩy mở tráp, nâng khối ngọc tỷ vuông vức bằng ngọc bích trắng khắc nổi chín con rồng, đặt vào bàn tay lạnh ngắt của hoàng đế. Chu Nguyên Đế dồn hết chút tàn lực cuối cùng, ấn mạnh con dấu xuống góc dưới của bản di chiếu huyết thư.

Màu mực chu sa hòa cùng máu đen của ngài in hằn lên nền lụa vàng, vĩnh viễn đóng đinh vận mệnh của triều đại Đại An sang một trang sử hoàn toàn mới!

“Cố... Cố ái khanh... Lục ái khanh...” Chu Nguyên Đế nhìn hai vị lão thần, đôi mắt đã bắt đầu đờ đẫn, màng sương mù của cái chết đã bao phủ hoàn toàn con ngươi: “Hai người... là nhân chứng... Phải phò tá... phò tá ấu chúa... giữ gìn... giang sơn...”

“Lão thần xin tuân chỉ! Dù thịt nát xương tan cũng không phụ sự ủy thác của tiên đế!” Lục Kính Chương và Cố Hoài Viễn đồng thanh dập đầu sát đất, nước mắt rơi lã chã xuống nền đá hoa cương.

Chu Nguyên Đế th* d*c, lồng ngực giật nảy lên một cái. Ánh mắt ngài lần cuối cùng hướng về phía cửa sổ tẩm điện, nơi ánh hoàng hôn đỏ rực đang dần lặn xuống sau những mái ngói lưu ly của Tử Cấm Thành.

Một giọt lệ trong suốt hiếm hoi lăn qua khóe mắt ngài, rửa trôi một vệt máu đen khô khốc.

“Thanh Liên... Trẫm... trẫm đến tạ tội với nàng đây...”

Thanh Liên – đó chính là khuê danh của Cố Đức phi, người mẹ hiền từ mà Chu Dịch đã mất đi mười năm trước trong một chén độc dược oan khuất.

Tiếng thở khò khè bỗng chốc ngưng bặt.

Bàn tay gầy guộc của Chu Nguyên Đế trượt khỏi mép long sàng, buông thõng giữa không trung. Đôi mắt ngài vẫn mở trừng nhìn vào khoảng không vô định, nhưng ngọn lửa sinh mệnh bên trong đã hoàn toàn tắt lịm. Cơ thể ngài mềm nhũn ra, rồi nhanh chóng lạnh ngắt dưới lớp long bào vàng rực.Chu Nguyên Đế – vị hoàng đế nửa đời anh minh, nửa đời đa nghi tàn độc, người từng khuấy đảo triều cương và giam cầm số phận của hàng vạn con người – đã chính thức băng hà, khép lại một thời kỳ u tối và đẫm máu của hoàng triều Đại An.

“Phụ hoàng! Phụ hoàng ơi!”

Chu Duệ gào khóc thảm thiết, bổ nhào vào thi thể phụ hoàng, hai tay ôm chặt lấy lồng ngực đã ngừng thở của ngài. Tiếng khóc non nớt, xé ruột xé gan của đứa trẻ mười tuổi vang vọng khắp gian tẩm điện thênh thang, khiến bất kỳ ai có mặt cũng phải rơi lệ.

Chu Dịch vẫn quỳ bất động. Chàng cúi đầu, bàn tay chàng từ từ vươn ra, nhẹ nhàng khép lại đôi mắt của phụ hoàng mình. Khi những ngón tay chàng lướt qua gương mặt lạnh ngắt ấy, ta nhìn thấy một giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống từ khóe mi chàng, thấm sâu vào lớp thảm len dệt hoa văn rồng.

Mười năm thù hận, mười năm chịu đựng nhục nhã giả làm phế nhân, vào giây phút này, khi kẻ sinh ra mình trút hơi thở cuối cùng, tất cả đều tan biến như mây khói, chỉ còn lại sự trống rỗng và nỗi bi thương sâu thẳm của tình phụ tử trớ trêu.

Ta bước tới, nhẹ nhàng đặt bàn tay lành lặn của mình lên bờ vai đang run lên rất khẽ của chàng. Không cần một lời an ủi sáo rỗng, cái chạm của ta là lời nhắc nhở rằng chàng không còn cô độc giữa chốn phong ba này nữa. Chu Dịch ngước nhìn ta, trong đôi mắt sắc lạnh như băng tuyết ngàn năm nay đã tan chảy, chỉ còn lại sự ấm áp và kiên định vô ngần. Chàng khẽ gật đầu, nắm chặt lấy tay ta, rồi dứt khoát đứng dậy.

Cùng lúc đó, từ bên ngoài sân Dưỡng Tâm Điện, tiếng bước chân rầm rập của cấm quân vang lên, phá vỡ bầu không khí tang thương nghẹt thở.

Ám vệ Ảnh Thất sải bước vào điện, quỳ một gối, chắp tay bẩm báo:

“Khởi bẩm Phụ Chính Vương! Lục lão tướng quân đã áp giải đầu sỏ phản loạn Liễu Kính Nghiêm đến ngoài điện quy án!”

Ánh mắt Chu Dịch lập tức khôi phục vẻ uy nghiêm, sắc lạnh như lưỡi kiếm vừa rút khỏi vỏ. Chàng quay sang nhìn Lục Kính Chương và Cố Hoài Viễn: “Hai vị ái khanh, hãy bảo bọc Thái Tử và trông nom thánh thể của tiên đế. Nhược Lan, nàng đi cùng ta.”

Ta khẽ gật đầu, cất bước theo sau tà áo choàng đen của Chu Dịch, bước ra khỏi ngưỡng cửa Dưỡng Tâm Điện.

Gió lạnh đầu đông thổi qua quảng trường rộng lớn, cuốn theo mùi tanh nồng của máu và khói súng chưa kịp tan biến. Hàng ngàn thiết kỵ Tây Bắc và ám vệ Phong Nhận đứng nghiêm trang thành từng hàng dài tăm tắp, trường giáo sáng loáng dưới ánh chiều tà.

Ở giữa sân điện, quỳ gục trên nền đá hoa cương lạnh lẽo là Thừa tướng đương triều Liễu Kính Nghiêm.

Lão đại thần từng một thời hô mưa gọi gió, một tay che cả bầu trời Đại An, nay đầu tóc bạc phơ xõa xượi bù xù, chiếc áo bào thêu hoa văn ngũ mã rách bươm, dính đầy bùn đất và vết máu. Đôi tay lão bị khóa chặt bởi chiếc cùm sắt nặng nề, những ngón tay từng vung bút hạ lệnh giết hại biết bao trung thần nay run lẩy bẩy như cành cây khô trước gió.

Khi nhìn thấy Chu Dịch hiên ngang, lành lặn bước ra, toàn thân tỏa ra khí phách vương giả áp bức người đối diện, hai tròng mắt Liễu Kính Nghiêm vằn lên những tia máu đỏ lòm. Lão ngửa mặt lên trời, phát ra một tràng cười the thé, điên dại:

“Chu Dịch... Ngươi hay lắm! Mười năm giả tàn phế, mười năm làm một con sâu cái kiến nằm im dưới chân ta... Hóa ra con thú dữ nhất lại là ngươi! Trẫm... à không, lão phu hận! Hận vì năm xưa không một kiếm chém chết ngươi cùng con tiện nhân Cố Đức phi kia!”

“Bốp!”

Một tiếng tát giòn giã vang lên. Ảnh Thất vung sống đao quất thẳng vào miệng Liễu Kính Nghiêm, khiến lão hộc ra một ngụm máu lẫn hai chiếc răng gãy: “Hỗn xược! Dưới chân thiên tử, trước mặt Phụ Chính Vương, kẻ nghịch tặc nhà ngươi còn dám mở miệng sủa bậy!”

Chu Dịch dừng bước trên bậc thềm đá hoa cương cao nhất, từ trên cao nhìn xuống kẻ tử thù của đời mình bằng ánh mắt lãnh đạm như nhìn một đống rác rưởi.

“Liễu Kính Nghiêm,” giọng Chu Dịch trầm vang, từng chữ như sấm sét giáng xuống: “Ngươi dùng đan dược chứa thủy ngân và thạch tín đầu độc tiên đế suốt mười năm; ngươi hạ độc nguồn nước cấm thành mưu toan diệt khẩu toàn bộ quân dân; ngươi phát động binh biến sát hại đại thần, tội ác tày trời, ngập đầu vạn kiếp. Ngươi nghĩ rằng giang sơn này là bàn cờ để ngươi mặc sức thao túng sao?”

Liễu Kính Nghiêm quỳ sụp dưới đất, thở hồng hộc, ánh mắt độc địa quét qua người Chu Dịch rồi dừng lại trên người ta:

“Thao túng? Ha ha ha... Nếu không có con tiện tỳ Tiêu Nhược Lan này... Nếu không có con ả dùng tà thuật dược lý phá tan độc kế của ta... thì ngai vàng kia hôm nay đã mang họ Liễu rồi! Tiêu Nhược Lan, ngươi giỏi lắm... Ngươi phá tan cơ nghiệp trăm năm của Liễu gia ta...”

Ta bước lên nửa bước, đứng song vai cùng Chu Dịch, ánh mắt bình thản nhìn thẳng vào khuôn mặt vặn vẹo của kẻ thủ ác:

“Liễu Thừa tướng, ngài sai rồi. Đó không phải tà thuật, đó là y đạo. Y thuật sinh ra là để trị bệnh cứu người, bảo vệ sinh linh, chứ không phải thứ công cụ đê hèn để các người dùng tranh quyền đoạt vị. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt. Ngày các người đem độc dược gieo rắc vào chốn cung đình này, kết cục ngày hôm nay đã được định đoạt từ trước.”

Chu Dịch vung tay áo, lạnh lùng hạ lệnh:

“Áp giải Liễu Kính Nghiêm vào Thiên Lao! Tịch thu toàn bộ gia sản Liễu phủ, niêm phong cấm quân, bắt giữ toàn bộ vây cánh đồng đảng. Chờ ngày Tân Đế đăng cơ, xử trảm thị chúng, tru di cửu tộc!”

“Tuân lệnh!” Binh sĩ đồng thanh gầm vang, tiếng hô chấn động cả hoàng thành.

Liễu Kính Nghiêm bị hai tên lính thiết kỵ thô bạo lôi xềnh xệch trên mặt đất. Tiếng xích sắt cọ xát ken két trên nền đá hoa cương cùng tiếng gào thét rủa sả tuyệt vọng của lão xa dần, tan biến vào bóng tối thăm thẳm của con đường dẫn tới ngục môn.

*

Trong khi Dưỡng Tâm Điện rực lửa đao kiếm và sục sôi công lý, thì ở phía đông Tử Cấm Thành, Cảnh Nhân Cung lại chìm trong một sự tĩnh lặng đến rợn gáy.

Nơi đây từng là cung điện xa hoa lộng lẫy bậc nhất lục cung, nơi quanh năm thoang thoảng mùi hương trầm kỳ ảo và rộn rã tiếng ca múa tâng bốc Liễu Quý phi. Nhưng giờ đây, toàn bộ thái giám, cung nữ đã bỏ trốn tán loạn sau khi nghe tin Liễu Thừa tướng bại trận. Đèn lồng vỡ nát, rèm lụa rách rưới bay phần phật trong gió lạnh, khung cảnh hoang tàn chẳng khác nào một bãi tha ma.

Bên trong nội điện, nến đỏ vẫn thắp sáng rực rỡ.

Liễu Quý phi – Liễu Nhược Tuyên – đang ngồi trước chiếc bàn trang điểm bằng gỗ hoàng đàn khảm ốc xà cừ. Nàng ta không hề trốn chạy, cũng không hề khóc lóc van xin.

Nàng ta mặc trên mình bộ đại lễ phục màu đỏ rực thêu phượng hoàng lửa dát vàng lấp lánh – bộ y phục mà nàng ta đã bí mật cho thợ may suốt ba năm qua, chỉ chờ ngày Tam hoàng tử đăng cơ để nàng ta danh chính ngôn thuận bước lên ngôi vị Thái Hậu mẫu nghi thiên hạ.

Khuôn mặt kiều diễm từng một thời khuynh đảo lục cung nay được dặm một lớp phấn dày trắng bệch, đôi môi tô son đỏ thắm như máu tươi. Nàng ta tỉ mỉ vẽ lại đôi lông mày lá liễu, cài lên mái tóc búi cao chiếc trâm ngọc phượng hoàng chín đuôi lấp lánh ngọc ngà.

Trên bàn trang điểm, bên cạnh hộp phấn thơm ngát, đặt một chiếc chén ngọc bích phát quang nhỏ nhắn. Bên trong sóng sánh một thứ chất lỏng màu hổ phách, tỏa ra mùi hương thoang thoảng của hạnh nhân đắng – đó chính là “Đoạn Hồn Tán”, loại độc dược kịch độc mà nàng ta từng ban cho biết bao phi tần và hài nhi vô tội trong chốn thâm cung này.

Tiếng bước chân gấp gáp của binh lính cấm quân vọng lại từ ngoài sân cung, tiếng giáp sắt va chạm ngày một gần.

Liễu Quý phi dừng ngọn bút vẽ mày. Nàng ta nhìn bóng hình lộng lẫy nhưng cô độc của mình trong chiếc gương đồng sáng loáng, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười cay đắng, thê lương:

“Thua rồi... Hóa ra cả đời tranh đấu, đoạt sủng, dẫm đạp lên xương máu của kẻ khác... Cuối cùng cũng chỉ là một giấc mộng hão huyền...”

Nàng ta nhớ lại ánh mắt lạnh lùng, khinh bỉ của Chu Dịch trên Kim Loan Điện; nhớ lại ánh nhìn điềm tĩnh, thấu suốt vạn vật của Tiêu Nhược Lan khi bóc trần từng âm mưu dùng độc của nàng ta. Kẻ kiêu ngạo như Liễu Nhược Tuyên, tuyệt đối không bao giờ chịu để bản thân bị tống vào lãnh cung ẩm thấp, hay bị kéo lê ra pháp trường chịu sự phỉ nhổ của muôn dân.

“Trẫm... à không, bản cung là sủng phi của thiên tử, chết cũng phải chết trong dáng vẻ tôn quý nhất!”

Liễu Quý phi vươn bàn tay thon thả, những móng tay sơn đỏ kiêu kỳ cầm lấy chiếc chén ngọc bích. Không một chút do dự, nàng ta ngửa cổ, dứt khoát uống cạn chén rượu độc đoạn trường!

Chất lỏng lạnh buốt trôi xuống cổ họng, rồi nhanh chóng bùng cháy như ngọn lửa thiêu đốt ngũ tạng.

“Choảng!”

Chiếc chén ngọc rơi xuống sàn gạch vỡ tan tành. Liễu Quý phi ngã quỵ xuống tấm thảm nhung đỏ rực, hai tay cào xé lồng ngực trong cơn co giật dữ dội. Máu tươi trào ra từ khóe môi son, nhuộm thẫm vạt áo phượng hoàng dát vàng. Ánh mắt nàng ta trừng trừng nhìn lên trần điện điêu khắc lộng lẫy, rồi từ từ tắt lịm trong bóng tối vĩnh hằng.

Một đời nhan sắc khuynh thành, một đời tâm cơ tàn độc, cuối cùng lại kết thúc bằng chính thứ độc dược mà mình tôn thờ.

*

Khi màn đêm hoàn toàn buông xuống, nuốt trọn Tử Cấm Thành trong sự u tịch thâm u, ta và Chu Dịch cùng đứng trên đài cao vọng cảnh phía trước Dưỡng Tâm Điện.

Gió đêm thổi lồng lộng, hất tung tà áo xanh của ta và dải áo choàng đen của chàng. Từ vị trí này nhìn xuống, kinh thành Thượng Kinh rực rỡ ánh đèn hoa của vạn gia đình, bình yên và tĩnh lặng như chưa từng trải qua một cuộc binh đao đẫm máu. Dưới sự điều phối của Lục Kính Chương và mạng lưới Phong Nhận, toàn bộ tàn dư phản loạn đã bị quét sạch mà không làm kinh động đến giấc ngủ của bách tính lê dân.

Bỗng nhiên, từ trên tháp chuông Cảnh Dương Cung cao vút giữa trời đêm, một âm thanh trầm hùng, bi tráng vang lên, xé toạc không gian tĩnh mịch.

“BOONG...!”

Tiếng chuông đồng khổng lồ ngân nga, trầm buồn và trang nghiêm, dội qua từng mái ngói lưu ly, lan tỏa khắp bốn cổng thành Thượng Kinh, vọng tới tận những con ngõ nhỏ xa xôi nhất của kinh kỳ.

“BOONG...!”

Tiếng chuông thứ hai tiếp nối. Rồi tiếng thứ ba, thứ tư...

Đó là hồi chuông Cửu Ngũ Đại Tang – đúng một trăm linh tám tiếng chuông tang dành riêng cho sự băng hà của bậc cửu ngũ chí tôn triều Đại An.

Từng tiếng chuông ngân vang như tiếng thở dài của lịch sử, báo hiệu sự kết thúc của một triều đại mục ruỗng, đa nghi và tàn bạo; đồng thời gột rửa đi toàn bộ những âm mưu tanh máu, những độc kế thâm hiểm đã phủ bóng đen lên hoàng cung suốt hàng chục năm ròng.

Ta nhìn sang Chu Dịch. Ánh trăng bàng bạc rọi xuống gương mặt nghiêng nghiêng tuấn tú của chàng. Gương mặt ấy không còn vẻ nhẫn nhục, xanh xao ốm yếu của mười năm trước, mà toát lên vẻ kiên nghị, trầm ổn của một bậc vương giả gánh vác giang sơn.

“Nhược Lan,” Chu Dịch khẽ gọi, bàn tay ấm áp của chàng tìm đến, nhẹ nhàng đan chặt vào những ngón tay còn quấn băng của ta. “Đêm nay qua đi, ngày mai sẽ là một triều đại mới.”

Ta ngước nhìn chàng, cảm nhận hơi ấm từ bàn tay chàng truyền qua lớp vải gạc, xua tan đi cái lạnh buốt của đêm đông hoàng thành:

“Phải. Màn đêm u tối nhất đã lùi lại phía sau rồi.”

Dưới chân chúng ta, giữa tiếng chuông tang trầm mặc ngân vang khắp cõi trời đất, phía chân trời đằng đông xa xăm, một vệt rạng đông màu tím nhạt đang chầm chậm hé rạng, báo hiệu ánh bình minh rực rỡ của một tân triều đang bắt đầu vươn mình trỗi dậy.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn