Tiếng rào tre đổ rạp cùng tiếng thét the thé như tiếng lợn bị chọc tiết vừa dứt, không khí ấm cúng trong gian nhà tranh lập tức đông cứng lại.
Bé Bảo Nha giật thót mình, miếng thịt sườn đang nhai dở suýt nữa nghẹn ứ nơi cổ họng. Cô bé sợ hãi buông đũa, vội vàng rúc đầu vào lòng mẹ, cả người run lên bần bật. Nụ cười vừa chớm nở trên môi Tam Thẩm Lý thị vụt tắt, gương mặt chất phác thoắt cái tái nhợt đi vì kinh hãi.
“Chu... Chu Trực!” Tam Thẩm run giọng, hai bàn tay thô ráp siết chặt lấy vai con gái. “Hắn... sao hắn lại đến đây vào lúc này?”
Khương Vĩnh Cửu đặt mạnh bát cháo xuống mặt chõng tre, phát ra một tiếng “cạch” khô khốc. Đôi mắt vốn dĩ hiền lành, nhẫn nhục của người nông phu quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời bỗng chốc vằn lên những tia máu đỏ ngầu. Ông đứng bật dậy, với lấy chiếc đòn gánh dựng ở góc tường, bàn tay gân guốc siết chặt lấy thân tre già bóng loáng:
“Cái ngữ lòng lang dạ thú! Năm xưa chị dâu khuất núi, hắn đã vét sạch số bạc tích cóp của gia đình, nay thấy con bé Lam bị đày về đây bơ vơ không nơi nương tựa, hắn lại muốn dồn ép con bé vào đường chết sao? Để ta ra liều mạng với hắn!”
“Tam Thúc, người bình tĩnh đã.”
Một bàn tay mềm mại nhưng vô cùng vững chãi khẽ đặt lên cánh tay đang run rẩy vì giận dữ của Khương Vĩnh Cửu.
Nhược Lam chậm rãi đứng dậy. Nàng từ tốn vuốt lại nếp áo vải thô đã sờn rách nơi cổ tay, thần sắc trên gương mặt thanh tú không hề có nửa phần kinh hoảng, chỉ có một sự lạnh lùng tĩnh lặng như mặt hồ mùa đông. Đôi mắt hạnh trong veo ánh lên tia nhìn sắc bén, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười giễu cợt.
Nàng đã sớm liệu được đám đỉa đói này sẽ không để yên. Dấu chân lấm bùn quanh góc hiên đêm qua chính là điềm báo. Chỉ không ngờ, mùi thịt kho vừa bay ra đầu ngõ chưa bao lâu mà cái mũi thính của lũ lang sói đã lần mò tới tận cửa nhanh đến thế.
“Tam Thúc, Tam Thẩm, hai người cứ ngồi yên đây trông Bảo Nha.” Nhược Lam cất giọng trầm tĩnh, thanh âm mang một sức nặng kỳ lạ khiến người ta an lòng. “Có cháu ở đây, để xem hôm nay ai dám động vào một cọng cỏ của căn nhà này.”
Nói đoạn, nàng không hề cầm theo gậy gộc hay dao rựa, cứ thế đĩnh đạc sải bước ra ngoài sân.
Bên ngoài, chiếc cổng nứa đơn sơ bị đạp gãy đôi nằm chỏng trơ giữa đống bùn đất. Đứng sừng sững giữa khoảng sân hoang tàn là một gã đàn ông trung niên béo lùn, bụng phệ như cái trống chầu, hai con mắt ti hí đảo liên hồi như chuột cống. Gã mặc chiếc áo lụa the màu xanh xỉn đã cáu bẩn nơi cổ áo, trên tay phe phẩy chiếc quạt nan rách mép — đó chính là Chu Trực, kẻ mang danh cữu cữu ruột của nguyên thân, nhưng lòng dạ lại hiểm độc hơn cả rắn rết.
Đứng ngay sau lưng Chu Trực là một mụ đàn bà trạc tứ tuần, mặt trét phấn dày cộp như quét vôi, bên khóe miệng có một nốt ruồi to tướng cắm chiếc lông gà ngoe nguẩy. Mụ ta tay cầm chiếc khăn tay sặc sùa mùi phấn hương rẻ tiền, hai con mắt dán chặt vào gian bếp đang bốc khói nghi ngút, miệng không ngừng chép chép hít hà mùi thơm béo ngậy của thịt hầm.
Phía sau cùng còn có hai gã lưu manh lực lưỡng trong làng, tay lăm lăm dây thừng thô và bao tải gai, mặt mày bặm trợn đầy vẻ đe dọa.
Thấy Nhược Lam bước ra với dáng vẻ thanh thoát, không hề có chút tiều tụy, khóc lóc thảm hại như tưởng tượng, Chu Trực thoáng ngẩn người. Nhưng ngay sau đó, mùi sườn heo hầm măng rừng thơm lừng từ trong nhà bay ra xộc thẳng vào mũi khiến gã nuốt nước bọt đánh ực một cái, sự thèm thuồng lập tức hóa thành cơn thịnh nộ ghen ghét.
“Con ranh con!” Chu Trực chĩa thẳng chiếc quạt nan vào mặt Nhược Lam, the thé mắng chửi: “Mày hay cho một đứa con gái bất hiếu, thất đức! Bị Khương phủ đuổi cổ về quê cũ như chó cụt đuôi, không biết ngậm miệng mà sám hối, lại dám lén lút ăn sung mặc sướng ở đây? Mày lấy đâu ra thịt béo thế kia? Có phải mày đã giấu giếm bạc của tổ tiên nhà họ Chu tao mang về đây tiêu xài không hả?!”
Nhược Lam đứng khoanh tay trước bậc thềm đất, ánh mắt quét qua bộ dạng nhếch nhác của gã cữu cữu, khẽ bật cười thành tiếng:
“Chu Trực, ban ngày ban mặt, ngẩng đầu có trời xanh, cúi đầu có đất dày, ngông cuồng sủa bậy không sợ sét đánh trúng đỉnh đầu sao? Bạc của Chu gia các người? Năm xưa khi nương ta gả vào Khương phủ, của hồi môn mang theo toàn là do bà ngoại để lại cho riêng nương ta. Sau khi nương ta tạ thế, số bạc tích cóp gửi về quê sửa sang phần mộ đã bị ai đánh tráo, đem đi nướng sạch vào sòng bạc ngoài huyện thành, trong lòng ngươi tự biết rõ nhất! Ngươi còn mặt mũi nào dám đứng ở đây mở mồm nhắc đến hai chữ tổ tiên?”
“Mày... Mày dám ăn nói với cữu cữu như thế à?!” Chu Trực nghẹn họng, mặt đỏ gay như mào gà chọi. Gã không ngờ con nha đầu vốn dĩ yếu đuối, chỉ biết ôm mặt khóc thút thít ở kinh thành nay lại có cái miệng sắc bén như dao cạo thế này.
Mụ đàn bà mặt phấn đứng bên cạnh — chính là Tôn mối bà nức tiếng hiểm độc ở thôn bên — thấy Chu Trực thất thế liền lắc lư thân hình núc ních bước lên, cất giọng chua loét:
“Ai da, đại cô nương Khương gia ơi là Khương gia! Người ta nói thiên kim tiểu thư dù sa cơ lỡ vận thì cốt cách vẫn còn, sao con bé này mở miệng ra toàn lời đanh đá thế không biết? Cữu cữu của ngươi là vì thương xót ngươi thân gái dặm trường, không cha không mẹ che chở nên mới trăm bề lo nghĩ cho tiền đồ của ngươi đấy chứ!”
Tôn mối bà vẫy vẫy chiếc khăn sực mùi hương rẻ tiền, liếc xéo Nhược Lam từ đầu đến chân rồi cười giả lả:
“Ngươi nhìn lại mình xem, bị phế truất đích nữ, lại mang cái danh bất hiếu ngỗ ngược, ở cái thôn Lạc Diệp khỉ ho cò gáy này thì có ma nào thèm rước? Cữu cữu ngươi đã hao tâm tổn trí, cậy nhờ ta làm mối cho một mối nhân duyên trời ban. Tiền lão gia ở làng bên tuy tuổi tác có hơi cứng một chút, chân cẳng hơi khập khiễng, lại vừa mới mất đi kế thất, nhưng trong nhà có tới năm mươi mẫu ruộng tốt, thóc lúa đầy bồ, bạc nén xếp thành từng hòm! Ngươi gả qua đó làm thiếp, chẳng phải cả đời áo gấm cơm chim, không cần phải cắm mặt xuống bùn làm ruộng hay sao? Tiền lão gia đã hào phóng ra giá hai mươi lượng bạc sính lễ, hôm nay bọn ta mang sính lễ đến đón ngươi đi ngay lập tức!”
“Hai mươi lượng bạc?”
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu từ trong nhà xông thẳng ra sân, chiếc đòn gánh trong tay giộng mạnh xuống đất nghe một tiếng “thình”, trừng mắt quát lớn:
“Tôn thị! Mụ chớ có ngậm máu phun người! Cả cái huyện Vân Khê này ai mà không biết lão Tiền què kia đã ngoài năm mươi tuổi, tính tình bạo ngược, hai đời vợ trước đều bị lão đánh đập hành hạ đến chết! Mụ và Chu Trực nhận bạc thất đức của lão, muốn đẩy con bé Lam vào hố lửa để lấy tiền chia chác đúng không? Hôm nay Khương Vĩnh Cửu ta còn một hơi thở, đừng hòng ai đụng vào một sợi tóc của cháu gái ta!”
“Khương Vĩnh Cửu! Lão già nghèo kiết xác này cút sang một bên!” Chu Trực nhảy dựng lên, lộ rõ bộ mặt hung tợn: “Mày là cái thớ gì mà dám xía vào chuyện nhà họ Chu? Con Lam là cháu gái ruột của tao, chuyện hôn sự của nó do tao làm chủ! Chưa kể mảnh đất cắm dùi này vốn dĩ là đất của Chu gia, tao đã hứa gán cho Tiền lão gia làm vườn ươm rồi. Hôm nay nó muốn gả cũng phải gả, không muốn gả cũng phải gả! Tụi bây đâu, trói nó lại ném lên xe bò cho tao!”
Hai gã lưu manh phía sau nghe lệnh liền cười gằn, giơ dây thừng sấn tới.
Đúng lúc ấy, tiếng ồn ào huyên náo đã kéo theo cả chục người dân làng Lạc Diệp đang đi làm đồng về đứng vây kín ngoài hàng rào. Người người xì xào bàn tán, ai nấy đều lộ vẻ bất bình trước sự ngang ngược của Chu Trực nhưng lại e ngại đám du thủ du thực hung hãn.
“Dừng tay lại!”
Một tiếng quát sang sảng, đanh thép tựa sấm rền vang lên cắt ngang bầu không khí căng thẳng.
Nhược Lam không hề lùi lại nửa bước, nàng bước thẳng tới trước mặt hai gã lưu manh, ánh mắt sắc như lưỡi kiếm khiến hai tên côn đồ bất giác chùn chân, dừng phắt lại.
Nàng quay sang nhìn thẳng vào Chu Trực, khóe môi nhếch lên một nụ cười lạnh buốt:
“Chu Trực, ngươi mở miệng ra là bảo chuyện hôn sự của ta do ngươi làm chủ, bảo mảnh đất này là của ngươi? Ngươi sống ngần ấy năm trên đời, chẳng lẽ đầu óc chỉ toàn bã đậu, không hiểu nổi một chữ luật pháp của Đại Ninh quốc sao?”
Chu Trực hơi giật mình, chột dạ chớp mắt: “Mày... Mày nói nhảm cái gì đó? Cha mẹ mất thì cữu cữu làm chủ, đó là đạo lý ngàn đời!”
“Đạo lý của phường cướp ngày thì có!” Nhược Lam dõng dạc cất cao giọng, từng câu từng chữ rõ ràng, rành rọt truyền khắp bờ rào cho toàn thể dân làng cùng nghe:
“Thứ nhất, theo luật lệ Hộ tịch của Đại Ninh triều ta, phàm là nữ tử sau tuổi cập kê, nếu không còn phụ mẫu bên cạnh, lại có ‘Đoạn tuyệt thư’ và hộ tịch độc lập do quan phủ chứng thực, thì chính là ‘Hộ nữ chủ’! Ta, Khương Nhược Lam, khi rời khỏi kinh thành đã được Khương Thượng thư ký giấy phân định hộ tịch riêng biệt, nộp lên Huyện nha Vân Khê làm sổ hộ mới. Ta là một nông dân tự do, có quyền tự quyết định thân phận, hôn sự và tài sản của chính mình! Ngươi bất quá chỉ là họ hàng bên ngoại, không có quyền giám hộ, càng không có tên trong gia phả hộ tịch của ta. Ngươi tự tiện nhận tiền sính lễ, ép gả lương dân làm thiếp, chiếu theo hình luật Đại Ninh, tội danh này gọi là ‘c**ng b*c mại nhân’, nhẹ thì phạt trượng năm mươi, nặng thì đày đi biên ải ba năm!”
Lời vừa thốt ra, Tôn mối bà hoảng hốt lùi lại một bước, chiếc khăn tay rơi tuột xuống đất. Mụ làm nghề mối lái bao năm, dĩ nhiên biết luật pháp triều đình cực kỳ nghiêm khắc với tội ép gả dân nữ tự do, chỉ là tưởng con bé này ở kinh thành về thế cô sức yếu nên định bắt nạt, nào ngờ nàng lại hiểu luật như lòng bàn tay!
Nhược Lam không cho bọn chúng kịp thở, nàng tiến thêm một bước, chỉ thẳng tay xuống mảnh đất dưới chân:
“Thứ hai, ngươi nói mảnh đất này là của Chu gia? Mở to mắt chó của ngươi ra mà nhìn cho rõ! Căn nhà tranh này vốn là của cố mẫu ta dựng tạm trên đất hoang làng Lạc Diệp từ hai mươi năm trước. Sau khi mẫu thân theo cha ta lên kinh, nơi này bị bỏ hoang suốt mười lăm năm, cỏ mọc lút đầu người, Chu gia các ngươi có từng đóng một đồng thuế đất nào cho nha môn huyện không? Chiếu theo luật ruộng đất Đại Ninh: đất vô chủ quá mười năm, ai đến khai hoang lập hộ thì người đó được quyền ưu tiên đăng ký khế ước canh tác! Hôm qua ta đã nhờ Tam Thúc trình báo lên Lý chính, xin tiếp nhận mảnh đất hoang cằn cỗi này để tự lực cánh sinh. Ngươi không có khế đất trong tay, không có văn tự đóng dấu của quan phủ, dựa vào cái gì mà dám đem đất làng Lạc Diệp đi gán nợ cho người làng bên?!”
“Nói hay lắm!”
Một tiếng khen ngợi vang lên từ đám đông ngoài ngõ.
Đám dân làng tự động rẽ ra hai bên, một lão nhân râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc, nét mặt nghiêm nghị bước vào sân. Đó chính là Trần lão trượng — Lý chính của thôn Lạc Diệp.
Dân làng Lạc Diệp vốn chất phác nhưng ghét nhất là kẻ ngoài làng sang ức h**p người trong thôn, lại càng căm ghét cái thói tham lam của Chu Trực. Nghe Nhược Lam nói có tình có lý, luật pháp rành rọt, ai nấy đều gật đầu tán thưởng:
“Đúng đấy! Con bé Lam nói không sai một chữ nào!”
“Đất của thôn Lạc Diệp ta, Chu gia ở tận thôn Đông Hà cớ sao dám sang đây đòi bán?”
“Lão Tiền què khét tiếng bạo ngược, Chu Trực muốn bán cháu gái kiếm chác mà còn dám giở giọng đạo đức giả à?”
Sắc mặt Chu Trực biến đổi liên tục, từ đỏ chuyển sang trắng bệch, rồi lại tím ngắt như gan lợn. Gã nhìn thấy Lý chính xuất hiện, lại thấy bà con lối xóm đều đứng về phía Nhược Lam, hai gã lưu manh đi cùng cũng đã sợ hãi thu dây thừng lùi ra tận cổng, biết hôm nay kế hoạch đã hoàn toàn đổ bể.
Lý chính Trần lão trượng bước tới giữa sân, giộng mạnh cây gậy trúc xuống đất, đôi mắt đục ngầu quắc lên nhìn chằm chằm vào Chu Trực:
“Chu Trực! Ngươi tưởng thôn Lạc Diệp này không có người có học, không có quy củ làng xóm hay sao mà dám kéo lưu manh sang đây càn quấy? Khương nha đầu đã nhập tịch thôn ta, chính là người của Lạc Diệp! Tờ đơn xin nhận lại đất hoang của con bé ta đã tiếp nhận, sáng mai sẽ đệ trình lên huyện nha đóng dấu khế ước. Ngươi còn dám ở đây giở trò ép gả, cướp đất, lão già này lập tức gõ mõ triệu tập toàn bộ trai tráng trong thôn trói gô cổ các ngươi lại tống lên công đường huyện Vân Khê!”
Chu Trực run rẩy lùi lại mấy bước, ngón tay chỉ vào Nhược Lam run bần bật vì tức tối:
“Được... Được lắm! Khương Nhược Lam, mày giỏi lắm! Mày cứ ôm lấy cái đống đất sỏi đá bạc màu này mà sống qua ngày đi! Đừng tưởng có chút thịt vụn lót dạ mà đã lên mặt. Mảnh đất này chua loét cằn cỗi, hạt ngô gieo xuống thành mầm độc, cọng cỏ còn không mọc nổi thì mày chỉ có nước chết đói! Đến lúc đó mày có quỳ xuống lạy van xin tao gả cho Tiền lão gia, tao cũng mặc xác cho mày làm ma đói xó đường!”
Nói dứt lời, Chu Trực không dám nán lại nửa khắc, cùng Tôn mối bà và hai tên tay sai cụp đuôi chen chúc tháo chạy ra khỏi cổng rào, bộ dạng chật vật chẳng khác nào chó nhà có tang.
Dân làng thấy cảnh tượng đó liền ồ lên cười khoái chí, tiếng cười rộn rã xua tan đi bầu không khí ngột ngạt suốt từ nãy đến giờ.
Nhược Lam bước tới, kính cẩn cúi đầu hành lễ với Lý chính và bà con: “Đa tạ Lý chính gia gia đã phân xử công minh, đa tạ các cô bác chú dì trong thôn đã vì Nhược Lam mà đứng ra che chở.”
Lý chính nhìn thiếu nữ trước mặt tuy mặc áo thô nhưng khí chất thanh tao, ứng đối đĩnh đạc, trong lòng thầm thán phục, hiền từ xoa chòm râu bạc: “Khương nha đầu không cần đa lễ. Cháu là cốt nhục của người có ơn với dân làng, lại hiểu biết lễ nghĩa, luật pháp như vậy, người già này rất mừng. Nhưng mà... Chu Trực nói cũng có phần đúng đấy cháu à. Khoảnh đồi quanh nhà này đất đai xấu lắm, chua phèn nặng trĩu, sỏi đá ken dày, bao năm qua không ai trồng trọt nổi thứ gì. Cháu thân gái một mình, muốn trông cậy vào mấy mẫu đất cằn này để kiếm miếng ăn, sợ rằng gian nan muôn phần...”
Bà con xung quanh cũng lắc đầu ái ngại:
“Phải đấy Lam nha đầu, đất này nước mưa đọng lại chua loét cả đầu lưỡi, gieo lúa thì lúa vàng vọt rụi lá, trồng khoai thì củ bé bằng ngón tay út mà lại đắng ngắt.”
“Chi bằng cháu qua nhà thím phụ dệt vải, kiếm vài bát cám qua ngày...”
Nhược Lam mỉm cười rạng rỡ, ánh mắt nàng nhìn ra khoảng đất trống sau nhà ngập tràn một niềm tin mãnh liệt:
“Cháu xin ghi nhận tấm lòng của Lý chính gia gia và bà con. Nhưng đất đai cũng giống như con người vậy, nếu nó bị bệnh, chỉ cần bắt đúng bệnh, bốc đúng thuốc thì tự khắc sẽ trở nên màu mỡ, đền đáp công sức người chăm bón. Cháu tin bàn tay con người có thể cải tạo được thiên nhiên!”
Những lời nói đầy khí phách và mới mẻ ấy khiến đám đông ngẩn ngơ. Ở cái thời đại mà việc đồng áng hoàn toàn phó mặc cho ý trời, làm gì có ai từng nghe nói đến chuyện “bắt bệnh cho đất” bao giờ? Mọi người chỉ nghĩ nàng là tiểu thư kinh thành chưa từng nếm mùi khổ cực nên nói lời ngây thơ, bèn lắc đầu thở dài rồi lục tục giải tán ra về.
*
Sau khi tiễn dân làng và Lý chính, sân nhà lại trở về với vẻ yên tĩnh vốn có.
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu không nói một lời, lặng lẽ nhặt lại những thanh nứa gãy, dùng dây rừng chằng buộc lại chiếc cổng rào cho ngay ngắn. Tam Thẩm và bé Bảo Nha thu dọn bát đĩa trên chõng tre, ánh mắt nhìn Nhược Lam chan chứa niềm tự hào lẫn xót xa.
“Lam tỷ tỷ, tỷ vừa nãy oai phong thật đấy!” Bảo Nha chạy lại ôm lấy vạt áo nàng, đôi mắt tròn xoe sáng lấp lánh như hai vì sao nhỏ. “Tỷ mắng cho cái lão Chu Trực béo ú kia không dám ho he một lời nào luôn!”
Nhược Lam bật cười, cúi xuống véo nhẹ chiếc má phúng phính của cô bé: “Muội đó, sau này lớn lên cũng phải nhớ kỹ: ai muốn bắt nạt mình thì mình phải đứng thẳng lưng mà đối đáp, không được để người ta đè đầu cưỡi cổ, rõ chưa?”
“Dạ, muội nhớ rồi!” Bảo Nha gật đầu lia lịa.
Nhược Lam quay sang nhìn Tam Thúc đang lúi húi buộc rào, cất giọng ấm áp: “Tam Thúc, lát nữa người giúp cháu mượn một chiếc cuốc chim và một chiếc xẻng sắt nhé. Chiều nay cháu muốn bắt tay vào làm việc ngay.”
Khương Vĩnh Cửu quay đầu lại, lau mồ hôi trên trán, vẻ mặt đầy băn khoăn: “Lam nhi, cháu định làm ruộng thật sao? Mảnh vườn sau nhà và khoảnh đồi này... thúc nói thật lòng, đất ở đây chua lắm, đào sâu xuống ba tấc toàn là đất sét vàng dẻo quánh, mùa nắng thì nứt toác cứng như đá mài, mùa mưa thì nhão nhoét như cháo ứ nước thối rễ, trồng cây gì cũng chết yểu thôi cháu ơi.”“Tam Thúc yên tâm, cháu đã có cách chữa bệnh cho nó rồi.” Nhược Lam cười tự tin, trong lòng nàng ngọn lửa đam mê của một tiến sĩ nông học hiện đại đang bùng cháy dữ dội.
Đối với người nông dân thời phong kiến, đất chua phèn là “đất chết”, là lời nguyền của trời đất. Nhưng dưới con mắt chuyên môn của Nhược Lam, nàng nhìn thấu bản chất của vấn đề.
Nàng bước ra khoảnh đất rộng chừng hai mẫu sau nhà tranh, ngồi xổm xuống bốc một nắm đất lên tay.
Đất có màu xám xỉn pha lẫn những vệt vàng rỉ sắt đặc trưng của đất phèn hoạt động. Nàng đưa lên mũi ngửi — một mùi chua ngai ngái nồng nặc mùi lưu huỳnh và kim loại nặng bốc lên. Nhìn thảm thực vật tự nhiên, quanh đây chỉ mọc lưa thưa vài bụi cỏ chỉ cằn cỗi và những đám rêu xanh nhớp nháp bám trên bề mặt sỏi đá. Cây cối bản địa xung quanh đều có hiện tượng chùn đọt, mép lá úa vàng và cháy xém.
Độ chua này, theo thang đo hiện đại, pH chắc chắn chỉ dao động từ 4.0 đến 4.3 — một môi trường cực kỳ độc hại với nồng độ nhôm và sắt tự do hòa tan quá cao, làm teo tóp đầu rễ non, khiến cây trồng không thể nào hấp thụ được lân và các chất dinh dưỡng vi lượng.
Muốn cây ngô đâm chồi nảy lộc, bước đầu tiên và sống còn là phải “khử chua hạ phèn”, nâng độ pH lên ngưỡng lý tưởng 6.0 – 6.5, đồng thời phá vỡ kết cấu đất sét kết khối để tạo độ tơi xốp, giữ ẩm và thông khí.
Và để làm được điều đó mà không có phân bón hóa học hiện đại, vũ khí tối thượng của nàng chính là: Vôi bột, tro trấu và đống ủ vi sinh tuần hoàn!
“Tam Thúc,” Nhược Lam ngẩng đầu lên, trong mắt lấp lánh sự tính toán rành mạch: “Gia đình mình và bà con quanh đây sau mùa gặt vụ trước có còn tích trữ tro bếp và rơm rạ mục không ạ? Với lại, quanh thôn ta có lò nung vôi nào không?”
Khương Vĩnh Cửu chớp mắt ngạc nhiên: “Tro bếp thì nhà nào cũng có cả đống sau chuồng lợn, toàn là tro trấu với tro rơm rạ đun bếp quanh năm, chất đống ở đấy chẳng ai thèm lấy. Còn rơm mục thì chuồng trâu nhà thúc có đến mấy đống to tướng. Riêng vôi bột... ở chân núi Lạc Nhạn phía tây có một lò vôi cũ của thợ xây bỏ hoang, dưới đáy lò còn sót lại hàng chục bao vôi cặn bị vỡ vụn, người ta chê vụn nát không xây tường được nên vứt xó ở đó. Cháu... cháu hỏi những thứ phế phẩm đó để làm gì?”
“Đó không phải phế phẩm đâu thúc, đó là vàng ròng để cứu mảnh đất này đấy!” Nhược Lam reo lên, nét mặt rạng rỡ như bắt được vàng.
Thế là, không lãng phí một khắc thời gian, kế hoạch cải tạo đất được Nhược Lam phát động ngay trong buổi chiều hôm ấy.
Khương Vĩnh Cửu mượn được một chiếc xe cút kít bằng gỗ hai bánh kẽo kẹt. Dưới sự chỉ dẫn hăng say của Nhược Lam, hai chú cháu kéo xe lên chân núi Lạc Nhạn. Quả nhiên, tại lò vôi bỏ hoang, những bao vôi bột phong hóa nằm phủ bụi dày cộp. Vôi đã hút ẩm trong không khí biến thành vôi tôi (Canxi Hydroxit - $Ca(OH)_2$), tuy không còn dùng để xây gạch được nhưng lại là thần dược hoàn hảo nhất để trung hòa axit trong đất nông nghiệp!
Hai chú cháu hì hục xúc được bốn bao vôi bột lớn chất lên xe cút kít đẩy về. Tiếp đó, Tam Thúc sang nhà hàng xóm xin thêm năm bao tải tro trấu đen kịt mang về chất đầy góc sân.
Chiều tà, ánh hoàng hôn buông xuống nhuộm đỏ cả vạt rừng Lạc Nhạn.
Trên mảnh đất hoang sau nhà, Khương Vĩnh Cửu vung chiếc cuốc chim khỏe khoắn xới tung từng tảng đất sét cứng ngắc lên. Nhược Lam tay cầm chiếc xẻng gỗ, hướng dẫn thúc cuốc sâu chừng một gang tay (khoảng 20cm) — tầng đất canh tác chủ yếu của rễ cây. Đất được lật ngược lên để phơi nắng, đón nhận oxy.
Ngay sau từng đường cuốc của Tam Thúc, Nhược Lam khoác chiếc thúng tre bên hông, thoăn thoắt vốc từng nắm vôi bột trắng muốt rải đều tăm tắp lên mặt luống.
Bột vôi trắng mịn bay là là trong gió thoảng, phủ lên lớp đất sét xám xịt một lớp áo mỏng như sương muối. Nhược Lam căn chỉnh tỷ lệ vô cùng chuẩn xác: cứ mỗi mẫu đất nàng rải khoảng năm mươi cân vôi. Vôi gặp độ ẩm tự nhiên trong đất sẽ lập tức xảy ra phản ứng trao đổi ion, các cation Canxi ($Ca^{2+}$) sẽ đẩy các ion nhôm ($Al^{3+}$) và hydro ($H^+$) độc hại ra khỏi phức hệ hấp thu của đất, cố định chất phèn và nâng độ pH lên một cách thần kỳ.
Rải vôi xong, nàng tiếp tục rải lớp tro trấu phủ lên trên.
Tro trấu chứa hàm lượng Kali và Silic hữu cơ cực kỳ dồi dào, lại có cấu trúc xốp rỗng. Khi trộn lẫn vào đất sét, những hạt tro trấu li ti sẽ len lỏi vào giữa các hạt sét mịn, tạo ra các khe hở thông khí, giúp đất không còn bị nén chặt, rễ cây sau này sẽ dễ dàng hô hấp và đâm sâu hút nước.
“Lam tỷ tỷ, muội có thể làm gì giúp tỷ?” Bé Bảo Nha lon ton chạy theo sau lưng nàng, đôi bàn tay nhỏ xíu lấm lem bùn đất, háo hức muốn chung tay góp sức.
Nhược Lam dừng tay xẻng, lau mồ hôi trên trán, nhìn cô bé mỉm cười dịu dàng: “Bảo Nha có nhiệm vụ quan trọng nhất đấy. Bây giờ tỷ muội mình sẽ đi làm một ‘ngôi nhà lớn’ cho những người bạn nhỏ giúp tỷ cày đất.”
“Bạn nhỏ nào ạ?” Bảo Nha chớp mắt tò mò.
“Chính là những chú trùn đất!” Nhược Lam cười bí hiểm.
Nàng dẫn Bảo Nha ra góc vườn râm mát dưới bóng cây dâu da cổ thụ, nơi đất có chút độ ẩm tự nhiên. Nhược Lam chỉ cho cô bé cách đào một hố nông hình chữ nhật dài chừng một trượng, sâu hai gang tay. Đây chính là vị trí nàng chọn để dựng đống ủ phân hữu cơ vi sinh tuần hoàn đầu tiên — trái tim dinh dưỡng cho toàn bộ nông trang tương lai!
Nhược Lam tỉ mỉ hướng dẫn Tam Thẩm và Bảo Nha cách xếp từng lớp nguyên liệu theo đúng công thức khoa học:
Lớp đáy đầu tiên, nàng rải một lớp cành củi khô băm nhỏ và rơm rạ thô dày chừng nửa gang tay để tạo độ thông thoáng khí từ đáy lên.
Lớp thứ hai, nàng rải một lớp rơm rạ mục đã được ngâm nước ẩm phối trộn với bã lá rừng mục nát — đây là nguồn cung cấp Carbon (C) chủ yếu để làm thức ăn cho vi sinh vật.
Lớp thứ ba, Tam Thúc gánh lại hai sọt phân chuồng khô từ chuồng trâu sang, Nhược Lam rải đều một lớp mỏng — đây là nguồn đạm (Nitơ - N) tuyệt vời để cân bằng tỷ lệ C/N lý tưởng cho quá trình lên men hoai mục.
Và bí quyết quyết định nhất, linh hồn của đống ủ: Nhược Lam dùng chiếc gùi nhỏ mang ra một lớp đất mùn đen nhánh mà nàng đã bí mật cạo từ lớp thảm mục dưới những gốc cây cổ thụ ngàn năm sâu trong rừng Lạc Nhạn từ chuyến đi sáng nay.
Lớp đất mùn rừng này chứa đựng hàng tỷ vi sinh vật bản địa tự nhiên cực kỳ khỏe mạnh: xạ khuẩn phân giải cellulose, nấm men và vi khuẩn cố định đạm tự do!
Nàng rải đều lớp mùn rừng lên trên phân chuồng, rồi dùng nước suối trong vắt tưới đều lên đống ủ. Nàng bốc một nắm hỗn hợp lên tay, nắm chặt lại rồi mở ra: nắm đất kết dính lại nhưng không có nước rỉ qua kẽ ngón tay.
“Độ ẩm chừng sáu mươi phần trăm, hoàn hảo!” Nhược Lam mỉm cười hài lòng.
Cứ thế, từng lớp Carbon, Nitơ và men vi sinh được xếp chồng lên nhau thành từng tầng lớp lang như một chiếc bánh ga-tô khổng lồ, cao chừng ba thước. Cuối cùng, nàng dùng rơm rạ khô phủ kín toàn bộ bề mặt đống ủ, rồi dùng những tàu lá chuối rừng to bản che chắn bên trên để giữ nhiệt và tránh mưa rửa trôi.
“Lam nhi à, ủ phân thế này... liệu có bốc mùi hôi thối làm phiền xóm giềng không cháu?” Tam Thẩm nhìn đống ủ kỳ lạ, ái ngại hỏi.
Nhược Lam lắc đầu, kiên nhẫn giải thích bằng thứ ngôn ngữ giản dị nhất:
“Tam Thẩm yên tâm ạ. Đây là phương pháp ủ nóng hảo khí. Nhờ có lớp mùn rừng và độ thông thoáng, các vi sinh vật tốt sẽ ăn sạch các chất hữu cơ và sinh nhiệt rất nhanh. Chỉ ngày mai thôi, bên trong đống ủ này sẽ nóng ran lên như một lò than con, nhiệt độ có thể lên tới sáu mươi độ, thiêu chết toàn bộ hạt cỏ dại và mầm bệnh nguy hiểm. Sau mười lăm ngày, khi nó hoai mục hoàn toàn, nó sẽ không có mùi hôi mà bốc lên mùi thơm ngai ngái của đất rừng màu mỡ. Lúc đó đem bón lót cho cây, rễ cây ăn vào sẽ lớn nhanh như thổi!”
Khương Vĩnh Cửu đứng tựa vào cán cuốc, nhìn đống ủ được xếp ngăn nắp, vuông vức, lại nhìn mặt đất vừa được rải vôi và tro trấu đều như một bức tranh, trong lòng dâng lên một sự kính phục vô bờ bến.
Đứa cháu gái này của ông, từ nhỏ lớn lên trong nhung lụa kinh thành, vậy mà sao lại am hiểu luân chuyển của đất trời, cây cỏ tường tận đến mức ngay cả những lão nông tri điền sống cả đời bên luống cày cũng phải ngả mũ bái phục thế này? Có lẽ nào... linh hồn của người mẹ quá cố dưới suối vàng đang hiển linh, dẫn dắt cho con bé vượt qua cơn bĩ cực?
Trong lúc Tam Thúc đang cảm thán, Bảo Nha bỗng reo lên khe khẽ: “Tỷ tỷ! Tỷ tỷ nhìn này! Dưới lớp lá mục có mấy con giun đất to bằng chiếc đũa, thân mình đỏ au đang ngoe nguẩy nè!”
Nhược Lam bước lại gần, ngồi xổm xuống xem. Quả nhiên, đó là loài trùn quế tự nhiên bản địa, thân đỏ hồng, bò rất nhanh nhẹn.
Nàng cẩn thận bốc chú trùn đất đặt vào lòng bàn tay nhỏ của Bảo Nha, mỉm cười dặn dò:
“Bảo Nha gom những bạn trùn này lại, thả vào cạnh mép đống ủ và những luống đất ẩm nhé. Đừng sợ, chúng không cắn đâu. Ban ngày chúng sẽ chui sâu xuống lòng đất ăn đất sét và chất mục, ban đêm lại đùn phân lên làm xốp mặt đất. Những đường hầm li ti do chúng đào chính là những ống dẫn nước và không khí tuyệt vời nhất cho rễ ngô thở đấy. Chúng chính là những người thợ cày tí hon của chúng ta!”
Bảo Nha thích thú nhìn chú trùn ngọ nguậy trong lòng bàn tay, nỗi sợ hãi ban đầu biến mất, cô bé cười khúc khích: “Thợ cày tí hon... muội hiểu rồi! Muội sẽ đi tìm thật nhiều thợ cày về giúp tỷ tỷ làm ruộng!”
Tiếng cười trong trẻo của đứa trẻ vang vọng khắp khoảnh vườn chiều, hòa cùng tiếng gió xào xạc của rừng núi Lạc Nhạn, tạo nên một bản hòa ca điền viên êm ả, xua tan đi tất cả những nhọc nhằn, mệt mỏi của một ngày lao động cật lực.
*
Màn đêm buông xuống, bóng tối dần nuốt trọn thôn Lạc Diệp.
Sau khi cả nhà Tam Thúc lưu luyến trở về gian nhà nhỏ phía đầu thôn để nghỉ ngơi, căn nhà tranh quạnh quẽ chỉ còn lại một mình Nhược Lam. Nàng cài then cửa cẩn thận, thắp sáng ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt trên mặt chõng tre. Ánh sáng vàng vọt nhảy múa trên vách nứa, xua đi cái lạnh lẽo của đêm rừng.
Nhược Lam không vội đi ngủ. Nàng cẩn thận lấy chiếc gùi thảo dược giấu dưới gầm giường ra.
Từ đáy gùi, nàng nâng niu lấy ra ba bắp ngô dại mà nàng đã kỳ công tìm thấy nơi vách đá cheo leo trong hẻm núi sâu sáng nay.
Những bắp ngô này tuy hạt không to bằng giống ngô lai hiện đại ở thế kỷ 21, nhưng qua con mắt tinh tường của một chuyên gia chọn giống sinh học, nàng nhận ra đây là giống ngô ngọt tự nhiên vô cùng quý hiếm mang nguồn gen thuần chủng tuyệt hảo: áo bắp ôm rất khít chống sâu mọt, lõi ngô nhỏ, hàng hạt thẳng tắp và đặc biệt là sắc vàng óng ả căng mọng, hàm lượng đường tự nhiên rất cao.
Nàng dùng đầu ngón tay khéo léo tách từng hạt ngô ra khỏi cùi. Từng tiếng “tách, tách” khô giòn vang lên êm tai.
Nàng tỉ mỉ chọn lọc: những hạt lép, hạt vỡ hay có vết thâm lập tức bị loại bỏ. Cuối cùng, trên chiếc mẹt tre nhỏ đọng lại khoảng năm trăm hạt ngô tròn trịa, mẩy bóng như những hạt ngọc hoàng kim nguyên chất.
Nhược Lam đi lại bên bếp lò, pha một bát nước ấm theo tỷ lệ “hai sôi ba lạnh” chuẩn xác — khoảng năm mươi tư độ C.
Nàng trút toàn bộ số hạt giống vào bát nước ấm. Nhiệt độ này vừa đủ để kích hoạt các enzyme chuyển hóa tinh bột bên trong phôi hạt thức giấc sau chuỗi ngày ngủ đông, đồng thời tiêu diệt toàn bộ bào tử nấm mốc ẩn náu trên vỏ hạt mà không làm tổn thương mầm sống.
Nàng dùng một mảnh vải xô sạch thấm ướt nước suối, nhẹ nhàng vớt những hạt ngô đã ngậm đủ nước ra, bọc kín lại thành một chiếc túi nhỏ rồi đặt vào chiếc thúng tre lót rơm ấm cạnh bếp than hồng còn âm ỉ.
“Ngủ ngoan nhé những mầm xanh nhỏ bé,” Nhược Lam khẽ thì thầm, ánh mắt tràn ngập sự dịu dàng và kỳ vọng khôn nguôi: “Chỉ cần hai ngày nữa thôi, các ngươi sẽ nứt nanh đâm chồi. Mảnh đất này, số phận này... tất cả tương lai đều trông cậy vào các ngươi đấy.”
Làm xong tất cả mọi việc, cả người Nhược Lam mỏi nhừ sau một ngày dài dốc cạn sức lực. Nàng thổi tắt ngọn đèn dầu, ngả lưng xuống chiếc chõng tre đã được lót một lớp rơm khô thơm mùi nắng do Tam Thẩm mang sang lúc chiều.
Tiếng côn trùng rả rích bên ngoài vách đất hòa cùng tiếng lá xào xạc ngoài rừng như một khúc hát ru bình yên. Nhược Lam nhắm mắt lại, hơi thở dần trở nên đều đặn, chìm vào giấc ngủ sâu.
*
Canh ba đêm muộn.
Gió núi Lạc Nhạn bỗng thổi mạnh từng cơn, rít qua các khe nứa nghe u u rợn người. Ánh trăng mờ ảo bị mây đen che khuất phân nửa, phủ lên khoảng sân hoang tàn một màu xám xịt ma quái.
Cả thôn Lạc Diệp đã chìm sâu vào giấc ngủ say sau một ngày làm đồng mệt nhọc, tiếng chó sủa vu vơ từ đằng xa cũng tắt lịm.
Đột nhiên, tại bờ giậu phía sau căn nhà tranh của Nhược Lam, những cành nứa khô khẽ phát ra tiếng gãy vụn “rắc, rắc” rất nhỏ.
Một bóng đen to bè, núc ních thịt đang thở phì phò khó nhọc trèo qua hàng rào râm bụt. Cái bóng lùn tịt ấy lén lút nép mình vào bóng tối của đống ủ rơm mới đắp, hai con mắt ti hí đảo quanh dáo dác, ánh lên vẻ hung quang tàn độc và thù hận khôn cùng.
Gã ghé sát vào vách nứa, dỏng tai nghe ngóng. Khi nghe thấy tiếng thở đều đặn, yên ả của Nhược Lam bên trong gian nhà, khóe miệng đầy ngấn mỡ của gã khẽ nhếch lên một nụ cười ghê tởm, vặn vẹo.
Hắn từ từ hạ chiếc bao tải gai thô trên lưng xuống đất, bàn tay run rẩy rút từ trong ngực áo ra một chiếc bùi nhùi tẩm dầu trẩu nồng nặc và một thanh đá lửa.
Ánh thép lạnh lẽo lóe lên trong đêm đen tĩnh mịch. Chu Trực nghiến chặt hai hàm răng ố vàng, thầm rít qua kẽ răng:
“Con ranh con... Dám làm nhục tao trước mặt cả làng, dám cướp mối làm ăn hai mươi lượng bạc của tao... Đêm nay tao thiêu rụi cái ổ rơm rác này của mày! Để xem mày cháy thành than rồi, thì cái thân xác này còn cãi luật pháp với ông đây được nữa không!”
Gã giơ thanh đá lửa lên, chuẩn bị quẹt mạnh vào mớ bùi nhùi đang bốc mùi dầu hôi nồng nặc...