Tiêu Triệt rảo bước xuống những bậc đá thềm sâu hun hút của thiên lao Đại Lý Tự. Không khí dưới lòng đất ngột ngạt, tanh nồng mùi rỉ sắt, ngai ngái hơi ẩm mốc của rơm rạ mục nát và u ám một sắc màu tử khí. Ánh đuốc gắn trên vách đá chập chờn rọi bóng thân hình cao lớn, vạm vỡ của chàng in dài lên những bức tường đá xám xịt đóng đầy rêu phong.
Chàng đã cởi bỏ bộ chiến bào giáp bạc nhuốm bụi đường trường, khoác lên mình trường bào huyền sắc viền kim tuyến uy nghiêm của bậc thống soái. Thế nhưng, sát khí lạnh lẽo cùng uy áp bức người tích tụ qua mười năm nơi chiến trường đẫm máu vẫn vẹn nguyên, khiến đám ngục tốt hai bên hành lang chỉ dám nép mình sát vách, nín thở quỳ rạp xuống đất khi nghe tiếng ủng da nện từng bước vững chãi trên nền đá hoa cương.
Đại Lý Tự Khanh Cố Hoài An đi sát phía sau chàng, hai tay cẩn trọng ôm sấp công văn và khẩu cung đã điểm chỉ đỏ chót, giọng điệu cung kính đến mức khúm núm:
“Khởi bẩm Tiêu đại tướng quân, theo lệnh của ngài và thánh chỉ của bệ hạ, Đại Lý Tự cùng Trấn Bắc quân đã suốt đêm thẩm vấn xong toàn bộ đầu sỏ. Toàn bộ sổ sách bí mật giấu dưới hầm ngầm phủ Thượng thư, thư từ qua lại với vương gia Bắc Địch, cùng danh sách hơn bốn mươi quan lại đồng mưu ăn chia bảy vạn thạch lương cứu tế... tất cả đều đã rành rành như gương soi, không một tên nào chối cãi được nửa lời.”
Tiêu Triệt khẽ gật đầu, ánh mắt sắc bén như chim ưng nhìn thẳng về phía buồng giam biệt lập kiên cố nhất nằm ở cuối dãy hành lang tăm tối. Nơi đó, tiếng xích sắt rổn rảng thỉnh thoảng lại va vào nhau chan chát, kèm theo những tiếng r*n r* thảm hại như loài dã thú bị dồn vào đường cùng.
Sau song sắt rỉ sét, một bóng người co ro trong góc tối. Đó từng là Khương Trọng Hoa – Lại bộ Thượng thư quyền khuynh triều dã, kẻ chỉ cần một cái phất tay là có thể định đoạt tiền đồ của hàng trăm sĩ tử, thao túng vận mệnh của cả một dòng tộc. Giờ đây, chiếc áo gấm thêu hoa lộng lẫy đã bị l*t s*ch, thay vào đó là bộ tử phục thô kệch dơ dáy bốc mùi xú uế. Mái tóc hoa râm từng được chải chuốt tỉ mỉ, cài trâm ngọc quý giá nay rũ rượi, bết dính vào khuôn mặt hốc hác, nhợt nhạt chỉ sau một đêm kinh hoàng.
Nghe thấy tiếng bước chân dừng lại trước cửa ngục, Khương Trọng Hoa giật mình ngước lên. Đôi mắt ti hí đục ngầu, giăng đầy tia máu của lão chạm phải ánh nhìn băng lãnh thấu tận xương tủy của Tiêu Triệt. Lão như một kẻ chết đuối vớ được cọc rơm, run lẩy bẩy bò rạp trên nền đất bẩn thỉu, hai bàn tay cáu ghét vươn qua khe hẹp chấn song sắt, cố níu lấy gấu áo của Tiêu Triệt nhưng bị chàng lạnh lùng lùi lại một bước né tránh.
“Tiêu... Tiêu soái! Tiêu đại tướng quân!” Giọng Khương Trọng Hoa khàn đặc, vỡ vụn ra từng hồi thảm thiết. “Tha mạng... Xin người niệm tình lão phu từng có chân trong triều đình, niệm tình... niệm tình phụ mẫu của Nhược Lam từng là người Khương gia mà mở lượng khoan hồng! Lão phu hồ đồ, lão phu bị đám gian nhân Bắc Địch ép buộc... Bảy vạn thạch lương đó, lão phu chưa hề tiêu một đồng bạc bán ra, đều cất giấu nguyên vẹn... Xin tướng quân tâu với bệ hạ tha cho lão một con đường sống! Dù giáng làm thứ dân, đi đày biên ải lão cũng cam lòng!”
Tiêu Triệt đứng sừng sững như một pho tượng đá ngàn năm, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười mỉa mai, lạnh lẽo đến tận cùng:
“Khương Trọng Hoa, ngươi mở miệng ra là cầu xin tha mạng, vậy ba năm trước tại Nhạn Môn Quan, khi ngươi gửi mật thư tiết lộ lộ trình hành quân của ta cho kỵ binh Bắc Địch, ngươi có nghĩ đến mạng sống của ba vạn thiết kỵ Trấn Bắc quân hay không?”
Khương Trọng Hoa toàn thân cứng đờ, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán.
Tiêu Triệt tiến thêm nửa bước, thanh âm trầm thấp vang lên như sấm rền giữa ngục tối:
“Ba vạn tướng sĩ trung trinh chôn thây trong bão tuyết biên ải, thi cốt không còn nguyên vẹn. Bản thân ta trúng Băng Phách Hàn Độc, ngày đêm chịu nỗi đau đớn xé da róc thịt, như ngàn vạn mũi kim đâm vào tâm can. Khi ấy, ngươi đang ngồi trong lầu son gác tía đếm bạc vàng do ngoại bang ban thưởng! Rồi đến trận đại hạn năm nay, sáu châu mười sáu huyện phương Bắc đất nứt nẻ, cỏ cây chết khô, dân chúng ăn vỏ cây rễ cỏ, bồng bế con thơ chết đói la liệt vệ đường, ngươi lại cấu kết tham quan phong tỏa kho lương triều đình, bòn rút bảy vạn thạch gạo cứu mệnh mang ra chợ đen bán với giá cắt cổ! Ngươi có còn mang trái tim của một con người hay không? Ngươi xứng đáng được sống sao?”
Từng câu, từng chữ của Tiêu Triệt tựa như những nhát búa ngàn cân giáng thẳng vào lương tri giả tạo của Khương Trọng Hoa. Lão run bắn lên, hàm răng va vào nhau cầm cập, hai mắt dại đi vì tuyệt vọng. Lão hiểu rằng, trước mặt người đàn ông này, mọi lời ngụy biện hay xin xỏ đều chỉ là trò hề lố bịch.
Đúng lúc đó, từ buồng giam bên cạnh – nơi giam giữ nữ quyến Khương gia – vang lên tiếng gào thét thất thanh, the thé và hỗn loạn.
“Mở cửa ra! Lũ cẩu nô tài các ngươi có biết ta là ai không?! Ta là Khương Ngọc Trinh! Ta là tương lai mẫu nghi thiên hạ! Ta có mệnh phượng hoàng! Hoàng thượng... Hoàng thượng bị các ngươi che mắt rồi!”
Cánh cửa ngục bằng gỗ sắt nặng nề rung chuyển dữ dội dưới những cú đập điên cuồng. Tiêu Triệt khẽ liếc mắt sang. Qua song sắt, một bóng dáng tiều tụy hiện ra. Khương Ngọc Trinh – kẻ từng được ca tụng là tài nữ kinh kỳ, dung nhan thanh tú, đoan trang thoát tục – nay xiêm y rách mướn, tóc tai bù xù như một mụ điên. Những chiếc móng tay sơn hồng ngọc quý phái ngày nào giờ đã gãy vụn, rướm máu vì cào cấu vào cánh cửa gỗ lim thô ráp.
Vừa trông thấy góc nghiêng tuấn tú ngời ngời cùng khí phách sa trường lẫm liệt của Tiêu Triệt, đôi mắt Khương Ngọc Trinh bỗng lóe lên một tia hy vọng điên cuồng. Ả bổ nhào tới sát mép cửa sắt, nước mắt nước mũi giàn giụa trên khuôn mặt nhơ nhuốc, cất giọng nức nở bi thương:
“Tiêu tướng quân! Tiêu Triệt ca ca! Là muội đây! Ngọc Trinh đây mà! Huynh hãy nhìn muội đi! Muội bị oan... Tất cả mọi chuyện thông đồng ngoại bang, tham ô lương thực đều là do phụ thân một tay sắp đặt, muội chỉ là phận nữ nhi chốn khuê phòng, nào hay biết gì về triều chính! Huynh cứu muội với! Muội không muốn chết trong cái hầm ngục bẩn thỉu này đâu!”
Ả bám chặt lấy chấn song, giọng nói chuyển từ van xin sang trơ trẽn, ánh mắt đong đưa một vẻ cầu khẩn đáng thương:
“Chỉ cần huynh cứu muội ra ngoài, muội nguyện ý làm thiếp hầu hạ huynh suốt đời! Huynh là chiến thần cái thế, muội là đệ nhất tài nữ kinh thành, chúng ta mới là một đôi trời sinh! Con ả Khương Nhược Lam thô lỗ quê mùa kia làm sao xứng đáng đứng bên cạnh huynh được? Nó chỉ là một đứa phế vật làm ruộng dơ dáy, nó không xứng...”
“Câm miệng!”
Một tiếng quát sắc lạnh như băng thép vang lên cắt ngang lời ả. Tiêu Triệt quay phắt người lại, ánh mắt tràn ngập sát khí nồng nặc khiến Khương Ngọc Trinh sợ hãi ngã ngửa ra sau mông, nuốt ngược hơi thở vào trong lồng ngực.
Tiêu Triệt nhìn ả bằng ánh mắt khinh bỉ tột cùng, thanh âm lạnh buốt như ngọn gió mùa đông:
“Ngươi dám lấy bản thân mình ra so sánh với Nhược Lam sao? Ngươi mà cũng xứng nhắc đến tên nàng?”
Ký ức về người con gái nhỏ nhắn nơi thôn Lạc Diệp ùa về trong tâm trí Tiêu Triệt, sưởi ấm cõi lòng đang tràn ngập nộ khí của chàng. Chàng nhớ tới một Nhược Lam kiên cường, sau khi bị gia tộc này trục xuất về quê cũ với hai bàn tay trắng và căn nhà tranh dột nát, chưa từng một lần oán trời trách đất. Nàng xắn tay áo lội bùn, nhổ cỏ, đôi bàn tay mảnh mai đầy vết chai sần rướm máu vì cuốc đất sỏi, nhưng nụ cười vẫn luôn rạng rỡ như nắng mai. Nàng dùng kiến thức nông học phi thường tạo ra những bắp ngô ngọt căng mọng cứu đói muôn dân; nàng thức trắng đêm hái thuốc, đốt lửa sưởi ấm, giải độc cứu sống tính mạng chàng; nàng mở kho lương, dựng vạc cháo ấm cưu mang vạn nạn dân cơ hàn.
Còn kẻ trước mặt này là gì? Một kẻ chỉ biết ỷ lại vào gia thế, dùng mưu mô hèn hạ cướp đoạt công sức của người khác, ngoài mặt thì tỏ vẻ từ bi thánh thiện nhưng bên trong lại thối rữa, độc ác đến tận cùng tủy xương. Thậm chí khi họa diệt môn ập đến, ả không ngần ngại đạp đổ cả phụ thân ruột thịt để mưu cầu một con đường sống hèn mọn.
“Nhược Lam dựa vào sức lao động chân chính và tấm lòng nhân ái để cứu sống vạn dân, được người người kính trọng xưng tụng là tiên cô,” Tiêu Triệt lạnh lùng nhìn thẳng vào đôi mắt dại đi của Khương Ngọc Trinh. “Còn ngươi, tâm địa rắn rết, lòng tham không đáy, vì chút danh vọng hão huyền mà không từ thủ đoạn cướp bóc, hãm hại người vô tội. Một hạt bụi trên vạt áo thô của nàng cũng sạch sẽ, cao quý hơn vạn lần cái tâm hồn mục ruỗng của ngươi!”
Chàng quay sang Cố Hoài An, dứt khoát phất tay áo:
“Cố đại nhân, chuẩn bị mở triều đường xét xử. Loại người này, nhiều lời thêm một câu chỉ làm bẩn miệng lưỡi.”
“Tuân lệnh Tiêu soái!” Cố Hoài An chắp tay nhận lệnh.
Tiêu Triệt cất bước đi thẳng ra khỏi cửa ngục, bỏ lại sau lưng tiếng gào khóc ai oán, tuyệt vọng và tiếng chửi rủa điên dại của Khương Ngọc Trinh đang vang vọng khắp hành lang u tối.
*
Giờ Thìn ba khắc, sương mai tan biến, ánh mặt trời chói chang phủ rợp khắp kinh thành Thạnh An. Trước cổng Đại Lý Tự và ngã tư Thái Thị, biển người đông nghẹt chật ních như nêm cối. Hàng vạn bá tánh, từ các bậc bô lão râu tóc bạc phơ cho đến đám thanh niên, phụ nữ bồng con nhỏ, đều đổ dồn về pháp trường. Tin tức về việc vạch trần vụ án tham ô cứu tế chấn động và mưu phản của Lại bộ Thượng thư Khương Trọng Hoa đã lan truyền khắp kinh kỳ với tốc độ chóng mặt.
Tại điện Kim Loan, không khí trang nghiêm và túc mục bao trùm khắp không gian. Văn võ bá quan đứng ngay ngắn hai bên tả hữu, không một ai dám ho he thở mạnh.
Ninh Viễn Đế ngự trên ngai vàng rồng cuộn, long nhan uy nghi, sắc mặt lạnh lùng tựa băng sương. Trước thềm rồng, Khương Trọng Hoa cùng hơn hai mươi trọng phạm bị trói chặt bằng xích sắt thô, quỳ rạp dưới đất, toàn thân run rẩy như lá rụng trước gió bão.
Đại Lý Tự Khanh Cố Hoài An bước ra giữa điện, dập đầu tâu trình:
“Khởi bẩm Hoàng thượng, tang chứng vật chứng vụ án th*m nh*ng lương cứu tế sáu châu phương Bắc và thông đồng ngoại bang đã được điều tra minh bạch. Khẩu cung của các phạm nhân đã điểm chỉ đầy đủ, không một ai oan ức. Kính xin Hoàng thượng định đoạt thánh tài!”
Ninh Viễn Đế nhìn xuống đống sổ sách và chứng cứ chất cao như núi trên ngự án, ngọn lửa giận dữ trong mắt lại bùng lên ngùn ngụt. Người đứng bật dậy, long bào phất mạnh trong gió sớm, cất giọng đanh thép vang vọng khắp đại điện:
“Trẫm phụng mệnh trời trị vì thiên hạ, coi muôn dân như con đỏ! Bắc cương xảy ra đại hạn, trăm họ lầm than đói khổ, triều đình dốc cạn quốc khố cứu tế, vậy mà lũ sâu mọt các ngươi lại dám đem sinh mạng của con dân ra làm bàn đạp mưu lợi riêng, thông đồng với sài lang ngoại bang, hãm hại trung lương! Tội ác tày trời ấy, trời không dung, đất không tha!”
Người rút một chiếc thẻ lệnh bài sơn son đỏ chót trên bàn ngự, ném mạnh xuống thềm điện rồng:
“Truyền chỉ của trẫm! Khương Trọng Hoa phạm tội phản quốc, tham ô đại nghịch bất đạo, xử tội trảm lập quyết tại ngã tư Thái Thị, bêu đầu ba ngày để răn đe thiên hạ! Toàn bộ đồng đảng tham gia đường dây ăn chia lương thực đều chịu chung án chém đầu không tha! Tịch thu toàn bộ gia sản, điền trang, trạch viện của Khương gia và bè lũ nghịch tặc, sung vào quốc khố để bồi hoàn cho kho lương phương Bắc!”
Khương Trọng Hoa nghe xong bản án, hai mắt trợn ngược, miệng sùi bọt mép rồi ngất lịm đi trên vũng mồ hôi lạnh của chính mình. Đám thị vệ cấm quân lập tức xông vào như lang như hổ, lôi xềnh xệch lão ra ngoài đại điện.
Ninh Viễn Đế đưa mắt nhìn sang Khương Ngọc Trinh đang run rẩy quỳ bên cạnh, giọng nói càng thêm băng lãnh:
“Khương thị Ngọc Trinh, tâm địa độc ác, ỷ thế h**p người, nhiều lần xúi giục vu khống người hiền, mưu toan cướp đoạt lụa cống triều đình, làm hoen ố thanh danh khuê tú! Nay tước bỏ toàn bộ thân phận đích thứ, phế làm quan nô tiện tịch, lưu đày ba ngàn dặm tới vùng núi Lĩnh Bắc cằn cỗi! Suốt đời lao dịch khổ sai dệt bao tải gai, vĩnh viễn không được ân xá hồi kinh!”
Khương Ngọc Trinh run rẩy nghe từng lời phán quyết, cảm giác như cả bầu trời sụp đổ xuống đầu. Lĩnh Bắc! Nơi đó quanh năm gió tuyết gầm rú, đá sỏi trơ trọi, là chốn đi dễ khó về của những kẻ lưu đày khổ sai. Đôi bàn tay trắng nõn nà từng chỉ quen cầm quạt lụa, gảy đàn tranh của ả, giờ đây sẽ phải cào xé cây gai gai góc, chịu đòn roi của cai ngục cho đến hơi thở cuối cùng. Giấc mộng phượng hoàng mẫu nghi thiên hạ, vinh hoa phú quý cả đời... tất cả đã tan thành bọt xà phòng!
“Không... không thể như thế được! Hoàng thượng tha mạng... Tiêu soái...” Ả gào khóc thảm thiết, nhưng những tiếng kêu xé lòng ấy nhanh chóng bị tiếng xích sắt kéo lê trên nền đá nghiền nát khi lính ngục áp giải ả ra khỏi điện.
Đúng giờ Ngọ ba khắc, tại pháp trường ngã tư Thái Thị, tiếng hô hào phẫn nộ của hàng vạn dân chúng kinh thành vang dậy như sấm rền. Rau héo, trứng thối, đất đá bay rợp trời trút xuống đầu đám tội thần Khương gia. Khi chiếc đao sáng quắc của đao phủ vung lên giữa thanh thiên bạch nhật, một tiếng "Phập!" dứt khoát vang lên, đầu của Khương Trọng Hoa cùng bè lũ phản nghịch lăn lóc dưới đất. Tiếng reo hò dậy sóng vang dội cả một góc trời kinh kỳ, người dân rơi nước mắt ôm lấy nhau ăn mừng công lý được thực thi, linh hồn của những nạn dân chết đói và tử sĩ nơi sa trường cuối cùng cũng được an ủi nơi chín suối.
Ở cổng Tây kinh thành, một cỗ xe tù thô sơ chở Khương Ngọc Trinh cùng đám nữ quyến lưu đày chầm chậm lăn bánh trên con đường đất bụi mù mịt. Ả bám chặt lấy chấn song gỗ, đôi mắt dại đi nhìn về hướng phương Nam xa xôi – nơi có thung lũng thôn Lạc Diệp trù phú xanh tươi ngút ngàn. Ả cay đắng nhận ra, người muội muội mà ả từng khinh bỉ ruồng bỏ nay đã đứng trên đỉnh cao của sự kính trọng và hạnh phúc, còn ả, kẻ từng có tất cả, lại phải bước đi trên con đường dẫn tới địa ngục trần gian không lối thoát.
*
Trong điện Kim Loan, sau khi cơn giông bão của bản án qua đi, bầu không khí trang nghiêm dần được thay thế bằng niềm hân hoan rạng rỡ. Ánh nắng ban mai rọi qua khung cửa sổ chạm trổ hoa văn tinh xảo, dát một lớp vàng rực rỡ lên thềm rồng.
Ninh Viễn Đế nhìn xuống vị tướng quân trẻ tuổi đang đứng sừng sững giữa đại điện. Tiêu Triệt với vóc dáng cao lớn, phong thái uy dũng lẫm liệt, đôi mắt sáng ngời chính khí, quả thực là viên ngọc quý báu của giang sơn Đại Ninh.
Ánh mắt của bậc đế vương tràn đầy sự cảm kích và yêu mến chân thành. Người bước xuống ngai vàng, chậm rãi tiến lại gần Tiêu Triệt, cất giọng trầm ấm trước toàn thể văn võ bá quan:
“Tiêu ái khanh!”
Tiêu Triệt chắp tay cung kính: “Có mạt tướng!”
Ninh Viễn Đế mỉm cười, vỗ mạnh vào bờ vai rắn rỏi như thép nguội của chàng:
“Ba năm trước trẫm trúng kế ly gián của gian thần, khiến ái khanh chịu hàm oan nơi biên ải, suýt nữa mất đi một vị trụ cột của quốc gia. Trẫm mỗi khi nghĩ lại, trong lòng vẫn không khỏi tự trách day dứt! Nay ái khanh dũng cảm trở về, một tay quét sạch sài lang phản nghịch, thu hồi bảy vạn thạch lương thực và hàng triệu lượng bạc tham ô cứu tế cho muôn dân sáu châu phương Bắc, lại bảo vệ bờ cõi vững như bàn thạch. Công lao cái thế ấy, trẫm khắc cốt ghi tâm!”
Hoàng đế phất tay áo, thái giám tổng quản lập tức bưng một chiếc khay ngọc phủ vải điều đỏ tiến lên, bên trên đặt một chiếc vương miện khảm ngọc cửu lưu lộng lẫy và một cuốn ngự chiếu bằng gấm tơ vàng.
Ninh Viễn Đế dõng dạc tuyên bố trước triều thần:“Nay giang sơn thái bình, mối họa gian thần đã trừ xong. Trẫm muốn phá bỏ lệ cũ, sắc phong Tiêu Triệt làm Trấn Bắc Vương! Ban tước vị Dị tính Vương tôn quý nhất triều đại, thế tập võng thế! Đồng thời, trẫm ban tặng một vạn mẫu ruộng phì nhiêu màu mỡ nhất dọc bờ sông Hoàng Long ven kinh kỳ, ban xây dựng Trấn Bắc Vương phủ nguy nga tráng lệ, để ái khanh ở lại kinh sư, cùng trẫm chia sẻ việc nước, nắm giữ toàn bộ binh mã thiên hạ!”
Lời vừa dứt, toàn bộ đại điện Kim Loan lập tức xôn xao như ong vỡ tổ!
Các quan viên nhìn nhau, ánh mắt không giấu nổi sự kinh ngạc tột độ cùng lòng ngưỡng mộ khôn xiết. Dị tính Vương thế tập võng thế! Lại còn được ban thưởng vạn mẫu điền sản màu mỡ bậc nhất gần kinh kỳ! Đây là vinh sủng tột đỉnh, là ân điển ngút trời mà trong suốt trăm năm lập quốc của triều Ninh chưa từng có bất kỳ một vị võ tướng nào đạt được. Có được tước vị này, Tiêu Triệt sẽ đứng trên vạn người, chỉ dưới một người, danh vọng và quyền lực đạt đến đỉnh phong chói lọi!
Thế nhưng, giữa những tiếng xì xào trầm trồ của triều thần, Tiêu Triệt vẫn đứng yên bất động. Gương mặt cương nghị góc cạnh của chàng không hề có lấy một tia xao động, ánh mắt đại bàng thâm trầm phẳng lặng như mặt hồ mùa thu.
Trước ánh mắt mong chờ của Hoàng đế và sự thèm muốn của trăm quan, Tiêu Triệt chậm rãi quỳ một gối xuống phiến đá hoa cương lạnh lẽo.
Chàng đưa tay tháo miếng Binh phù Bạch Hổ bằng ngọc tủy ngàn năm bên hông áo – tín vật tối cao có thể điều động mười vạn thiết kỵ dũng mãnh nhất phương Bắc – rồi nâng cao quá đầu bằng cả hai bàn tay cứng cỏi:
“Khởi bẩm Hoàng thượng... Mạt tướng Tiêu Triệt, khẩn xin Hoàng thượng thu hồi Binh phù Bạch Hổ, từ tước quan chức, cho phép mạt tướng được giải giáp quy điền!”
“Keng!”
Một chiếc chén trà trên tay vị lão thần đứng đầu hàng quan rơi xuống sàn vỡ tan tành giữa bầu không khí im phăng phắc đến ngạt thở.
Ninh Viễn Đế sững sờ, nụ cười trên môi người đông cứng lại. Người không dám tin vào tai mình, bước vội xuống thêm hai bậc thềm rồng, giọng nói run rẩy vì kinh ngạc:
“Ái khanh! Ngươi... ngươi vừa nói cái gì?! Giải giáp quy điền? Ngươi đang ở độ tuổi tráng niên, chiến công cái thế, uy chấn tứ phương! Giang sơn này, biên ải này vẫn cần có ngươi tọa trấn, trẫm vẫn cần có một cánh tay đắc lực như ngươi bên cạnh, cớ sao ngươi lại muốn từ bỏ tất cả vinh hoa phú quý để quy điền?!”
Tiêu Triệt ngẩng cao đầu, ánh mắt kiên định ngời sáng, nhưng trong đáy mắt lại ánh lên một sự thanh thản, nhẹ nhõm vô ngần. Chàng chậm rãi cất giọng, từng lời từng chữ vang vọng khắp không gian rộng lớn của điện Kim Loan:
“Tâu Hoàng thượng, mười sáu tuổi mạt tướng đã khoác chiến bào xông pha trận mạc. Mười năm sa trường phong vân đẫm máu, mạt tướng đã chứng kiến quá nhiều đồng đội ngã xuống trong bão tuyết, ngửi quá nhiều mùi máu tanh nồng của chiến tranh. Thân thể mạt tướng chằng chịt vết thương gươm giáo, lại từng trúng Băng Phách Hàn Độc thấu xương tủy, tưởng chừng đã sớm trở thành một nắm tro tàn nơi hoang dã.”
Chàng khẽ hít một hơi thật sâu, nơi lồng ngực như dâng lên một dòng suối ấm áp lạ kỳ:
“Nay giang sơn Đại Ninh đã thái bình thịnh trị, mười vạn thiết kỵ Trấn Bắc quân đều có các phó tướng kiên trung, dũng cảm chỉ huy, biên ải vững như tường đồng vách sắt, không một bóng quân thù nào dám bén mảng. Mạt tướng đã đem trọn vẹn mười năm tuổi xuân tươi đẹp nhất dâng hiến cho xã tắc, nay tâm nguyện hộ quốc đã trọn vẹn, mạt tướng chỉ khẩn xin bệ hạ cho phép mạt tướng được cởi bỏ bộ chiến bào nặng nề này, trở về làm một thường dân áo vải.”
Ninh Viễn Đế nhìn sâu vào đôi mắt của vị danh tướng trẻ tuổi, lòng người chấn động khôn nguôi:
“Ngươi... ngươi cam lòng từ bỏ ngai vị Trấn Bắc Vương? Cam lòng từ bỏ vạn mẫu ruộng phì nhiêu bên bờ Hoàng Long, từ bỏ quyền lực khuynh triều này sao?”
“Mạt tướng cam lòng!” Tiêu Triệt không hề do dự nửa khắc, khóe môi khẽ mỉm cười – một nụ cười hiền hòa, rạng rỡ chưa từng xuất hiện trên gương mặt lạnh lùng của vị chiến thần sa trường.
“Vạn mẫu đất màu ven kinh kỳ tuy quý giá, nhưng không bằng ba mươi mẫu đồi sỏi đá nơi thôn dã thung lũng Lạc Diệp. Vinh hoa phú quý chốn hoàng thành tuy rực rỡ, nhưng không bằng mùi khói bếp lam chiều bên mái nhà tranh.”
Tiêu Triệt ngước nhìn lên bầu trời xanh biếc bên ngoài khung cửa điện, trong tâm trí chàng lúc này hiện lên rõ mồn một từng hình ảnh thân thương nơi quê nghèo:
“Nơi thôn nhỏ hẻo lánh ấy, có dòng nước suối Ngân Khê trong vắt uốn lượn, có những luống ngô ngọt xanh ngắt trĩu bắp do chính tay mạt tướng vỡ đất, cuốc đất gieo trồng. Và quan trọng nhất... nơi đó có một người con gái đang mỉm cười chờ mạt tướng trở về.”
Chàng nhớ tới ánh mắt lanh lợi của Nhược Lam, nhớ chiếc tạp dề thô nàng hay đeo trước bụng, nhớ tiếng cười giòn tan của nàng khi thu hoạch được những củ khoai to, bắp ngô mẩy hạt. Nhớ cả những đêm trăng thanh gió mát, hai người ngồi bên hiên nhà gỗ, nàng vừa bóc hạt ngô vừa hào hứng giảng giải cho chàng nghe về đất đai, về cây cỏ, về ước mơ biến ngọn đồi hoang vu thành một trang viên trù phú tự cấp tự túc.
“Nàng đã dùng đôi bàn tay lao động cần cù kéo mạt tướng ra khỏi bóng tối tuyệt vọng của hàn độc, dùng sự ấm áp của những bữa cơm giản dị chữa lành tâm hồn chai sạn đầy vết thương của mạt tướng. Nàng dạy mạt tướng hiểu rằng, đao kiếm trên lưng ngựa có thể giữ yên một cõi bờ cõi, nhưng cày cuốc, hạt giống và tình yêu thương muôn loài mới là cội nguồn nuôi sống sinh linh thiên hạ. Mạt tướng đã hứa với nàng, sau khi quét sạch giông bão kinh thành, sẽ trở về làm một thợ săn, một nông phu bên cạnh nàng, cùng nàng cuốc đất, gánh nước, cày cấy suốt cuộc đời này. Lời hứa của một nam nhi đại trượng phu, ngàn vàng không đổi, vương vị không màng!”
Toàn thể triều đình lặng đi.
Các bậc lão thần râu tóc bạc phơ từng chứng kiến bao cảnh huynh đệ tương tàn, phụ tử trở mặt vì hai chữ quyền lực chốn kinh kỳ, nay nghe những lời bộc bạch mộc mạc mà thâm tình, khoáng đạt của Tiêu Triệt, trong lòng không khỏi dâng lên niềm cảm phục sâu sắc. Một người đàn ông có thể xem vương vị như chiếc giày rách, coi trọng lời hứa với người thương hơn cả tước vị cửu trùng, đó mới thực sự là bậc anh hùng cái thế!
Ninh Viễn Đế xúc động đến mức khóe mắt hoe đỏ. Người nhìn vị tướng quân đang quỳ gối dâng trả binh quyền, khẽ thở dài một tiếng, nhưng trong tiếng thở dài ấy lại ngập tràn sự trân trọng vô bờ:
“Ái khanh... Ngươi quả thực là kẻ si tình hiếm thấy trên cõi đời này! Cả đời trẫm ngồi trên ngai vàng, nhìn thấy bao kẻ tranh quyền đoạt vị, dẫm đạp lên nhau mà leo lên, nhưng chưa từng thấy ai có tấm lòng khoáng đạt, trong sáng và thủy chung như ngươi. Ái khanh đã kiên quyết như vậy, trẫm nếu ép buộc ngươi ở lại chốn lầu son ngột ngạt này, chẳng phải là làm tổn thương một tấm lòng son sắt hay sao?”
Ninh Viễn Đế bước tới, tự tay đón lấy chiếc Binh phù Bạch Hổ trên tay chàng, rồi đỡ Tiêu Triệt đứng dậy:
“Được! Binh phù này trẫm tạm thu hồi, giao cho các phó tướng của Trấn Bắc quân nắm giữ. Lời xin giải giáp quy điền của ngươi... trẫm chuẩn tấu!”
“Tạ Hoàng thượng long ân!” Tiêu Triệt chắp tay dập đầu tạ ơn.
“Thế nhưng,” Ninh Viễn Đế nhìn chàng, ánh mắt đầy vẻ tha thiết, “Ngươi vì xã tắc đổ máu mười năm, lại không màng tước vương, không nhận đất đai bổng lộc, nếu trẫm để ngươi hai bàn tay trắng trở về làm nông phu, trẫm mặt mũi nào đối diện với con dân Đại Ninh? Chẳng lẽ ngươi không có lấy một điều gì thỉnh cầu trẫm ban thưởng hay sao?”
Tiêu Triệt ngẩng đầu, ánh mắt bỗng sáng rực lên một niềm kiêu hãnh khôn tả. Chàng quỳ rạp người xuống một lần nữa, dõng dạc tâu:
“Khởi bẩm Hoàng thượng! Mạt tướng xác thực có một lời thỉnh cầu duy nhất! Đây là tâm nguyện lớn nhất của mạt tướng trong chuyến hồi kinh này!”
Ninh Viễn Đế mừng rỡ vội nói: “Nói mau! Trẫm nhất định chuẩn tấu cho ngươi!”
Tiêu Triệt hít sâu một hơi, giọng nói dõng dạc vang rền như chuông đồng:
“Mạt tướng xin Hoàng thượng... hãy ban thưởng ân điển long trọng nhất cho Khương Nhược Lam!”
Cả triều đình lại một lần nữa hướng sự chú ý về phía chàng.
Tiêu Triệt đưa tay rút từ trong ngực áo ra bức biểu vạn dân chi chít vết máu và dấu tay điểm chỉ đỏ rực của nạn dân phương Bắc, cùng chiếc bọc vải điều chứa bắp ngô ngọt óng ánh như ngọc, cung kính dâng lên:
“Khương Nhược Lam tuy mang danh phận nữ nhi, nhưng tấm lòng và tài năng của nàng sánh ngang nhật nguyệt! Bị gia tộc ruồng bỏ đày về quê cũ, nàng không hề oán giận, tự mình khai hoang đồi sỏi đá cằn cỗi. Nàng dùng kiến thức nông học phi thường, cải tạo đất chua phèn thành đất màu mỡ, nghiên cứu kỹ thuật thụ phấn chéo để lai tạo ra giống ngô ngọt siêu năng suất, hạt vàng óng ánh, chịu hạn phi thường gấp ba lần ngô địa phương!”
Chàng ngước nhìn Ninh Viễn Đế, xúc động giãi bày:
“Trong trận đại hạn ba tháng qua, khi sáu châu lúa má chết khô, chính giống ngô ngọt của nàng vẫn xanh tươi trĩu bắp nhờ bộ rễ ăn sâu và kỹ thuật giữ ẩm bằng rơm rạ! Khi nạn dân chạy nạn tràn về, chính nàng đã dốc cạn năm gian kho lương tích cóp, dựng mười vạc cháo ấm cứu sống hơn một vạn sinh linh! Chưa dừng lại ở đó, nàng còn xuất một vạn cân ngô giống quý giá, trực tiếp truyền dạy kỹ thuật canh tác chịu hạn cho bà con nạn dân để họ có thể tự mình gieo trồng, tự cứu lấy bản thân và gia đình!”
Tiêu Triệt dừng lại một nhịp, ánh mắt tràn đầy sự tự hào khi nhắc đến thành tựu của người thương:
“Không chỉ có lương thực, nàng còn khai phá đồi dâu, xây dựng nhà nuôi tằm khép kín kiểm soát nhiệt độ bằng địa long, nuôi dưỡng thành công giống tằm Hoàng Kim đột biến, kéo ra những súc lụa vàng óng ả kháng nước tuyệt đối, đoạt giải Quán quân tại Hội thi Dệt may Phủ thành Vân Châu, làm rạng danh quốc thể! Nàng lập nên Tổ hợp tác Lạc Diệp, giúp hàng trăm nông hộ nghèo khó thoát khỏi cảnh cơ hàn, tạo kế sinh nhai bền vững cho bá tánh!”
Tiêu Triệt dập đầu sát đất, giọng nói rung động tâm can từng người trong đại điện:
“Một bậc kỳ nữ dùng tri thức nông học cứu sống vạn dân, dùng đôi bàn tay lao động chân chính chấn hưng sản nghiệp quốc gia, tấm lòng bồ tát cứu nạn phò nguy như nàng... xứng đáng được triều đình vinh danh muôn thuở! Mạt tướng không xin vương vị, không xin ngàn lượng vàng ròng, chỉ xin Hoàng thượng ban cho nàng một danh phận chính danh, để thiên hạ muôn đời biết rằng: Đại Ninh quốc coi trọng sức lao động của người nông dân, tôn vinh trí tuệ canh nông cứu độ muôn dân!”
Lời vừa dứt, Khâm sai Tề Hoằng lập tức bước ra khỏi hàng quan, quỳ sụp xuống bên cạnh Tiêu Triệt, kích động tâu lên:
“Khởi bẩm Hoàng thượng! Vi thần phụng mệnh vi hành phương Bắc, tận mắt chứng kiến lụa Hoàng Kim rực rỡ tuyệt mỹ của Khương cô nương tại phủ Vân Châu, lại tận mắt nhìn thấy hàng ngàn nạn dân phương Bắc rơi nước mắt quỳ lạy cảm tạ bát cháo ngô cứu mạng của nàng nơi thung lũng Lạc Diệp! Những lời Tiêu tướng quân nói không hề có nửa phần khoa trương! Khương cô nương thực sự là phúc tinh của con dân phương Bắc! Thần khẩn xin bệ hạ ân chuẩn lời thỉnh cầu của Tiêu tướng quân!”
Ngay sau đó, Đại Lý Tự Khanh Cố Hoài An cùng hàng loạt lão thần trung lương trong triều cũng lần lượt bước ra, đồng thanh quỳ xuống thềm rồng:
“Thần đẳng khẩn xin Hoàng thượng chuẩn tấu! Tôn vinh hiền tài nông gia, an định lòng dân muôn cõi!”
Tiếng thỉnh cầu vang dội khắp điện Kim Loan, tạo nên một cảnh tượng xúc động chưa từng có trong lịch sử triều Ninh.
Ninh Viễn Đế nhìn xuống bức biểu vạn dân đỏ rực vết điểm chỉ của dân nghèo, lại nhìn bắp ngô ngọt hạt vàng căng mọng ngời sáng trên ngự án. Người bước lại gần, nâng bắp ngô lên tay, ngửi thấy mùi thơm ngọt ngào, mộc mạc của hương đồng gió nội phảng phất giữa chốn cung đình nguy nga.
Lồng ngực bậc đế vương phập phồng xúc động. Đôi mắt người rưng rưng lệ, rồi bất giác bật cười thành tiếng – một tràng cười sảng khoái, tự hào và thanh thản vô cùng:
“Hay! Hay lắm! Quả đúng là trời ban phúc lớn cho Đại Ninh ta!”
Ninh Viễn Đế giơ cao bắp ngô ngọt trước mặt toàn thể văn võ bá quan, cất tiếng vang rền:
“Trẫm có được một vị đại tướng quân vì nước xông pha, không màng danh lợi như Tiêu Triệt; lại có được một bậc kỳ nữ dốc lòng vì nông nghiệp, đem hạt ngô tơ tằm cứu sống vạn dân như Khương Nhược Lam! Đôi trẻ các ngươi, một người giữ yên bờ cõi, một người no ấm nhân gian, quả thực là rường cột nước nhà, là thần tiên quyến lữ hiếm có trong thiên hạ!”
Người quay phắt lại long án, áo bào phất mạnh cuốn theo làn gió ấm áp của buổi sớm mai. Ninh Viễn Đế ngồi xuống ngai vàng, tự tay trải rộng một cuộn lụa gấm màu vàng kim thượng hạng dệt hình rồng bay phượng múa. Người cầm lấy cây ngự bút bằng ngọc bích, chấm đậm vào nghiên mực chu sa đỏ thắm, ánh mắt rực sáng niềm kiêu hãnh của bậc minh quân:
“Ý trời đã định, lòng dân đã thuận! Trẫm hôm nay sẽ đích thân hạ bút, ban một đạo thánh chỉ đặc biệt chưa từng có tiền lệ trong lịch sử triều Ninh, để thiên hạ muôn phương đều phải nghiêng mình kính phục đôi uyên ương tài đức vẹn toàn!”
Từng nét bút chu sa rồng bay phượng múa bắt đầu lướt nhanh trên mặt gấm vàng óng ả. Tiêu Triệt đứng thẳng người dậy giữa đại điện ngập tràn ánh nắng rực rỡ, bàn tay chàng khẽ siết chặt nơi ngực áo – nơi cất giữ chiếc khăn tay thêu nhành hoa bắp nhỏ của Nhược Lam. Tim chàng đập rộn ràng từng nhịp hân hoan, đôi mắt nhìn về phương Nam xa xăm ngập tràn tình yêu thương tha thiết.
Bão giông kinh thành đã hoàn toàn khép lại. Ngày mai, chàng sẽ mang theo vinh quang tột bực và trọn vẹn tấm chân tình này, rong ruổi ngựa chiến vượt ngàn dặm gió bụi, trở về bên người con gái của đời mình nơi thung lũng Lạc Diệp ngát hương đồng nội.