Gió thu tháng Tám lướt qua thung lũng Lạc Diệp mang theo cái se lạnh dịu dàng của sương sớm hòa cùng mùi hương ngai ngái, nồng đượm của đất ải vừa được xới lật. Phía chân trời, ánh bình minh nhuộm một dải ráng hồng viền vàng rực rỡ l*n đ*nh núi Lạc Nhạn sừng sững.
Dưới chân đồi, ba mươi mẫu ruộng ngô ngọt đợt hai đã vươn cao quá đầu người, lá xanh mướt mát đan vào nhau xào xạc theo từng cơn gió sớm. Những bắp ngô mập mạp bọc kín trong lớp bẹ xanh biếc bắt đầu lộ ra những chùm râu ngô màu nâu hạt dẻ óng ánh, báo hiệu chỉ mươi ngày nữa là bước vào kỳ thu hoạch rộ. Xa hơn một chút, trên sườn đồi thoai thoải, ba mươi mẫu dâu tằm cao sản mơn mởn đâm chồi, lá to bản dày dặn như bàn tay trẻ con, xanh um tùm che mát cả một vùng đất đỏ bazan từng cằn cỗi xơ xác năm nào.
Khương Nhược Lam thức dậy từ lúc trời còn tờ mờ sáng. Nàng mặc chiếc áo vải thô nhuộm màu vỏ dà mộc mạc, hai ống tay áo được bó gọn gàng bằng dải băng vải gai, mái tóc đen nhánh vấn cao thành búi củ tỏi tròn trịa trên đỉnh đầu, cố định bằng chiếc trâm gỗ đào mộc đã nhẵn bóng.
Nàng xách chiếc giỏ tre, men theo rãnh dẫn nước bằng ống tre thông minh chạy quanh luống ngô. Nhược Lam ngồi xổm xuống, thò tay bốc một nắm đất xốp tơi dưới gốc ngô lên mũi khẽ ngửi. Mùi mùn hữu cơ lên men thoang thoảng, giun đất béo múp lúc nhúc bò qua kẽ ngón tay. Nhờ lượng phân vi sinh ủ từ rơm rạ mục, tro trấu và phân chuồng hoai mục được bón lót đúng kỹ thuật, tầng đất mặt chua phèn ngày trước giờ đây đã chuyển sang màu nâu sẫm màu mỡ, giữ ẩm tuyệt hảo.
“Đất khỏe thì cây mới bền. Cứ đà này, năng suất vụ ngô thu đông năm nay chắc chắn sẽ vượt trội vụ trước ít nhất ba phần mười.”
Nhược Lam lẩm bẩm mỉm cười, đôi mắt hạnh lanh lợi ánh lên niềm kiêu hãnh của một người làm nông thực thụ. Nàng vỗ nhẹ tay phủi sạch đất cát bám trên đầu ngón tay, đứng thẳng người vươn vai hít một hơi thật sâu không khí trong lành của núi rừng.
Thế nhưng, khi ánh mắt nàng lướt qua con đường mòn đất đỏ ngoằn ngoèo dẫn ra khỏi bìa rừng Lạc Nhạn, nụ cười trên môi khẽ chùng xuống, trong lòng dâng lên một thoáng trống trải mông lung.
Đã nửa tháng trôi qua kể từ cái ngày Tiêu Lập khoác lên mình bộ chiến bào giáp bạc, mang theo binh phù và chứng cứ hỏa tốc phi ngựa về kinh thành.
Mười lăm ngày, nàng ở lại thung lũng này cùng bà con nông hộ, ban ngày đôn đốc việc chăm sóc ruộng ngô, hướng dẫn nạn dân phương Bắc khai hoang giữ ẩm đất, tối đến lại chong đèn bên khung cửi kiểm tra những nong tằm Hoàng Kim chuẩn bị nhả tơ lứa mới. Bề ngoài nàng vẫn luôn bình thản, điềm tĩnh như mặt nước hồ thu, miệng cười giòn giã động viên mọi người, nhưng chỉ có bản thân nàng mới biết, mỗi khi bóng tối buông xuống căn nhà tranh đầu thôn, nàng lại vô thức nhìn sang khoảng sân bên cạnh – nơi từng có một bóng lưng cao lớn vạm vỡ, lẳng lặng chẻ củi, đan sọt hay ngồi nướng ngô bên bếp than hồng.
Hắn là Tiêu Lập – người thợ săn kiệm lời mang thịt heo rừng đổi lấy cơm nóng muối thảo mộc; nhưng hắn cũng là Tiêu Triệt – vị Trấn Bắc Đại Tướng quân lẫy lừng nắm giữ mười vạn trọng binh nơi biên cương.
Nhược Lam thở dài khe khẽ, đưa bàn tay sờ nhẹ lên chiếc vòng chỉ đỏ buộc ở cổ tay áo – vật mà trước lúc lên ngựa phi về kinh thành chàng đã lặng lẽ buộc vào tay nàng cùng lời ước hẹn dứt khoát như đinh đóng cột: “Chờ ta trở về. Khi bão giông kinh thành tan hết, ta sẽ mang bình yên trọn vẹn về cho nàng.”
“A tỷ! Lam tỷ tỷ ơi!”
Tiếng gọi lảnh lót như chim sơn ca cắt ngang dòng suy nghĩ của Nhược Lam. Từ đầu bờ ruộng, bé Bảo Nha mặc chiếc yếm hoa màu đỏ gạch, hai búi tóc củ ấu lắc lư theo từng bước chạy lon ton. Trên tay cô bé bưng một chiếc mẹt tre nhỏ đậy bằng tấm vải màn trắng, mặt mũi hớn hở đỏ bừng vì chạy nhanh.
“Bảo Nha, chạy chậm thôi kẻo ngã!” Nhược Lam vội vàng bước tới đón lấy cô bé, cúi người lau mồ hôi trên vầng trán nhỏ nhắn.
Bảo Nha thở hổn hển, chìa chiếc mẹt tre ra, đôi mắt tròn xoe lấp lánh:
“Tam Thẩm bảo muội mang bánh ngô nướng mật ong vừa mới ra lò cho tỷ ăn lót dạ này! Tam Thẩm nói tỷ sáng nào cũng ra đồng từ sớm, gió sương hại bao tử lắm. Bánh này làm từ mớ bột ngô ngọt xay mịn hôm qua đấy tỷ, thơm phức luôn!”
Nhược Lam mở tấm vải màn ra, một làn khói nghi ngút bốc lên mang theo hương ngô ngòn ngọt quyện với mùi mật ong rừng nướng xém cạnh, thơm đến cồn cào ruột gan. Nàng nhịn không được bèn véo một miếng nhỏ cho vào miệng. Vị ngọt thanh tao tan ngay đầu lưỡi, lớp vỏ ngoài giòn rụm nhưng bên trong lại mềm xốp dẻo thơm.
“Khéo tay lắm, bánh nướng lửa vừa độ, ngon tuyệt cú mèo!” Nhược Lam cười tít mắt, đưa tay xoa nhẹ chóp mũi dính chút tàn tro của Bảo Nha.
Bảo Nha cười toe toét, nhưng rồi cô bé chớp chớp mắt, ngó nghiêng xung quanh con đường mòn vắng vẻ, hạ thấp giọng hỏi nhỏ:
“Lam tỷ tỷ, Tiêu đại ca... bao giờ mới về hả tỷ? Mấy hôm nay không có huynh ấy, lũ chim sâu trên đồi dâu bạo gan lắm, cứ sà xuống phá hoại. Bác Tam Thúc bắn tên toàn hụt, muội nhớ những con chim trĩ nướng đất sét của Tiêu đại ca quá chừng!”
Nhược Lam bật cười, gõ nhẹ ngón tay lên trán cô bé:
“Hóa ra là nhớ chim nướng của người ta chứ có phải nhớ người ta đâu! Tham ăn vừa thôi cô nương nhỏ.”
Nói thì nói vậy, nhưng câu hỏi ngây thơ của đứa trẻ lại chạm vào nỗi mong ngóng sâu kín nhất trong lòng nàng. Nhược Lam ngẩng đầu nhìn về dải đường quan đạo xa xa phía đông, ánh mắt chan chứa niềm tin tưởng:
“Sắp rồi. Huynh ấy đã hứa thì nhất định sẽ về.”
Vừa dứt lời, mặt đất dưới chân hai người bỗng khẽ rung chuyển nhè nhẹ.
Một âm thanh trầm đục như sấm rền từ phương xa vọng lại, dồn dập và uy mãnh. Không phải tiếng mưa giông, mà là tiếng móng ngựa nện trên nền đất nén, kèm theo đó là tiếng chiêng đồng, trống lệnh vang lên từng hồi dõng dạc, rền vang khắp cả thung lũng Lạc Nhạn.
“Có chuyện gì thế kia?!”
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu từ trong chòi canh dâu hớt hải cầm cây cuốc chạy ra, mặt mày tái mét vì hoảng hốt. Phía sau, Tam Thẩm Lý thị và mấy chục phụ nữ, tráng đinh trong xưởng tơ cũng túa ra đường làng. Ai nấy đều nhớ lại cảnh tượng toán cấm quân hung hãn ập tới nửa tháng trước, trong lòng không khỏi hoang mang, sợ hãi. Mấy bác nông dân lớn tuổi đã vội vã nắm chặt đòn gánh, rìu cuốc trong tay, đứng chắn phía trước Nhược Lam như một bức tường che chắn.
“Nhược Lam, con mau trốn vào trong xưởng dệt đi!” Tam Thúc thở không ra hơi, giọng run rẩy nhưng ánh mắt kiên quyết lạ thường: “Dù có là quan binh triều đình quay lại bắt bớ, lão già này cũng liều mạng với chúng nó, quyết không để ai đụng đến một sợi tóc của con!”
“Đúng thế! Khương cô nương đã cứu mạng cả nhà chúng tôi qua cơn đói khát, ai muốn động đến nàng phải bước qua xác đám nạn dân này trước!” Hàng chục tráng đinh phương Bắc được nàng cưu mang cũng đồng thanh gầm lên, siết chặt nông cụ trong tay.
Nhìn thấy tình cảm chân thành, thà chết bảo vệ mình của bà con lối xóm, hốc mắt Nhược Lam cay xè, một dòng nước ấm áp dâng trào nơi lồng ngực. Nàng bước lên phía trước, nhẹ nhàng đặt tay lên vai Tam Thúc, cất giọng trấn an dứt khoát:
“Tam Thúc, các bác, mọi người bình tĩnh đã! Đừng manh động, hãy nhìn kỹ xem cờ hiệu phía trước là của ai!”
Mọi người nheo mắt nhìn về phía đầu làng.
Bụi mù tan dần dưới ánh nắng ban mai rực rỡ. Hiện ra nơi khúc quanh bờ sông Ngân Khê không phải là đám cấm quân đằng đằng sát khí, mà là một đoàn nghi trượng hoàng gia lộng lẫy uy nghiêm chưa từng thấy trong đời một người nông dân thôn Lạc Diệp!
Dẫn đầu là tám kỵ binh Ngự lâm quân mặc khôi giáp mạ vàng sáng lóa, tay giương cao lá đại kỳ thêu rồng vàng năm móng bay phấp phới trong gió thu. Theo sau là đội nhạc lễ cung đình tấu lên những khúc nhã nhạc trang nghiêm, lọng vàng che nghi trượng rợp trời rợp đất. Giữa đoàn người, Khâm sai Đại thần Tề Hoằng vận triều phục màu tía thêu tiên hạc lộng lẫy, hai tay cung kính nâng một ống quyển bọc lụa gấm thêu rồng vàng kim, sắc mặt hân hoan, rạng rỡ lạ thường. Phía sau quan Khâm sai còn có hàng dài xe ngựa phủ lụa điều đỏ thắm, chở đầy những tráp ngọc, rương gấm chất cao như núi!
Lý chính thôn Lạc Diệp run rẩy đến mức ngã quỵ xuống đất, lồm cồm bò dậy lắp bắp:
“Thánh... Thánh chỉ! Là Khâm sai đại thần mang chiếu thư của Hoàng thượng đến thôn ta!”
Cả thôn xóm sững sờ trong giây lát, rồi lập tức vỡ òa trong kinh ngạc. Toàn bộ bà con nông dân, từ người già đến trẻ nhỏ, đều đồng loạt buông nông cụ, vội vã quỳ rạp hai bên đường làng, nín thở chờ đợi giây phút thiêng liêng chưa từng có trong lịch sử trăm năm của làng quê hẻo lánh này.
Đoàn ngự lâm quân dừng lại ngay trước khoảng sân rộng thênh thang lát đá phẳng phiu của xưởng dệt lụa và kho ngô Lạc Diệp.
Tề Hoằng bước xuống từ cỗ xe ngựa đầu tiên, bước chân khoan thai nhưng tràn đầy vẻ kính cẩn. Khi nhìn thấy Khương Nhược Lam đang đứng thẳng giữa sân, dù nàng chỉ mặc áo vải thô dính chút bùn đất, nhưng khí chất thanh tao, điềm đạm và đôi mắt sáng ngời thông tuệ của nàng khiến vị đại thần tam phẩm triều đình cũng phải khẽ cúi đầu chào theo nghi thức đồng liêu.
“Khương cô nương, phụng mệnh Hoàng thượng, hạ quan mang đại hỷ đến cho cô nương và bá tánh Lạc Diệp đây!” Tề Hoằng mỉm cười ấm áp, giọng nói vang vọng khắp bốn bề.
Nhược Lam thu lại nét kinh ngạc, khẽ mỉm cười đoan trang, cùng Tam Thúc, Tam Thẩm và dân làng quỳ xuống theo đúng lễ nghi:
“Thảo dân Khương Nhược Lam, cung nghênh thánh chỉ!”
Tề Hoằng hắng giọng, mở rộng cuộn gấm vàng rực rỡ do chính tay Ninh Viễn Đế hạ bút chu sa. Giọng đọc hào sảng, vang rền như chuông khánh vang vọng giữa núi rừng:
“Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết:
Trẫm nghe, đạo trị quốc dĩ nông vi bản, dân lấy thực làm trời. Nay có thứ nữ Khương thị, danh Nhược Lam, cư ngụ tại thôn Lạc Diệp huyện Vân Khê, vốn là bậc kỳ nữ mang đức hạnh sáng trong, trí tuệ trác tuyệt.
Nơi thôn dã cằn cỗi, nàng không oán không than, dốc lòng nghiên cứu nông học, khai khẩn hoang đồi, sáng tạo kỹ thuật cải tạo đất phèn màu mỡ, lai tạo giống ngô ngọt siêu năng suất, ươm nuôi tằm Hoàng Kim dệt nên gấm vóc rạng danh quốc thể. Giữa lúc sáu châu phương Bắc gặp đại hạn ba trăm năm chưa từng có, sông cạn đồng khô, vạn dân lâm vào cảnh khốn cùng, Khương thị đã đại phát từ bi, mở kho lương thực nấu cháo cứu đói cho hàng ngàn nạn dân, lại xuất vạn cân hạt giống quý, tận tâm truyền dạy nông thuật, giúp bá tánh tự lực hồi sinh mảnh đất chết, công đức vô lượng, cảm động trời xanh!
Một tấm lòng nhân ái cứu sống muôn dân, một đôi bàn tay lao động chân chính chấn hưng nền canh nông xã tắc, xứng đáng là tấm gương sáng ngời cho toàn cõi Đại Ninh noi theo!
Nay đặc cách sắc phong Khương Nhược Lam làm ‘THẦN NÔNG NỮ SĨ’, ban hàm Chánh Tam Phẩm vinh dự, được quyền độc lập lập hộ tông tộc, hưởng bổng lộc triều đình trọn đời!”
Từng lời, từng chữ của đạo thánh chỉ như những hồi trống giáng thẳng vào tâm can mọi người. Tiếng hít sâu kinh ngạc vang lên từ khắp các phía. Chánh Tam Phẩm! Lại còn là danh hiệu “Thần Nông Nữ Sĩ” do chính Hoàng đế ngự ban! Trong lịch sử hàng trăm năm của vương triều Đại Ninh, chưa từng có một nữ tử xuất thân nông thôn nào lại được nhận vinh dự tột bậc đến nhường này!
Nhưng sự kinh ngạc vẫn chưa dừng lại ở đó. Tề Hoằng hít một hơi dài, tiếp tục đọc to phần ân thưởng long trọng phía sau:
“Chuẩn ban thưởng:
Ngự tứ một bức biển ngọc cẩn vàng bốn chữ đại tự ‘THẦN NÔNG TẾ THẾ’ do đích thân Trẫm đề bút, treo tại từ đường trang viên Lạc Diệp!
Ban thưởng MỘT NGÀN MẪU RUỘNG PHÌ NHIÊU bao quanh thung lũng sông Ngân Khê làm điền trang vĩnh viễn của Khương thị, miễn toàn bộ thuế nông nghiệp và phu dịch trong vòng hai mươi năm!
Ban thưởng một ngàn lượng bạc trắng, một trăm tấm gấm vóc ngự dụng, ba mươi cỗ xe ngựa tải vật tư canh tác!
Lại chuẩn chỉ cho phép Khương thị được toàn quyền thiết lập Nông thương hội quán tại Vân Khê, phổ biến giống cây và kỹ thuật canh tác ra toàn thiên hạ, các cấp quan lại địa phương phải dốc lòng phối hợp, kẻ nào dám cản trở ức h**p, xử trảm không tha!
Khâm thử!”
Lời tuyên đọc vừa dứt, toàn bộ thung lũng Lạc Diệp dường như rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở trong chốc lát.
Một ngàn mẫu ruộng phì nhiêu! Biển ngọc ngự tứ! Miễn thuế hai mươi năm!
“Trời phật ơi... Hoàng ân hạo đãng! Bồ tát hiển linh rồi!”
Tam Thẩm Lý thị không kìm nén được cảm xúc, hai tay run rẩy ôm chầm lấy Bảo Nha, nước mắt tuôn rơi như mưa. Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu dập đầu sát đất, bờ vai gầy guộc run lên từng đợt vì xúc động tột cùng. Mới nửa năm trước thôi, Nhược Lam còn là một đứa trẻ ốm yếu bị gia tộc vứt bỏ nơi căn nhà tranh rách nát, ăn bữa nay lo bữa mai. Mà hôm nay, bằng chính mồ hôi, nước mắt và trí tuệ từ đôi bàn tay mình, nàng đã đứng ở đỉnh cao vinh quang, được hoàng đế sắc phong, được vạn dân kính ngưỡng!
Bá tánh khắp thôn Lạc Diệp, rồi hàng ngàn nạn dân phương Bắc đang đứng chật kín triền đồi, bỗng đồng loạt quỳ sụp xuống, tiếng hô vang dội làm rung chuyển cả núi rừng:
“Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”
“Chúc mừng Khương Tiên Cô! Chúc mừng Thần Nông Nữ Sĩ!”
Tiếng reo hò vang dậy như sấm rền, lan xa từ bờ sông Ngân Khê đến tận đỉnh đèo Lạc Nhạn. Những người nông dân lam lũ ôm nhau khóc cười lẫn lộn. Từ nay về sau, thôn Lạc Diệp không còn là xóm nghèo đói xơ xác bị lãng quên nữa, nơi đây đã trở thành mảnh đất ngự tứ, là cái nôi của giống ngô ngọt cứu đói và lụa vàng lừng danh thiên hạ!
Nhược Lam ngẩng cao đầu, hai tay cung kính nâng lên đón lấy đạo thánh chỉ bằng lụa gấm vàng óng từ tay Tề Hoằng. Bức chiếu thư nặng trĩu trên tay, nàng ngửi thấy mùi mực chu sa thơm ngát quyện cùng long diên hương hoàng gia. Khóe mắt nàng khẽ lấp lánh ngấn lệ, nhưng nụ cười nở rộ trên môi lại rạng ngời như ánh dương ban mai.
Nàng không cần quyền lực cung đình, không màng đấu đá danh lợi, nhưng sự công nhận này là chiến thắng ngọt ngào nhất của nàng dành cho giá trị của lao động chân chính và khoa học nông nghiệp!
“Thần, Khương Nhược Lam, tạ ơn Hoàng thượng long ân!” Nàng dõng dạc cất tiếng, trong trẻo và kiên định.
Bốn ngự lâm quân lực lưỡng lập tức bước lên, cung kính hạ bức biển ngọc ngự tứ xuống trước sân xưởng dệt. Khung biển bằng gỗ tử đàn đen nhánh chạm trổ hoa văn dây leo và bông lúa tinh xảo, mặt biển bằng bạch ngọc thượng hạng khảm bốn chữ lớn mạ vàng ròng: “THẦN NÔNG TẾ THẾ”. Từng nét chữ rồng bay phượng múa, tỏa ra hào quang rực rỡ dưới ánh nắng thu vàng như rót mật.
“Khương đại nhân... à không, Khương Nữ Sĩ, chúc mừng cô nương!” Tề Hoằng bước lại gần, chắp tay cười ha hả, vẻ mặt vô cùng thân thiện: “Bản quan vi hành nhiều năm, chưa từng thấy đạo thánh chỉ nào khiến lòng dân khắp kinh thành lẫn thôn dã đồng thuận, hân hoan đến mức này! Vụ án th*m nh*ng lương cứu tế của Khương Trọng Hoa đã được Đại Lý Tự xử lý triệt để, kẻ ác đã đền tội nơi pháp trường. Hoàng thượng khen ngợi cô nương không ngớt lời đấy!”
“Đều nhờ có Tề đại nhân và các vị trung thần đã vì dân trừ hại, Nhược Lam vô cùng cảm kích.” Nhược Lam mỉm cười đáp lễ, cử chỉ vừa khiêm nhường lại vừa đĩnh đạc tự nhiên.
Đúng lúc này, Tề Hoằng bỗng nheo mắt cười đầy ẩn ý, đưa tay vuốt chòm râu ngắn, nhìn về phía cuối con đường mòn dẫn vào làng:
“Thánh chỉ của Hoàng thượng đã tuyên xong, nhưng phần đại hỷ long trọng nhất của ngày hôm nay... e là bây giờ mới thực sự bắt đầu!”
Nhược Lam ngẩn ra: “Đại hỷ gì nữa cơ ạ?”
Chưa kịp để Tề Hoằng trả lời, từ phía khúc quanh chân núi Lạc Nhạn, một tràng pháo hoa lệnh rực rỡ bỗng bay vút lên bầu trời xanh ngắt, nổ vang những tiếng giòn giã: Đoàng! Đoàng! Đoàng!Khói màu ngũ sắc bốc lên nghi ngút, tiếp sau đó là tiếng kèn đồng thổi vang khúc nhạc mừng tân hôn náo nức, rộn rã vô cùng.
“Mau nhìn kìa! Phía bên kia... trời đất ơi, cái gì thế kia?!” Tiếng một bác nông dân kinh ngạc hét toáng lên, chỉ tay về phía bờ sông.
Mọi ánh mắt lập tức đổ dồn về phía con đường lớn.
Khung cảnh hiện ra trước mắt khiến toàn bộ người dân có mặt tại thung lũng Lạc Diệp phải trố mắt há hốc mồm, nghẹn ngào không thốt nên lời.
Đó là một đoàn rước sính lễ dài dằng dặc, trải dài tít tắp từ cổng trang viên ra tận con đường thiên lý uốn lượn quanh chân núi, ngỡ như kéo dài trọn vẹn mười dặm đường trường! Cờ đỏ thêu chữ “Hỷ” bay phấp phới, lụa điều đỏ rực quấn quanh từng cỗ xe, từng chiếc đòn khiêng.
Dẫn đầu đoàn sính lễ vĩ đại ấy là một nam tử cưỡi trên lưng con tuấn mã đen tuyền bờm dài bóng mượt.
Chàng không còn khoác lên mình bộ chiến bào giáp bạc nhuốm đầy sát khí chiến trường, cũng không mặc triều phục hoa lệ của bậc vương hầu quyền quý nơi cung cấm. Chàng vận một bộ trường bào gấm dệt màu xanh sẫm giản dị nhưng cắt may cực kỳ tinh tế, ôm trọn lấy thân hình cao lớn, bờ vai rộng và vòng eo thon gọn săn chắc. Đai lưng thắt dải lụa thêu hoa văn sóng nước, mái tóc đen dày được búi gọn gàng bằng một chiếc bao tóc bằng ngọc bích ôn nhuận.
Khuôn mặt cương nghị, góc cạnh như tạc của chàng dưới ánh nắng thu rực rỡ đã hoàn toàn trút bỏ lớp băng lãnh, u tối của những năm tháng chịu đựng hàn độc. Đôi mắt đại bàng sắc bén giờ đây ngập tràn sự dịu dàng, ấm áp như dòng suối xuân tan chảy, từ đầu đến cuối chỉ dán chặt vào bóng hình mảnh mai mặc áo vải thô đang đứng sững sờ giữa sân.
“Tiêu... Tiêu đại ca?!” Bé Bảo Nha nhảy cẫng lên, reo hò ầm ĩ: “Là Tiêu đại ca về rồi! Huynh ấy cưỡi ngựa to đẹp quá!”
“Trời ơi, Tiêu thợ săn... không phải, là Tiêu tướng quân!”
“Tướng quân cái gì nữa, mau nhìn sính lễ của người ta kìa! Đẹp đôi quá, thật là trời sinh một cặp!”
Dân làng xôn xao bàn tán, tiếng cười nói rộn ràng râm ran khắp các ngõ xóm.
Nhược Lam đứng chết lặng tại chỗ, trái tim trong lồng ngực đập thình thịch từng nhịp hỗn loạn. Nàng nhìn chàng đang từ từ thúc ngựa tiến lại gần. Nắng thu rọi xuống gương mặt phong trần tuấn lãng ấy, nụ cười khẽ nhếch nơi khóe môi chàng sao mà quen thuộc, sao mà ấm áp đến nao lòng.
Chàng đã trở về. Chàng không hề thất hứa!
Tề Hoằng đứng bên cạnh cười ha hả, cất giọng sang sảng giải thích cho Nhược Lam và dân làng nghe:
“Khương Nữ Sĩ còn chưa biết sao? Tiêu đại tướng quân sau khi diệt trừ gian đảng, đã kiên quyết từ chối tước vị Trấn Bắc Vương vạn hộ hầu, tự tay dâng trả Binh phù Bạch Hổ cho triều đình để xin giải giáp quy điền! Hoàng thượng cảm kích tấm lòng trung trinh vì nước vì dân của ngài, lại biết ngài một lòng hướng về nơi thôn dã, bèn đặc cách tứ phong ngài làm ‘AN ĐIỀN HẦU’ – một chức tước nhàn tản tôn quý trọn đời không cần can dự triều chính, chuẩn y cho ngài cả đời ở lại Lạc Diệp làm một nông phu tự tại!”
“Giải giáp quy điền... An Điền Hầu?” Nhược Lam khẽ lẩm bẩm, khóe mắt bỗng cay cay, vừa buồn cười lại vừa dâng trào một niềm cảm động khôn xiết.
Tên ngốc này, chàng thật sự đã buông bỏ vinh hoa phú quý đỉnh cao của một chiến thần, buông bỏ quyền uy khuynh đảo triều đình, chỉ để trở về chốn đồng quê này làm một thợ săn, một nông phu bên cạnh nàng!
Lúc này, đoàn sính lễ dài dằng dặc đã tiến vào cổng lớn của trang viên. Khi nhìn rõ những thứ được chở trên các cỗ xe, toàn bộ dân làng Lạc Diệp từ già trẻ lớn bé đều không nhịn được mà bật cười nghiêng ngả, vừa kinh ngạc vừa tấm tắc khen ngợi không dứt lời.
Bởi vì đoàn sính lễ này... quả thực là độc nhất vô nhị trên đời, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử cưới hỏi của bất kỳ vương công quý tộc nào!
Bên cạnh ba mươi rương gấm vóc lụa là, vàng ngọc châu báu do Hoàng đế và các tướng sĩ biên ải gom góp gửi mừng, phần lớn những cỗ xe phía sau lại chất đầy những thứ khiến một tiến sĩ nông học như Nhược Lam phải sáng rực hai mắt:
Mười cỗ xe đầu tiên chở đầy những bao tải hạt giống thượng hạng được phủ bạt cẩn thận! Nào là giống lúa mì chịu lạnh vùng cực Bắc, hạt đậu tương mắt đen khổng lồ từ duyên hải, hạt giống dưa ngọt giòn tan của Tây Vực, cho đến những củ giống hoa màu quý hiếm được bảo quản tỉ mỉ trong mùn cưa và rơm khô!
Hai mươi cỗ xe tiếp theo lấp lánh ánh kim loại dưới nắng sớm. Đó là toàn bộ nông cụ được rèn bằng loại thép tinh luyện thượng hạng nhất của Binh khí cục triều đình: những lưỡi cày sáng loáng không gỉ, cuốc xẻng bọc đồng sắc bén, kéo tỉa cành bằng thép lò xo siêu nhẹ, và cả những chiếc guồng quay tơ cải tiến bằng gỗ lim đen bóng bẩy!
Và ấn tượng nhất chính là cỗ xe cuối cùng, kéo theo một đàn gồm đúng năm mươi con trâu mộng lực lưỡng, khỏe khoắn! Con nào con nấy lông đen mượt bóng nhẫy, bắp thịt cuồn cuộn, đôi sừng cong vút uy mãnh, trên trán mỗi con đều được buộc một bông hoa bằng lụa đỏ thắm to tướng. Đàn trâu bước đi rầm rập, thở phì phò khí thế ngút trời, làm bụi bay mù mịt nhưng lại toát lên một vẻ trù phú, no đủ đến tột cùng!
Hắc Lục – nay đã được phong làm Hộ vệ tướng lĩnh – cưỡi ngựa đi bên cạnh đàn trâu, tay cầm roi da phe phẩy, mặt mày hớn hở gào to như sợ cả tổng Vân Khê này không nghe thấy:
“Sính lễ của An Điền Hầu gia hỏi cưới Thần Nông Nữ Sĩ! Ba mươi rương châu báu, năm mươi xe hạt giống và nông cụ ngự tạo, cùng năm mươi con trâu mộng cày bừa siêu khỏe! Xin dâng toàn bộ cho Khương gia trang viên!”
Tiếng cười rộ lên như pháo ran. Mấy bà thím trong thôn vỗ đùi bôm bốp cười ngặt nghẽo:
“Ôi chao ôi! Đúng là sính lễ của người làm ruộng có khác! Vàng bạc lụa là làm sao quý bằng trâu khỏe hạt ngon! Tiêu Hầu gia đúng là hiểu lòng Khương cô nương nhất trên đời!”
“Quá chu đáo! Có đàn trâu này thì ngàn mẫu đất ngự tứ kia cày ba ngày là xong hết!” Tam Thúc cười đến ngoác cả miệng, nước mắt hạnh phúc lau không xuể.
Giữa tiếng reo hò chúc tụng náo nhiệt của cả ngàn người, Tiêu Lập xoay người nhảy xuống ngựa. Đôi ủng da nện chắc nịch trên nền đất phù sa màu mỡ.
Chàng sải những bước chân dài dứt khoát, đi xuyên qua đám đông đang tự động dạt ra hai bên nhường lối. Ánh mắt chàng chưa từng rời khỏi Nhược Lam dù chỉ một cái chớp mi.
Đến khi chỉ còn cách nàng ba bước chân, chàng dừng lại. Mùi hương thảo mộc nồng ấm quen thuộc trên người chàng lập tức bao bọc lấy Nhược Lam, xua tan đi tất cả những âu lo, xa cách của chuỗi ngày dài đằng đẵng.
Nhược Lam ngước nhìn chàng, đôi mắt hạnh cong cong như vầng trăng khuyết. Nàng cố kìm nén sự xúc động đang cuộn trào trong ngực, cất giọng trêu chọc đầy tinh nghịch:
“Tiêu đại tướng quân... à không, bây giờ phải gọi là An Điền Hầu gia mới đúng chứ nhỉ? Ngài mang cả kho nông cụ của Binh khí cục cùng năm mươi con trâu mộng về đây, bộ tính đè bẹp trang viên nhỏ bé này của ta hay sao?”
Tiêu Lập nhìn sâu vào đôi mắt lấp lánh của nàng, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười ấm áp, trầm thấp và cưng chiều tột bậc:
“Nàng chê ít sao? Nếu chê ít, ngày mai ta lại vào rừng bắt thêm mấy con gấu xám về kéo cày cho nàng.”
Nhược Lam phì cười thành tiếng, gò má ửng hồng như ráng chiều:
“Chàng dám! Gấu xám mà kéo cày thì nát hết luống ngô của ta mất!”
Nụ cười trên môi Tiêu Lập bỗng thu lại, thay vào đó là sự nghiêm túc, chân thành và tha thiết đến tột cùng.
Trước con mắt kinh ngạc và nín thở của toàn thể dân làng, của quan Khâm sai Tề Hoằng và gia đình Tam Thúc, người đàn ông từng là nỗi khiếp sợ của quân thù nơi biên ải, vị chiến thần uy chấn thiên hạ, bỗng nhiên chậm rãi... quỳ một gối xuống nền đất phù sa ẩm ướt ngay trước mặt Nhược Lam!
“Tiêu Lập, chàng làm gì thế?!” Nhược Lam giật mình, vội vàng đưa tay muốn đỡ chàng dậy.
Nhưng Tiêu Lập nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của nàng. Bàn tay chàng thô ráp, đầy những vết chai sạn của năm tháng cầm đao kiếm và cung tên, nhưng lại vô cùng ấm áp, vững chãi như một ngọn núi chở che.
Chàng đưa tay vào vạt áo trước ngực, cẩn trọng lấy ra một chiếc hộp gấm nhỏ bằng gỗ hoàng đàn thơm ngát. Mở nắp hộp ra, bên trong lót lớp lụa vàng êm ái, đặt một chiếc trâm cài tóc bằng ngọc bích thượng hạng.
Chiếc trâm ngọc màu xanh biếc trong suốt không tì vết, nhưng điều đặc biệt nhất chính là phần đầu trâm: không hề chạm trổ hoa văn rồng bay phượng múa, cũng không đính ngọc trai cầu kỳ như trâm cài của các tiểu thư khuê các kinh thành. Thay vào đó, chiếc trâm được đẽo gọt vô cùng tỉ mỉ hình một bông lúa trĩu hạt uốn cong mềm mại, đan cài khéo léo với một nhánh bắp ngô nhỏ nhắn, từng hạt bắp ngọc đều tăm tắp, sống động như thật.
Từng đường chạm khắc tinh xảo ấy, nhìn qua những vết xước nhỏ li ti còn chưa kịp đánh bóng hết, Nhược Lam lập tức nhận ra: đây chính là do chàng tự tay thức trắng đêm, dùng dao gọt từng chút một mà thành!
Tiêu Lập ngước nhìn nàng, giọng nói trầm ấm, vang lên rõ ràng giữa khoảng sân trang viên lặng ngắt như tờ:
“Binh quyền mười vạn quân, ta đã trả lại cho giang sơn. Vương vị vạn hộ hầu, ta không màng để mắt. Cả đời này của Tiêu Lập, chỉ có hai bàn tay này: một tay cầm cung tên bảo vệ nàng bình an trọn kiếp, một tay cầm cán cuốc cùng nàng cày xới ruộng đồng.
Nàng muốn trồng ngô, ta cuốc đất. Nàng muốn dệt lụa, ta trồng dâu. Nàng muốn đi đến chân trời góc bể nào, ta liền dựng nhà tranh, đào ao thả cá ở nơi đó cùng nàng.
Khương Nhược Lam, nàng có bằng lòng gả cho một nông phu như ta, cùng ta chia ngọt sẻ bùi, an yên đi hết nửa đời còn lại hay không?”
Lời nói mộc mạc, không hoa mỹ, không thề non hẹn biển viển vông, nhưng từng câu từng chữ lại nặng tựa ngàn cân, chạm thẳng vào nơi mềm yếu nhất trong trái tim Nhược Lam.
Xuyên qua cuốn tiểu thuyết cung đấu đầy rẫy mưu mô toan tính này, nàng từng nghĩ mình chỉ là một kẻ pháo hôi qua đường cô độc, chỉ muốn vùi đầu vào ruộng đồng để tìm kiếm sự an toàn. Nàng chưa từng mong cầu một tình yêu oanh oanh liệt liệt, nhưng người đàn ông này... chàng đã dùng sự bao dung thầm lặng, dùng mạng sống để bảo vệ nàng, và dùng sự tôn trọng tuyệt đối đối với ước mơ trồng trọt của nàng để chứng minh tất cả.
Nước mắt hạnh phúc bỗng trào ra khỏi khóe mi, lăn dài trên gò má trắng mịn của Nhược Lam.
Bé Bảo Nha ở bên cạnh sốt ruột giậm chân bình bịch, chu môi nói to:
“Lam tỷ tỷ, tỷ mau đồng ý đi! Đồng ý đi để muội còn được ăn cỗ cưới bánh ngô nướng!”
“Đúng đấy Khương cô nương! Mau gật đầu đi!”
“Gả cho ngài ấy đi! Gả cho ngài ấy đi!”
Tiếng hò reo, vỗ tay của dân làng và đám hộ vệ vang lên như sấm dậy, cả thung lũng tràn ngập không khí hoan hỉ, phấn khởi ngút trời. Tam Thẩm Lý thị lấy vạt áo lau nước mắt cười rạng rỡ, Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu thì gật đầu lia lịa, trên mặt nở nụ cười mãn nguyện chưa từng có.
Nhược Lam nhìn người đàn ông đang quỳ trước mặt mình, nhìn ánh mắt vừa hồi hộp, vừa tràn đầy yêu thương tha thiết của chàng, nàng bất giác bật cười, nụ cười rạng ngời như hoa nở sau mưa.
Nàng cúi người xuống, vươn hai tay đón lấy chiếc hộp gỗ hoàng đàn, rồi nhẹ nhàng gật đầu:
“Được! Ta đồng ý!”
Nhược Lam nghiêng đầu, khẽ chớp mắt tinh nghịch:
“Nhưng chàng đã hứa rồi đấy nhé, một ngàn mẫu ruộng ngự tứ này rộng mênh mông, sau này việc cuốc đất, gánh nước nặng nhọc đều là của An Điền Hầu chàng cả, tuyệt đối không được lười biếng đâu đấy!”
Tiêu Lập thở phào một hơi thật dài, nụ cười rạng rỡ bừng sáng trên gương mặt cương nghị. Chàng đứng thẳng dậy, cẩn thận lấy chiếc trâm ngọc hình bông lúa ra khỏi hộp, nhẹ nhàng rút chiếc trâm gỗ cũ trên tóc nàng xuống, rồi tự tay cài chiếc trâm ngọc bích vào búi tóc mượt mà của thê tử tương lai.
Ngọc xanh biếc tôn lên làn da trắng nõn và đôi mắt long lanh của Nhược Lam, đẹp đến nao lòng.
Tiêu Lập siết chặt lấy bàn tay nàng trong lòng bàn tay ấm áp của mình, khẽ thì thầm bên tai nàng, giọng nói trầm khàn đầy cưng chiều:
“Tuân lệnh nương tử. Cả đời này, ta tình nguyện làm trâu làm ngựa cho nàng sai bảo.”
Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay của hàng ngàn con người lại một lần nữa bùng nổ, vang dội khắp thung lũng Lạc Diệp. Khâm sai Tề Hoằng cười ha hả nâng chén rượu ngô do Tam Thúc vừa rót đầy, uống cạn một hơi chúc mừng cho đôi uyên ương tài đức vẹn toàn.
Hai người sóng vai đứng bên nhau trước khoảng sân ngập tràn nắng ấm. Nhược Lam phóng tầm mắt nhìn ra xa, nhìn ba mươi mẫu ngô ngọt trĩu hạt đang rì rào trong gió thu, nhìn đồi dâu xanh ngắt và dải sông Ngân Khê uốn lượn hiền hòa bao quanh ngàn mẫu ruộng phì nhiêu vừa được triều đình ban tặng.
Một ý nghĩ táo bạo và ngọt ngào bỗng nảy ra trong đầu nàng. Nhược Lam nghiêng đầu nhìn Tiêu Lập, khóe môi cong lên một nụ cười rạng rỡ:
“Tiêu Lập, ta không thích những lễ nghi cung đình gò bó, cũng chẳng muốn ngồi kiệu hoa bị nhốt kín trong bốn bức tường ngột ngạt.”
Tiêu Lập siết nhẹ tay nàng, ánh mắt tràn đầy sự nuông chiều vô điều kiện:
“Nàng muốn thế nào, ta đều theo ý nàng.”
“Hôn lễ của chúng ta...” Nhược Lam chỉ tay về phía cánh đồng ngô bát ngát đang ngả sang màu vàng óng ả dưới chân đồi, đôi mắt lấp lánh niềm hân hoan rực rỡ: “Chúng ta sẽ tổ chức ngay giữa cánh đồng ngô ngọt này! Dùng lá dâu xanh và bông bắp vàng kết cổng hoa, dùng lụa tơ tằm Hoàng Kim làm dải lụa mừng, mâm cỗ cưới sẽ toàn là sản vật thơm ngon nhất của núi rừng Lạc Diệp! Chàng thấy thế nào?”
Tiêu Lập nhìn theo hướng tay nàng chỉ, ngắm nhìn vựa bắp vàng mênh mông ngập tràn sức sống, rồi lại nhìn nụ cười rạng ngời của người con gái chàng yêu thương hơn cả sinh mệnh. Ánh mắt chàng chan chứa một tình yêu sâu đậm, không chút do dự mà gật đầu:
“Được. Hôn lễ giữa đồng ngô vàng... nhất định sẽ là đại hôn rực rỡ và ấm áp nhất thiên hạ!”