Nữ Phụ Pháo Hôi Chỉ Muốn Trồng Trọt

Chương 4: Mũi Tên Đêm Khuya Và Khế Ước Đồi Hoang

Gió đêm từ rặng núi Lạc Nhạn thốc qua từng kẽ nứa rít lên từng hồi u u lạnh lẽo. Dưới bóng tối nhập nhoạng của đống ủ rơm mới đắp ngoài bờ giậu, Chu Trực đang run rẩy giơ cao thanh đá lửa, đôi mắt ti hí vằn lên những tia máu hung tợn. Mùi dầu trẩu nồng nặc bốc lên từ chiếc bùi nhùi bện bằng xơ mướp thô kệch trong tay gã, tanh nồng và ngột ngạt đến phát buồn nôn.

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc gã chuẩn bị quẹt mạnh thanh sắt vào đá để đánh lửa, từ bụi rậm sau lưng bỗng vang lên tiếng sột soạt gấp gáp. Hai bóng người lùn tịt, lưng gù gù như lũ chồn hôi bỗng nhào tới, một bàn tay thô ráp đầy cáu ghét vội vã chộp lấy cổ tay Chu Trực, đè nghiến thanh đá lửa xuống.

“Cữu gia! Khoan đã, chớ có manh động!”

Chu Trực giật bắn mình, suýt nữa cắn phải đầu lưỡi. Gã trừng mắt nhìn kẻ vừa giữ tay mình, nhận ra đó là Chu Đại Hổ và Chu Nhị Cẩu — hai gã cháu họ chuyên nghề cờ bạc, trộm gà bắt chó có tiếng trong thôn Lạc Diệp mà chiều nay gã vừa hứa hẹn chia chác năm trăm đồng tiền đồng nếu chịu đi theo gã “dạy dỗ con ranh Khương thị”.

“Chúng mày làm cái trò quỷ gì thế hả?” Chu Trực hạ giọng gắt gỏng qua kẽ răng, bọt mép sùi ra hai bên khóe miệng: “Không thấy tao sắp phóng hỏa thiêu rụi cái ổ rơm rác này sao? Đốt cho nó thành tro tàn, để xem con ranh con ấy còn mở mồm xách luật pháp ra dọa ai!”

Chu Đại Hổ ghé sát tai Chu Trực, l**m mép một cái, đôi mắt ti hí đảo quanh ngôi nhà tranh vẻ thèm thuồng:

“Cữu gia ơi là cữu gia, ngài hồ đồ quá rồi! Chiều nay cả làng ngửi thấy mùi sườn lợn rừng hầm măng thơm nức mũi từ cái bếp này bay ra, ai mà không biết con ranh đó mới vớ được của ngon vật lạ? Ngài nghĩ mà xem, nó dẫu sao cũng từng là đích nữ Thượng thư phủ ở kinh kỳ hoa lệ, dù bị đuổi đi thì trong đãy nải tay nải thế nào chẳng giấu giếm vài lượng bạc vụn hay vòng ngọc trâm cài? Ngài một mồi lửa đốt sạch, chẳng phải là đem tiền bạc ném vào hố phân hay sao?”

Chu Nhị Cẩu đứng bên cạnh cũng gật đầu lia lịa như gà mổ thóc, phụ họa thêm:

“Đúng đấy cữu gia! Đốt nhà thì cùng lắm hả giận một lúc, nhưng mất toi hai mươi lượng bạc sính lễ của Tiền lão gia! Hay là thế này, ba người chúng ta cậy then cửa xông vào. Con ranh đó trói gà không chặt, một mình thân cô thế cô giữa đêm hôm khuya khoắt. Chúng ta bịt miệng trói nghiến nó lại, lục soát sạch sành sanh của cải, gạo thịt mang về. Sau đó... hắc hắc, ngài lấy sẵn tờ hôn thư bán thân mang theo, ép nó lăn tay điểm chỉ đỏ chót! Nếu nó dám kháng cự, chúng cháu lột phăng yếm áo nó ra làm nhục một phen. Gạo nấu thành cơm rồi, sáng mai dẫu nó có chạy đến nha môn huyện thành gõ trống kêu oan thì cũng chỉ là thứ đàn bà mất nết thất tiết, không ngoan ngoãn gả cho Tiền què thì chỉ có nước cạo đầu bôi vôi thả trôi sông!”

Nghe hai tên đồng bọn vẽ ra viễn cảnh vừa có bạc đút túi, vừa lấy lại được sính lễ hai mươi lượng, lại vừa chà đạp được sự kiêu hãnh của đứa cháu gái ngỗ ngược, lồng ngực Chu Trực đập thình thịch vì kích động. Gã hít sâu một hơi, mùi dầu trẩu bỗng chốc nhường chỗ cho lòng tham vô đáy và tà niệm dơ bẩn đang cuồn cuộn dâng trào trong huyết quản.

“Khá lắm! Hai thằng ranh chúng mày đứa nào cũng có cái đầu chứa đầy mưu mẹo thối tha!” Chu Trực cười khẩy một tiếng đầy nham hiểm, vội vàng nhét bùi nhùi và đá lửa vào bọc áo: “Mau, rút lưỡi liềm cạy then cửa! Động tác phải nhanh gọn, tuyệt đối không được để kinh động đến cái nhà họ Khương đầu thôn!”

Dứt lời, ba bóng đen lom khom men theo bờ tường đất, rón rén bước lên bậc thềm hiên nhà.

Bên trong gian nhà tranh tĩnh mịch, ngọn đèn dầu lạc đã tắt từ lâu, chỉ còn lại ánh sáng bàng bạc của vầng trăng khuyết hắt qua khe nứa nứt nẻ.

Nhược Lam vốn là một nhà khoa học với thói quen làm việc độc lập nơi phòng thí nghiệm và những cánh đồng thực nghiệm hoang vắng, thần kinh nàng cực kỳ nhạy bén với từng biến động nhỏ của không gian xung quanh. Thêm vào đó, từ lúc chập tối nàng đã linh cảm Chu Trực là loại tiểu nhân bỉ ổi cùng đường mạt lộ, tất sẽ không chịu nuốt trôi cục tức này một cách êm thấm. Bởi vậy, dù thân thể mỏi nhừ sau một ngày dài cải tạo đất phèn, nàng vẫn ngủ rất nông, hai tai luôn dỏng lên lắng nghe từng tiếng động ngoài bờ giậu.

Khi tiếng “rắc, rắc” của cành nứa khô gãy vụn vừa vang lên lúc nãy, Nhược Lam đã lập tức mở bừng mắt. Nàng không hề hoảng loạn thét lên, cũng không vội vã bật dậy làm kinh động kẻ ngoài sân. Đôi mắt hạnh trong veo của nàng lóe lên tia sáng lạnh lẽo, tĩnh lặng như mặt hồ không một gợn sóng.

Nàng khẽ lật người, bàn tay mảnh khảnh nhẹ nhàng luồn xuống gầm chõng tre, nắm chặt lấy chuôi của con dao rèn thô dùng để vót tre và gọt vỏ măng giang ban ngày. Lưỡi dao bằng sắt đen sì tuy mộc mạc nhưng được Tam Thúc mài trên đá bùn sắc lẹm, phản chiếu một vệt sáng lạnh tanh.

Bên ngoài cửa chính, tiếng kim loại cọ xát vào thanh then cài bằng tre vang lên rin rít: “Cọt kẹt... kẽo kẹt...”

Lưỡi liềm sắc bén của Chu Đại Hổ đang từ từ luồn qua khe cửa hẹp, nhắm thẳng vào chốt then tre cài ngang mà nâng lên. Gió núi rít qua khe liếp như tiếng cười the thé của quỷ đói, không khí ngột ngạt và căng thẳng đến mức dường như chỉ cần một tia lửa nhỏ cũng đủ làm nổ tung toàn bộ gian nhà.

Nhược Lam hít một hơi thật sâu, nén chặt lồng ngực, hạ thấp trọng tâm nép mình vào góc tối phía sau cánh cửa, con dao sắt giấu sau vạt áo thô. Nàng tự nhủ trong lòng: Nếu đám súc sinh này dám bước qua ngưỡng cửa, nhát dao đầu tiên nàng sẽ chém thẳng vào mắt kẻ dẫn đầu, sau đó lập tức châm lửa thiêu rụi đống bùi nhùi để báo động cho cả thôn Lạc Diệp! Trong từ điển của tiến sĩ Khương Nhược Lam, thà ngọc nát chứ quyết không để ngói lành, đừng hòng có kẻ nào bắt chẹt được nàng!

“Cạch!”

Tiếng then tre bật khỏi chốt gỗ vang lên giòn giã trong đêm tối tĩnh mịch.

Cánh cửa nứa ọp ẹp từ từ hé mở ra một khoảng trống bằng nửa thân người. Chu Trực không nén nổi sự đắc ý, gương mặt béo phì đầy ngấn mỡ vặn vẹo trong bóng tối, gã thò đầu vào trước tiên, miệng há hốc để lộ hai hàm răng ố vàng khè, rít lên từng tiếng the thé đục ngầu:

“Con ranh con, mày có chạy đằng trời...”

Lời còn chưa dứt, nụ cười dâm dật gớm ghiếc trên môi Chu Trực bỗng chốc đông cứng lại.

Từ khoảng không mịt mùng của cánh rừng nguyên sinh Lạc Nhạn cách bờ giậu hơn năm mươi trượng, một tiếng xé gió sắc nhọn đến rợn người bỗng rít lên cuồng bạo:

“Vút ——— !”

Âm thanh ấy không giống như tiếng gió thổi thông thường, mà tựa như tiếng gầm của một con ưng sắt lao bổ từ tầng mây chín tầng xuống con mồi. Kình phong sắc lẹm mang theo sát khí đặc quánh như thực thể, xé toạc màn sương đêm dày đặc, vẽ nên một vệt tàn ảnh tử thần trong hư không!

“PHẬP!”

Một tiếng nổ trầm đục vang lên ngay sát vành tai Chu Trực.

Chiếc trâm gỗ mục trên đầu gã vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh vụn. Búi tóc củ hành nhờn nhụa mỡ lập tức bị phạt đứt phăng, tóc tai xõa tung tóe như một cái tổ quạ tơi tả. Mũi tên bằng thép tinh luyện đen ngòm, dài hơn ba thước, găm ngập sâu tới nửa thân tên vào chiếc cột gỗ lim của ngôi nhà tranh!

Lực đạo kinh hồn bạt vía của mũi tên khiến toàn bộ khung nhà tranh rung chuyển dữ dội, bụi rơm rơi lả tả xuống đầu cổ đám người. Thân cột gỗ lim cứng như đá nứt toác ra một đường rãnh dài, đuôi tên gắn lông chim ưng đen tuyền vẫn còn rung lên bần bật, phát ra những tiếng “ong... ong... ong...” vang vọng như tiếng chuông báo tử gõ thẳng vào linh hồn kẻ phạm tội.

Gió lạnh từ mũi tên lướt qua mang theo hàn khí lạnh buốt, rạch một đường máu mảnh như sợi chỉ ngay trên d** tai Chu Trực, máu tươi bắt đầu rỉ ra, ấm nóng và nhớp nháp.

Chu Trực trợn trừng hai mắt, tròng mắt như muốn lồi hẳn ra ngoài hốc mắt. Toàn thân gã cứng đờ như một khúc gỗ mục, hai hàm răng va vào nhau lập cập “cắc cắc cắc”, hạ bộ bỗng nhiên ươn ướt, một luồng nước khai nồng chảy dọc theo ống quần thô xuống đất.

Gã còn chưa kịp định thần xem chuyện quái quỷ gì vừa xảy ra thì mũi tên thứ hai đã lập tức ập tới xé rách màn đêm:

“Vút — PHẬP!”

Lần này, mũi tên mang theo uy lực sấm sét cắm phập thẳng xuống mặt đất, xuyên thủng lớp đế giày rách rưới của Chu Đại Hổ, găm sâu vào kẽ đá ong lát trước thềm hiên, chỉ cách ngón chân cái của gã đúng nửa phân!

“A a a a!” Chu Đại Hổ thét lên một tiếng thảm thiết như heo bị chọc tiết, ngã ngửa ra sau, hai chân đạp loạn xạ trên nền đất bụi bặm.

Từ trên ngọn cây sồi cổ thụ sừng sững nơi bìa rừng tăm tối, một giọng nói trầm thấp, lạnh lẽo như băng tuyết ngàn năm từ địa ngục vọng lại, từng câu từng chữ đều nện thẳng vào màng nhĩ đám người, mang theo uy áp nghiền nát tâm can của một bậc chiến thần từng chỉ huy vạn quân nơi sa trường:

“Bước thêm nửa bước, mũi tên thứ ba sẽ xuyên thủng yết hầu.”

Giọng nói ấy không lớn, nhưng nội lực thâm hậu ẩn chứa bên trong khiến không khí xung quanh như ngưng đọng lại thành băng giá. Đó tuyệt đối không phải là lời đe dọa suông của một kẻ nông phu tầm thường, mà là bản án tử hình đã được giương cung sẵn sàng đoạt mạng!

“Quỷ... Quỷ thần ơi! Thần tiễn... Thần tiễn đòi mạng rồi!”

Chu Nhị Cẩu là kẻ nhát gan nhất, vừa nghe thấy giọng nói ấy liền hồn xiêu phách lạc, hai đầu gối nhũn ra như bún, ngã lăn quay từ trên bậc thềm xuống đất rồi quáng quàng bò bằng cả tứ chi về phía bờ giậu.

Chu Trực lúc này mới hồi phục lại tri giác từ cơn chấn động kinh hoàng. Gã sờ lên d** tai đầy máu tươi, lại nhìn mũi tên thép đen ngòm vẫn đang run rẩy trên cột nhà chỉ cách đầu gã đúng một tấc gang, nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lấy cuống họng khiến gã không sao thở nổi. Gã hiểu rõ mười mươi, người bắn tên kia nếu muốn lấy mạng gã thì mũi tên đầu tiên đã không bắn vào búi tóc mà đã cắm thẳng g*** h** ch*n mày gã rồi!

“Chạy... Mau chạy đi chúng mày ơi!”

Chu Trực hét lên một tiếng thất thanh the thé, chẳng còn mảy may nhớ đến bạc vụn hay khế ước bán thân gì nữa, gã vứt phăng chiếc bao tải thô và bọc bùi nhùi dầu trẩu xuống đất, ôm lấy cái đầu xõa tóc bê bết máu, cắm đầu cắm cổ tháo chạy trối chết ra phía cổng làng. Ba cái bóng đen hớt hải giẫm đạp lên nhau, vừa chạy vừa vấp ngã dúi dụi vào bụi gai tầm xuân ven đường, tiếng la khóc van xin ma quỷ tha mạng hòa lẫn vào tiếng chó sủa ran khắp các ngõ ngách thôn Lạc Diệp xa xa rồi dần dần tắt lịm.

Không gian xung quanh ngôi nhà tranh bỗng chốc chìm vào một cõi tĩnh lặng như tờ, chỉ còn lại tiếng gió núi vi vu thổi qua rặng tre già.

Bên trong cánh cửa nứa, Khương Nhược Lam chậm rãi hạ con dao sắt trong tay xuống. Nàng thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực khẽ phập phồng sau phen căng thẳng thót tim. Nhưng thay vì run rẩy sợ hãi như những thiếu nữ khuê các thông thường, đôi mắt hạnh của nàng lại ánh lên sự kinh ngạc tột độ pha lẫn thán phục.

Bắn rơi búi tóc của một kẻ đang chuyển động trong đêm tối mịt mùng, từ khoảng cách hơn năm mươi trượng xuyên qua rặng cây rậm rạp mà lực đạo vẫn đủ sức cắm ngập nửa thân tên vào cột gỗ lim... Đây là tài nghệ bắn cung nghịch thiên đến mức nào chứ? Dẫu là những tay súng thiện xạ hàng đầu thế giới ở thời hiện đại của nàng, khi cầm súng ngắm giảm thanh chưa chắc đã đạt được độ chuẩn xác và khả năng khống chế lực đạo hoàn mỹ đến bực này!

Nhược Lam đẩy cánh cửa nứa bước hẳn ra ngoài hiên. Nàng không vội vàng nhìn theo hướng đám Chu Trực trốn chạy, mà bước thẳng tới bên chiếc cột gỗ lim sừng sững trước hiên nhà.

Ánh trăng bàng bạc chiếu rọi lên thân tên. Thân tên được chuốt vô cùng tỉ mỉ từ gỗ mun đen bóng, thẳng tắp không một tì vết gợn tay, đầu bịt thép tôi lạnh ngắt tỏa ra sát khí bức người. Đặc biệt, nơi đuôi tên, chiếc lông vũ màu đen tuyền được gắn chặt bằng chỉ gân hươu, trên phiến lông vũ có ba vệt đốm trắng tự nhiên xếp thành hình tam giác — đây chính là lông của loài đại bàng đen dũng mãnh chỉ làm tổ trên đỉnh núi tuyết xa xôi.

Ký ức sáng nay nơi hẻm núi lập tức ùa về trong tâm trí Nhược Lam: người đàn ông cao lớn sừng sững như pho tượng đồng, tấm lưng rộng như núi Thái Sơn, sau lưng đeo chiếc bao tên bằng da thú thô ráp... Trên đỉnh những mũi tên giắt trong bao của gã thợ săn mặt lạnh Tiêu Lập, rõ ràng cắm toàn bộ loại lông ưng đen tuyền này!

Nhược Lam ngẩng đầu, đưa mắt hướng về phía rặng sồi cổ thụ nơi bìa rừng Lạc Nhạn.

Bóng đêm thăm thẳm bao trùm lên vạn vật, cành lá xào xạc trong gió buốt, nơi ấy đã chẳng còn một bóng người. Kẻ ra tay cứu nàng đã lặng lẽ rời đi tựa như một bóng ma trong truyền thuyết, không để lại bất kỳ một dấu vết nào, cũng chẳng cần nàng phải cất lời cảm tạ hay đền đáp ơn nghĩa.

Một nụ cười khẽ khàng bất giác nở trên khóe môi thanh tú của Nhược Lam. Trái tim nàng dâng lên một luồng hơi ấm kỳ lạ, xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo của sương đêm vùng cao.

“Gã thợ săn mặt liệt này... miệng thì cộc lốc lạnh lùng, thế mà lại thức trắng đêm trông chừng bên bìa rừng sao?” Nàng lẩm bẩm một mình, ánh mắt tràn ngập vẻ ấm áp và hài hước: “Lại còn chơi trò anh hùng cứu mỹ nhân trong bóng tối nữa chứ. Tiện tay đổi thịt, tiện tay bắn tên... Xem ra món nợ ân tình này càng lúc càng khó tính toán rành mạch rồi đây.”

Nàng bước tới, hai tay nắm lấy thân tên thép trên cột gỗ, dùng hết sức bình sinh lay mạnh. Phải mất một hồi lâu, dùng cả sức vặn xoay khớp tay, nàng mới nhổ được mũi tên ra khỏi cột gỗ lim cứng chắc. Nàng nhặt nốt mũi tên cắm dưới nền đá ong lên, cẩn thận lau sạch bụi đất dính trên đầu tên rồi ôm vào lòng, bước vào nhà, gài lại then cửa bằng một thanh gỗ mới chắc chắn hơn.

Trước khi đi ngủ lại, Nhược Lam không quên đi tới góc bếp, khẽ mở chiếc khăn xô phủ trên thúng tre ủ hạt giống ngô.

Dưới hơi ấm dịu dàng của tro than ủ âm ỉ cả đêm, năm trăm hạt ngô ngọt hoàng kim đã ngậm đủ nước, lớp vỏ lụa căng bóng nứt ra một khe nhỏ xíu, để lộ ra những mầm non trắng ngà như hạt gạo nếp, mập mạp và tràn trề sức sống mãnh liệt.

“Tốt lắm,” Nhược Lam khẽ mỉm cười, vỗ nhẹ lên thành thúng tre: “Đêm nay có người bảo vệ cho các ngươi bình an vô sự rồi. Mau mau lớn lên, ngày mai chúng ta sẽ cùng nhau lật tung quả đồi sỏi đá kia lên!”

*

Sáng sớm hôm sau.

Khi những tia nắng đầu tiên của ngày mới xuyên qua màn sương mù mỏng manh buông lơi trên sườn núi Lạc Nhạn, tiếng chim sơn ca líu lo đánh thức cả thôn làng thức giấc. Không khí buổi sớm trong lành ngập tràn mùi hương ngai ngái của đất ẩm và hương cỏ dại thơm mát sau cơn mưa nhỏ lúc rạng đông.

Nhược Lam búi gọn mái tóc đen mượt thành một búi củ tỏi cao trên đỉnh đầu, dùng một dải vải thô cố định lại, mặc bộ áo vải chàm giản dị bó sát cổ tay để tiện lao động. Nàng vừa bước ra sân múc nước suối từ vại sành để rửa mặt thì từ con đường mòn nhỏ dẫn ra bìa rừng bỗng vang lên tiếng bước chân nặng nề, vững chãi nện trên sỏi đá: “Thình thịch... thình thịch...”

Nàng ngẩng đầu nhìn lên, không khỏi ngẩn ngơ trong thoáng chốc.

Dưới ánh nắng mai vàng óng như rót mật, Tiêu Lập đang sải những bước chân dài bước tới. Thân hình chàng cao lớn vạm vỡ như một bức tường thành kiên cố, bờ vai rộng thùng thình gánh trên lưng ba súc gỗ thông đỏ to bằng bắp đùi người lớn, thớ gỗ đỏ au, rịn ra mùi nhựa thơm nồng xua đuổi muỗi mọt. Một tay chàng xách theo một bó cọc tre gai già đã được vót nhọn đầu cắm, tay kia cầm chiếc rìu sắt sáng loáng giắt bên hông chiếc đai da thú cũ kỹ.

Chàng chỉ mặc một chiếc áo ngắn cộc tay bằng vải thô màu nâu sẫm, để lộ hai cánh tay đồng hun cuồn cuộn những thớ cơ bắp săn chắc như thép nguội, gân xanh nổi rõ theo từng nhịp chuyển động. Mồ hôi sớm lấm tấm trên vầng trán cương nghị và sống mũi cao thẳng tắp, đường nét gương mặt góc cạnh dưới nắng sớm toát lên vẻ hoang dã, nam tính và đầy sức mạnh áp bức người nhìn.

“Rầm!”

Tiêu Lập bước vào khoảng sân nhỏ, vung tay ném phịch ba súc gỗ thông xuống đất, bụi đất bốc lên mù mịt.

Chàng đứng thẳng người, đưa bàn tay to lớn thô ráp quệt ngang mồ hôi trên trán, ánh mắt đại bàng sắc bén khẽ liếc qua chiếc cột gỗ lim trước hiên nhà — nơi có vết nứt toác và lỗ thủng do mũi tên đêm qua để lại — rồi dời sang khuôn mặt tươi tắn, rạng rỡ của Nhược Lam.

Gương mặt chàng vẫn lạnh tanh không một biểu cảm, đôi môi mỏng khẽ mím lại, cất giọng trầm đục, khàn khàn như đá sỏi cọ vào nhau:

“Sáng nay lên núi đốn củi, tiện tay chặt thừa mấy khúc gỗ thông mục. Nhìn hàng rào nhà nàng rách nát ngứa mắt, gió thổi một cái là đổ, tiện đường vác sang sửa lại.”

Nhược Lam nghe xong, suýt chút nữa bật cười thành tiếng.

Tiện tay chặt thừa? Tiện đường vác sang?

Nàng là tiến sĩ nông lâm học, liếc mắt một cái liền nhận ra ngay: ba súc gỗ này là gỗ lõi thông đỏ ngàn năm trên vách đá hiểm trở của đỉnh Lạc Nhạn, loại gỗ này cứng như sắt, ngâm nước trăm năm không mục, chống mối mọt bậc nhất, ở phủ thành người ta phải bỏ ra mấy lượng bạc một súc mới mua nổi! Còn bó tre kia toàn là tre gai đực già trên mười năm tuổi, gai nhọn hoắt tua tủa, dùng làm hàng rào thì dẫu có là lợn rừng hay hổ báo cũng đừng hòng húc thủng!

Để chuẩn bị được đống gỗ tre này, e rằng người đàn ông này đã phải thức dậy từ lúc canh tư mò lên tận đỉnh núi hiểm trở, dốc cạn sức lực đốn hạ rồi vác xuống đây trước khi trời sáng rõ. Thế mà vào đến miệng chàng, tất cả chỉ gói gọn trong hai chữ “tiện tay”!

Nhược Lam nén cười, không hề vạch trần lời nói dối vụng về đến đáng yêu của chàng. Nàng khẽ nghiêng đầu, đôi mắt hạnh cong cong như vầng trăng non, giọng nói trong trẻo mang theo ý cười trêu chọc:

“Ồ? Ra là Tiêu đại ca tiện tay vác thừa sao? Thôn Lạc Diệp này rộng lớn như thế, bao nhiêu nhà hàng rào rách nát, sao Tiêu đại ca không tiện đường vác sang cho nhà người ta mà lại vác thẳng vào sân nhà ta thế này?”

Tiêu Lập khựng lại một nhịp. Vành tai chàng dưới lớp tóc mai đen nhánh bỗng chốc đỏ ửng lên một cách bất thường, nhưng khuôn mặt phong trần ngăm đen vẫn cố giữ vẻ lạnh lùng nghiêm nghị. Chàng lúng túng ho nhẹ một tiếng “khụ”, dời ánh mắt nhìn chằm chằm vào mái tranh dột nát trên nóc nhà, giọng điệu cứng đờ:

“Nói nhiều quá. Đứng tránh ra một bên, kẻo dằm gỗ đâm vào tay.”

Nói đoạn, chàng không thèm để ý đến nàng nữa, cởi phăng chiếc áo ngắn bên ngoài vứt lên bờ giậu, để lộ ra tấm lưng trần vạm vỡ, săn chắc chằng chịt những vết sẹo đao kiếm mờ nhạt — dấu ấn của những trận huyết chiến sinh tử nơi biên ải xa xôi.

Tiêu Lập cầm chiếc rìu sắt lên, động tác dứt khoát và chuẩn xác đến kinh ngạc. Chiếc rìu nặng trịch trong tay chàng nhẹ tựa lông hồng, chàng vung tay chém xuống, tiếng “chát, chát” giòn giã vang lên không ngớt. Từng khúc gỗ thông đỏ lập tức bị xẻ ra thành những thanh rào vuông vức, phẳng lì.Chàng đào rãnh quanh bờ giậu, cắm sâu những cọc tre gai xuống đất đá, dùng dây mây rừng dẻo dai bện chặt lại thành một bức tường rào kiên cố cao quá đầu người. Không dừng lại ở đó, chàng bước vào hiên nhà, tháo cánh cửa nứa ọp ẹp xuống, đo đạc kích thước rồi dùng gỗ thông đỏ đóng lại một cánh cửa gỗ dày dặn, vững chãi. Chàng còn tỉ mỉ đẽo một thanh then cài cửa bằng gỗ nghiến to bản, cài ngang vào hai mấu chốt sâu hoắm trên khung cửa:

“Thanh then này cài vào, bên ngoài dẫu có dùng búa tạ nện cũng không phá nổi.” Tiêu Lập vừa thử then cài vừa trầm giọng nói, trong lời nói ngầm nhắc nhở chuyện cậy cửa đêm qua.

Nhìn người đàn ông cao lớn mồ hôi nhễ nhại, làm việc thoăn thoắt không ngơi tay một khắc nào vì sự an toàn của mình, trái tim Nhược Lam mềm nhũn ra. Nàng xoay người bước vào gian bếp, nhóm lửa đun một ấm nước suối sôi sùng sục. Nàng thả vào ấm một nhúm lá bạc hà rừng và quả la hán phơi khô mà nàng hái được hôm qua, pha thành một ấm trà thảo dược thơm ngát, thanh nhiệt giải độc.

Nàng lại bưng ra một chiếc mẹt nhỏ, bên trên bày mấy củ khoai lang nướng thơm lừng bùi ngậy và một bát măng giang luộc chấm muối ớt rừng đỏ au.

“Tiêu đại ca, dừng tay nghỉ một lát đã, uống bát nước cho mát họng.” Nhược Lam bưng bát nước trà thơm lừng bước tới bên cạnh chàng, đưa chiếc khăn vải thô sạch sẽ cho chàng lau mồ hôi.

Tiêu Lập nhìn bát trà thảo mộc màu hổ phách bốc khói nghi ngút, lại nhìn nụ cười ấm áp như nắng sớm của nàng, ánh mắt sắc bén như chim ưng bỗng chốc dịu lại vài phần. Chàng nhận lấy bát nước, đầu ngón tay thô ráp chai sần vô tình chạm nhẹ vào những ngón tay mềm mại, trắng trẻo của Nhược Lam.

Một luồng điện tê rần bỗng chốc chạy dọc từ đầu ngón tay truyền thẳng vào tim chàng, khiến lồng ngực người đàn ông vốn quen với mưa bom bão đạn nơi chiến trường bỗng đập loạn xạ mất một nhịp. Tiêu Lập vội vàng thu tay lại, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch bát nước trà.

Vị ngọt thanh mát của la hán hòa cùng hương thơm the the của bạc hà lập tức xua tan đi sự mỏi mệt trong lồng ngực. Tiêu Lập đặt chiếc bát sành xuống bàn, khẽ gật đầu:

“Nước... rất ngon.”

“Ngon thì uống thêm bát nữa,” Nhược Lam cười rạng rỡ, lại rót đầy một bát khác: “Ăn thêm củ khoai nướng lót dạ đi. Huynh giúp ta dựng hàng rào chắc chắn thế này, tối nay ta mới có thể kê cao gối mà ngủ một giấc thật ngon được.”

Tiêu Lập nhìn nàng, đôi mắt sâu thẳm như đáy vực khẽ lay động. Chàng ngập ngừng một thoáng, rồi thò tay vào bọc da thú bên hông, lấy ra một chiếc túi vải nhỏ đưa cho nàng.

“Cái gì thế này?” Nhược Lam tò mò mở ra.

Bên trong túi vải là một nắm hạt giống hình bầu dục, vỏ màu nâu sẫm, căng mẩy.

“Sáng nay lên vách đá đốn gỗ, thấy một bụi cây dại mọc cheo leo bên bờ vực, quả của nó chín đỏ mọng, chim rừng thi nhau rỉa ăn. Ta đoán nàng thích mấy thứ cây cỏ kỳ lạ này nên tiện tay hái hạt mang về.” Tiêu Lập giải thích, giọng điệu vẫn cố tỏ ra hờ hững.

Nhược Lam cầm những hạt giống lên mũi ngửi thử, lại dùng móng tay bấm nhẹ vào lớp vỏ lụa để xem phôi hạt bên trong. Đôi mắt nàng lập tức sáng rực lên như sao sa, không kiềm chế được mà reo lên đầy thích thú:

“Trời đất ơi! Đây là giống dâu tằm cao sản mọc dại trên núi cao! Lá của loại dâu này dày bản, hàm lượng protein cực kỳ cao, tằm ăn vào sẽ nhả ra loại tơ vàng óng thượng hạng! Tiêu đại ca, huynh quả thực là ngôi sao may mắn của ta đấy!”

Thấy nàng vui sướng nhảy cẫng lên như một đứa trẻ, khóe môi Tiêu Lập bất giác khẽ nhếch lên thành một nụ cười mờ nhạt — nụ cười hiếm hoi suốt bao năm tháng chém giết nơi chiến trường đẫm máu.

Đúng lúc ấy, từ ngoài con ngõ nhỏ vang lên tiếng bước chân dồn dập cùng tiếng gọi hớt hải của Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu:

“Nhược Lam! Nhược Lam ơi! Cháu có sao không? Đêm qua ta nghe nói thằng súc sinh Chu Trực...”

Tam Thúc cùng Tam Thẩm thở hổn hển chạy xộc vào sân, trên tay Tam Thúc còn lăm lăm chiếc đòn gánh tre định đi liều mạng. Nhưng khi vừa bước qua cánh cổng rào tre gai kiên cố, nhìn thấy một hàng rào gỗ thông đỏ sừng sững uy nghiêm, cánh cửa gỗ mới tinh chắc nịch, và đặc biệt là người đàn ông khổng lồ Tiêu Lập đang đứng sừng sững bên cạnh Nhược Lam, hai vợ chồng Tam Thúc sững sờ chết lặng tại chỗ, miệng há hốc không thốt nên lời.

“Tam Thúc, Tam Thẩm! Hai người đến rồi à?” Nhược Lam mỉm cười chạy ra đón: “Cháu không sao cả. Đêm qua có người tốt trừng trị lũ Chu Trực rồi. Sáng nay Tiêu đại ca lại tiện đường sang giúp cháu gia cố lại toàn bộ nhà cửa hàng rào, từ nay ruồi bọ cũng đừng hòng bay vào quấy phá!”

Tam Thúc nhìn Tiêu Lập, trong lòng vừa kính sợ vừa biết ơn khôn xiết. Ông vội vàng chắp tay, cúi đầu thật sâu:

“Tiêu tráng sĩ! Đa tạ ngài, đa tạ đại ân đại đức của ngài đã ra tay bảo hộ cho con bé Nhược Lam! Lão già này... thật không biết lấy gì đền đáp!”

Tiêu Lập vội lách người tránh khỏi cái cúi đầu của bậc trưởng bối, chàng khoác lại chiếc áo thô lên người, dắt rìu vào đai lưng, trầm giọng nói:

“Tam Thúc không cần đa lễ. Hàng xóm láng giềng giúp nhau là lẽ thường. Nhà cửa đã sửa xong, ta lên rừng săn thú đây.”

Nói dứt lời, chàng gật đầu chào Nhược Lam một cái rồi sải bước quay lưng đi thẳng ra bìa rừng, bóng lưng cao lớn dần khuất sau những rặng thông xanh ngắt.

Tam Thẩm nhìn theo bóng lưng Tiêu Lập, lại nhìn sang Nhược Lam, trong mắt ánh lên sự vui mừng và tán thưởng không giấu giếm:

“Chao ôi, Tiêu tráng sĩ này nhìn bề ngoài thì thô kệch lầm lì, thế mà bên trong lại chu đáo, tốt bụng đến thế! Nhược Lam à, người như vậy giữa cái thời buổi này khó tìm lắm đấy con nhé.”

Nhược Lam đỏ mặt, vội vàng đánh trống lảng:

“Tam Thẩm này, người đừng trêu cháu nữa! Mau vào nhà xem, hạt ngô ngọt cháu ủ đêm qua đã nứt nanh đâm chồi hết cả rồi kìa! Hôm nay chúng ta phải lên huyện nha một chuyến để hoàn tất thủ tục xin khế ước đất đai nữa đấy!”

Nhắc đến chuyện chính sự, sắc mặt Tam Thúc lập tức trở nên nghiêm túc:

“Phải, phải! Lý chính Trần lão trượng đã thắng xong chiếc xe bò ngoài đầu thôn rồi, đang đợi chúng ta cùng đi lên huyện thành Vân Khê đây. Hôm nay nhất định phải cầm được tờ khế ước đất có dấu đỏ của huyện nha về, để cho cả cái họ Chu kia hết đường dòm ngó!”

*

Nửa canh giờ sau, chiếc xe bò lọc cọc của Lý chính Trần lão trượng lăn bánh trên con đường đất gập ghềnh dẫn về hướng huyện thành Vân Khê.

Gió sớm thổi lồng lộng qua những cánh đồng lúa đang thì con gái hai bên đường. Tam Thúc ngồi cạnh Lý chính phía trước đánh xe, còn Nhược Lam ngồi phía sau thùng xe, tay ôm bọc giấy tờ hộ tịch và chiếc giỏ tre nhỏ đựng mẫu đất và hạt ngô ủ mầm.

Điều khiến Nhược Lam vừa ngạc nhiên vừa buồn cười là, cách chiếc xe bò không xa, Tiêu Lập với chiếc cung săn lớn trên lưng và một gùi da thú nặng trịch đang cưỡi một con ngựa bờm đen thong thả đi song song. Khi được hỏi, chàng chỉ buông một câu cụt lủn: “Tiện đường lên huyện thành bán da thú cho hiệu thuốc.”

Nhìn bóng dáng cao lớn của chàng thợ săn cưỡi ngựa đi bên cạnh bảo vệ như một hộ vệ trung thành tuyệt đối, trong lòng Nhược Lam tràn ngập cảm giác an tâm chưa từng có.

Huyện thành Vân Khê là trung tâm giao thương sầm uất của cả vùng, cách thôn Lạc Diệp chừng nửa ngày đường xe bò. Phố xá lát đá xanh rộng rãi, hai bên đường san sát những tửu lầu, phường nhuộm, hiệu thuốc và các cửa hàng tơ lụa nhộn nhịp kẻ bán người mua, tiếng rao hàng vang lên rộn rã khắp các ngõ phố.

Xe bò dừng lại trước cửa Huyện nha Vân Khê — một tòa công đường uy nghiêm với đôi sư tử đá gác cổng và tấm biển gỗ sơn son thiếp vàng treo cao.

Nhờ có uy tín nhiều năm của Lý chính Trần lão trượng và danh tiếng liêm khiết của ông, viên lại dịch phụ trách Hộ phòng nhanh chóng tiếp đón họ tại sảnh phụ của nha môn.

Viên Đề lại họ Vương ngoài bốn mươi tuổi, ria mép tỉa tót cẩn thận, mặc áo dài màu chàm viền đen, tay cầm chiếc bút lông phe phẩy, đưa mắt nhìn Nhược Lam từ đầu đến chân với vẻ dò xét:

“Ngươi chính là nữ tử Khương thị bị trục xuất khỏi Khương phủ ở kinh thành, nay muốn xin lập hộ tịch độc lập và khai khẩn đất hoang tại thôn Lạc Diệp?”

Nhược Lam không hề tỏ ra e dè hay sợ sệt trước chốn nha môn quan phủ. Nàng bước lên một bước, phong thái ung dung đĩnh đạc, lưng thẳng như cành trúc, hai tay dâng lên tập hồ sơ đã chuẩn bị sẵn:

“Bẩm Vương đại nhân, dân nữ Khương Nhược Lam chính là người đó. Đây là Đoạn tuyệt thư có ấn tín đỏ của Khương Thượng thư phủ, xác nhận dân nữ đã hoàn toàn dứt bỏ quan hệ thân tộc, tự lập môn hộ. Theo Luật Hộ tịch triều Đại Ninh ta, điều thứ mười sáu quy định rõ: Phụ nữ độc thân đã có Đoạn tuyệt thư hoặc không nơi nương tựa, có quyền đứng tên chủ hộ (Hộ nữ chủ), được phép xin quan phủ cấp phép khai khẩn đất vô chủ để tự nuôi sống bản thân, nộp tô thuế cho quốc gia. Kính mong đại nhân thẩm duyệt.”

Viên Đề lại họ Vương hơi giật mình. Gã vốn tưởng đây chỉ là một thôn nữ nghèo hèn dốt nát, định bụng dùng vài câu hạch sách để vòi vĩnh chút bạc trà nước. Không ngờ thiếu nữ này vừa mở miệng đã dẫn giải rành rọt từng điều luật của Đại Ninh luật, khẩu khí đĩnh đạc, chữ viết trên đơn từ lại ngay ngắn, phượng múa rồng bay như nét bút của bậc đại gia thư pháp! Lại nhìn thấy dấu ấn son đỏ chót của Thượng thư phủ kinh kỳ trên tờ Đoạn tuyệt thư, Vương Đề lại thầm rùng mình, biết rõ người này dẫu có thất thế thì cũng mang cốt cách của dòng dõi khuê tú danh gia, tuyệt đối không thể tùy tiện ức h**p.

Vương Đề lại ho nhẹ một tiếng, lật giở cuốn sổ địa bạ huyện Vân Khê dày cộp ra bàn:

“Được rồi, hồ sơ hộ tịch của ngươi hoàn toàn hợp lệ. Nay nha môn chuẩn y cho ngươi lập hộ độc lập tại thôn Lạc Diệp. Còn về việc xin khế ước khai khẩn đất hoang... Ngươi muốn xin khoanh vùng mảnh đất nào? Nói trước cho ngươi biết, đất ruộng màu mỡ quanh sông Ngân Khê đều đã có chủ bạ, chỉ còn lại những dải đất rìa làng mà thôi.”

Lý chính Trần lão trượng vội bước lên đỡ lời:

“Bẩm đại nhân, con bé này nó muốn xin mảnh đất hoang quanh căn nhà tranh của mẹ nó để lại...”

“Không chỉ có mảnh đất quanh nhà, bẩm đại nhân!”

Nhược Lam bỗng cất tiếng cắt ngang, ngón tay ngọc ngà của nàng dứt khoát chỉ thẳng vào tấm bản đồ địa chính treo trên tường công đường, điểm thẳng vào một vùng đồi núi nhấp nhô được vẽ bằng mực xám:

“Dân nữ muốn xin toàn bộ quyền khai khẩn ngọn đồi sỏi đá phía sau thôn Lạc Diệp, kéo dài từ chân núi Lạc Nhạn ra bờ kênh cạn, tổng cộng ước chừng ba mươi mẫu đất!”

Lời vừa thốt ra, cả căn phòng Hộ phòng lập tức rơi vào một cõi tĩnh lặng như tờ.

Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu run bắn người, suýt nữa cắn phải đầu lưỡi, vội vã kéo giật tay áo Nhược Lam:

“Nhược Lam! Cháu điên rồi sao? Quả đồi sỏi đá đó... quả đồi đó đất chua nồng nặc, toàn sỏi đá ong lởm chởm, cỏ dại còn không mọc nổi! Mấy chục năm nay dân làng chỉ dùng nó để thả vài con dê còi, ai nấy đều chê bai tránh xa. Cháu xin ba mươi mẫu đất chết đó để làm gì? Lấy tiền đâu mà nộp thuế đất cho quan phủ?”

Vương Đề lại cũng trừng to hai mắt nhìn nàng như nhìn thấy một kẻ mất trí:

“Khương cô nương, ngươi có biết mình đang nói gì không? Ngọn đồi đó huyện nha chúng ta đã liệt vào diện ‘hoang sơn phế địa’ suốt hai mươi năm nay, không ai thèm ngó ngàng! Ngươi nhận ba mươi mẫu đất đó, chẳng khác nào tự tròng dây thừng vào cổ mình!”

Nhược Lam vẫn giữ nguyên nụ cười tự tin, ánh mắt sáng rực kiên định:

“Dân nữ hoàn toàn tỉnh táo. Theo ‘Khuyến Nông Chiếu’ của Hoàng thượng ban hành năm ngoái: Bất kỳ bách tính nào dám đứng ra nhận khai khẩn đất hoang phế bạc màu cấp độ ba trở lên, triều đình sẽ cấp khế ước sở hữu thời hạn năm mươi năm, đồng thời miễn toàn bộ thuế má lương thảo trong ba năm đầu canh tác! Có đúng như vậy không thưa Vương đại nhân?”

Vương Đề lại sững sờ, chiếc bút lông trên tay suýt rơi xuống bàn.

Đúng là triều đình có chính sách này thật, nhưng từ trước đến nay ở huyện Vân Khê chẳng có kẻ ngu ngốc nào dám nhận đất sỏi đá bạc màu để khai khẩn, bởi vì tiền phân bón, công sức đào đá khử chua đổ vào đó chỉ có nước táng gia bại sản! Nhưng đối với quan phủ địa phương, nếu có người chịu đứng ra nhận đất hoang để ghi vào sổ sách báo công lên trên, chẳng những huyện nha được khen thưởng vì thành tích mở rộng diện tích canh tác, mà gã Đề lại phụ trách như gã cũng được hưởng một món hoa hồng trích từ quỹ khuyến nông của nha môn!

“Ngươi... ngươi thật sự muốn nhận ba mươi mẫu đồi sỏi đá đó?” Vương Đề lại nuốt nước bọt cái ực, hỏi lại lần cuối.

“Nhất ngôn cửu đỉnh! Xin đại nhân lập khế ước ngay cho dân nữ!” Nhược Lam dõng dạc khẳng định.

Nửa canh giờ sau.

Viên Đề lại mang tờ đơn vào hậu đường bẩm báo. Vị Huyện lệnh huyện Vân Khê vốn đang đau đầu vì chỉ tiêu khai hoang cấp trên giao phó chưa hoàn thành, nghe tin có người tự nguyện gánh ba mươi mẫu đất chết liền mừng rỡ như vớ được vàng, lập tức vung bút phê chuẩn hai chữ “Chuẩn y”, đóng thẳng con dấu son lớn của huyện nha lên tờ khế đất!

Khi Nhược Lam bước ra khỏi cổng nha môn, ánh tà dương của buổi chiều muộn đã nhuộm đỏ rực cả một góc trời huyện thành Vân Khê.

Trên tay nàng lúc này là một tờ khế ước bằng giấy tuyên bồi gấm dày dặn, bên trên viết rõ: Hộ nữ chủ Khương Nhược Lam, toàn quyền sở hữu và canh tác ba mươi mẫu đồi hoang tại thôn Lạc Diệp trong vòng năm mươi năm, ba năm đầu miễn toàn bộ thuế má! Từng nét chữ son đỏ au vẫn còn thơm nức mùi mực xạ hương mới tinh.

Tam Thúc đi bên cạnh vẫn chưa hết bàng hoàng, chiếc lưng còng của ông run rẩy, vừa lo lắng vừa xót xa nhìn đứa cháu gái:

“Nhược Lam ơi là Nhược Lam... Ba mươi mẫu sỏi đá... Làm sao mà cuốc xới cho xuể đây con?”

Nhược Lam ôm chặt tờ khế đất vào lòng, ngẩng cao đầu hít một hơi thật sâu làn gió mát rượi của đất trời. Đôi mắt nàng lấp lánh niềm kiêu hãnh và ngập tràn ngọn lửa nhiệt huyết của một nhà nông học chân chính.

Trong mắt người đời, đó là đồi sỏi đá bạc màu, là vùng đất chết bị ruồng bỏ. Nhưng trong đôi mắt thấu suốt quy luật tự nhiên của nàng, chỉ cần khử chua bằng vôi bột, bón lót phân vi sinh ủ hoai mục, cày xới tơi xốp và đưa giống ngô ngọt siêu năng suất kết hợp xen canh đậu tương cố định đạm xuống lòng đất... thì ba mươi mẫu đất hoang này sẽ biến thành một biển vàng trù phú, thành trang viên sinh thái kiểu mẫu đệ nhất Đại Ninh quốc!

Nàng quay đầu lại, nhìn thấy Tiêu Lập đang dắt con ngựa đen đứng chờ dưới gốc cây hòe già bên ngoài cổng nha môn, ánh hoàng hôn phủ lên bờ vai rộng lớn của chàng một lớp viền vàng rực rỡ.

Nhược Lam bước nhanh tới bên cạnh chàng, giơ cao tờ khế đất đỏ chót trước mặt Tiêu Lập, khóe môi nở một nụ cười rạng rỡ, tinh nghịch nói:

“Tiêu đại ca! Nhìn thấy chưa? Từ hôm nay trở đi, ta chính là đồi chủ của ba mươi mẫu đất hoang sau làng rồi đấy nhé! Sau này huynh muốn lên rừng săn thú, phải bước qua lãnh địa của Khương đồi chủ ta trước đấy!”

Tiêu Lập nhìn nụ cười rạng rỡ như ánh dương của thiếu nữ trước mặt, khóe mắt chàng khẽ cong lên một tia ấm áp hiếm hoi. Chàng cúi đầu nhìn nàng, trầm giọng đáp:

“Được. Nàng muốn trồng gì, ta cuốc đất cho nàng.”

Nhược Lam nghe vậy, trong lòng ngọt ngào như vừa uống một thìa mật ong rừng nguyên chất.

Thế nhưng, ngay khi nàng chuẩn bị cất tiếng cười đùa tiếp, Tiêu Lập bỗng nhiên thu lại nụ cười.

Bàn tay to lớn gân guốc của chàng đột ngột siết chặt lấy chuôi trường đao giấu trong bọc vải thô bên hông ngựa. Ánh mắt đại bàng sắc bén của chàng bỗng chốc trở nên ngưng trọng và lạnh lẽo tột cùng, ngước nhìn thẳng lên bầu trời ráng chiều chạng vạng phía chân trời xa xăm.

Theo hướng nhìn của chàng, một cánh chim bồ câu đưa thư màu tuyết trắng muốt đang vút bay xé toạc những dải mây đỏ rực, dưới chân nó buộc một dải lụa đỏ thắm — ám hiệu cấp báo khẩn cấp cao nhất của quân doanh Trấn Bắc từ kinh thành Thạnh An truyền tới...

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn