Nữ Phụ Pháo Hôi Chỉ Muốn Trồng Trọt
Chương 17: Chiến Bào Giáp Bạc Xuất Hiện Nơi Kim Loan Điện
Mặt trời vừa ló dạng sau rặng núi Lạc Nhạn, rải những sợi nắng vàng nhạt như mật ong xuống thung lũng Lạc Diệp. Khói bếp từ mười vạn gian bếp dã chiến và những nồi cháo ngô cứu đói vẫn bốc lên nghi ngút, hòa quyện với mùi đất ẩm nồng nàn sau đợt tưới tắm sáng sớm.
Tiêu Lập đứng tựa lưng vào cột gỗ hiên nhà, vạt áo chàm thô mộc khẽ lay động trong ngọn gió sớm mang theo hơi thở của sương mai. Đôi mắt đại bàng vốn luôn sắc lạnh như lưỡi đao tôi thép, giờ đây lại phẳng lặng và mềm mại lạ thường khi dõi theo bóng hình mảnh mai ở giữa sân.
Khương Nhược Lam đang cúi người kiểm tra những nong ngô giống cuối cùng chuẩn bị xuất kho cho bà con nạn dân. Mái tóc nàng búi củ tỏi gọn gàng sau gáy, vài sợi tóc tơ bết lại bên thái dương vì mồ hôi, hai tay áo thô vén cao để lộ cẳng tay trắng nõn lấm tấm vài vệt bụi ngô vàng óng. Nàng vừa thoăn thoắt phân loại hạt, vừa ríu rít dặn dò Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu:
“Tam Thúc, chỗ ngô này rễ ăn rất sâu, nhưng bà con mang về phải dặn họ tuyệt đối không được vùi quá ba tấc đất. Đất hạn vốn nén chặt, vùi sâu hạt sẽ ngộp thở mà chết yểu. Cứ khoét một hốc nông, phủ một lớp rơm mục giữ ẩm như con đã hướng dẫn hôm qua, ba ngày là nứt nanh, bảy ngày là nhú mầm xanh ngay.”
“Được, được! Nhược Lam cứ yên tâm, Tam Thúc ghi nhớ từng lời rồi. Cả vạn bà con ngoài bãi hôm nay đều đồng thanh gọi cháu là tiên cô giáng trần đấy!” Tam Thúc cười ha hả, nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra đầy tự hào.
Nhược Lam bật cười giòn tan, lau mồ hôi trán bằng mu bàn tay: “Tiên cô gì chứ, con chỉ là người thích trồng trọt thôi mà.”
Nhìn nụ cười rạng rỡ như nắng hạ của nàng, ngực Tiêu Lập dâng lên một cỗ ấm áp khó tả. Mười năm lăn lộn nơi sa trường đẫm máu, gối đầu lên giáo mác, ngửi mùi tanh tưởi của tử khí và sự phản trắc chốn quan trường, chưa từng có giây phút nào tâm can chàng được an định như lúc này. Chàng chỉ muốn thời gian vĩnh viễn ngừng lại ở khoảnh khắc này, để chàng làm một gã thợ săn chất phác, ngày ngày lên rừng săn thú, chiều về vác cuốc xới đất cho nàng gieo hạt.
Thế nhưng, sự bình yên nơi sơn dã ấy bỗng chốc bị xé toạc bởi một chuỗi âm thanh chói tai từ đằng xa.
“Rầm! Rầm! Rầm!”
Tiếng vó ngựa dồn dập nện trên con đường đá dẫn vào thôn, mang theo tiếng kim loại va đập leng keng rợn người. Bụi mù bốc lên cuồn cuộn nơi đầu làng.
Đồng tử Tiêu Lập co rút lại thành hai điểm nhọn hoắt. Thân hình cao lớn của chàng trong chớp mắt đã rời khỏi hiên nhà, chỉ một cái lướt nhẹ đã chắn ngay trước mặt Nhược Lam, đem cả thân hình nàng che chở hoàn toàn sau tấm lưng vững chãi như núi đá.
“Tiêu Lập?” Nhược Lam giật mình, theo bản năng túm lấy vạt áo chàng.
“Đừng sợ.” Giọng Tiêu Lập trầm thấp, vững vàng như bàn thạch, bàn tay to lớn phủ đầy vết chai sạn khẽ siết lấy bàn tay nhỏ nhắn của nàng, truyền qua một luồng hơi ấm áp dịu dàng: “Có ta ở đây.”
Một đội kỵ binh gồm năm mươi tên thiết giáp sáng loáng, tay lăm lăm trường thương và roi sắt, đằng đằng sát khí xộc thẳng vào sân phơi ngô. Khí thế hung bạo của cấm quân kinh thành lập tức khiến hàng ngàn nạn dân đang nhận cháo xung quanh hoảng loạn, tiếng đàn bà trẻ con khóc thét vang lên từng chặp.
Dẫn đầu là một tên giáo úy mặt đầy thịt mỡ, râu hùm hàm én, cưỡi trên con chiến mã đen tuyền. Hắn quét ánh mắt khinh miệt nhìn quanh đống nông sản và đám dân nghèo xơ xác, cuối cùng dừng lại trên người Nhược Lam, rút từ trong ngực áo ra một cuộn giấy vàng óng, lớn giọng quát tháo như sấm nổ:
“Cấm quân kinh thành phụng mệnh hành sự! Kẻ nào là nghịch nữ Khương Nhược Lam, lập tức quỳ xuống tiếp chỉ!”
Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu run rẩy nhưng vẫn cắn răng bước lên: “Các… các vị quân gia, cháu gái tôi chỉ là một nông nữ lương thiện, ngày ngày làm ruộng phát chẩn cứu nạn dân, cớ sao các ngài lại…”
“Cút ngay!” Tên giáo úy vung roi da định quất thẳng vào mặt Tam Thúc: “Lũ thảo dân ngu muội, dám can dự vào việc triều đình sao?!”
Ngọn roi xé gió chưa kịp chạm vào người Tam Thúc thì một bàn tay như gọng kìm thép đã vươn ra, bắt chuẩn xác lấy đầu roi.
Tiêu Lập đứng đó, một tay nắm chặt ngọn roi, ánh mắt lạnh lẽo thấu xương nhìn thẳng vào tên giáo úy. Khí tức sát phạt đè nén bấy lâu nay khẽ rò rỉ ra một tia, lập tức khiến con chiến mã của tên giáo úy kinh hãi hí vang một tiếng, lùi liền mấy bước suýt hất văng chủ nhân xuống đất.
Tên giáo úy kinh hồn bạt vía, cố giật lại ngọn roi nhưng không thể nhúc nhích dù chỉ nửa phân. Hắn thẹn quá hóa giận, rút ngang thanh đao bên hông quát lớn:
“To gan! Một tên thợ săn sơn dã mà dám chống lại cấm quân sao?! Khương Thượng thư có mật sớ tấu lên Hoàng thượng: Nghịch nữ Khương Nhược Lam tự ý tích trữ ngàn thạch quân lương, cấu kết với lưu dân biên ải mưu đồ xưng hùng tạo phản! Bắt lấy ả cho ta, dùng xiềng sắt khóa lại áp giải về thiên lao kinh thành chờ ngày thẩm vấn! Kẻ nào dám cản đường, chém không tha!”
Mấy chục tên cấm quân lập tức rút đao, xiềng xích sắt loảng xoảng vung lên định xông vào.
Bà con dân làng Lạc Diệp cùng hàng ngàn nạn dân thấy vậy, chẳng ai bảo ai, lập tức cầm đòn gánh, cuốc xẻng, gậy gộc ùa tới, kết thành một bức tường người vây kín lấy Nhược Lam và Tiêu Lập.
“Không được bắt Khương cô nương!”
“Khương Tiên Cô là ân nhân cứu mạng của cả vạn người chúng ta, nàng cứu người chứ có mưu phản đâu!”
“Các ngươi là cấm quân hay là lũ cướp ngày?! Muốn bắt nàng, bước qua xác chúng ta trước!”
Không khí lập tức căng thẳng như dây đàn chực đứt, máu có thể đổ bất cứ lúc nào. Nhược Lam bước lên nửa bước, gương mặt không hề có lấy một tia hoảng sợ, chỉ có sự lạnh lùng và khinh bỉ tột cùng. Khương gia kinh thành… quả nhiên độc ác và đê tiện đến mức này! Cướp công thức tơ lụa không xong, nay lại chụp cái mũ phản quốc tày trời lên đầu nàng để danh chính ngôn thuận đoạt lấy toàn bộ điền trang và tính mạng của nàng.
Đúng lúc xung đột sắp bùng nổ, một tiếng cười lạnh lẽo vang lên từ trên nóc nhà tằm.
“Triệu Phách! Ngươi mang danh cấm quân thiên tử, nhưng lại cam tâm làm chó săn cho Khương gia từ bao giờ thế hả?!”
Một bóng đen thoăn thoắt lướt xuống như chim ưng, hạ cánh ngay giữa ranh giới hai bên. Hắc Lục trong bộ trang phục màu đen gọn gàng, tay cầm một lệnh bài bằng ngọc đen nạm vàng, giơ thẳng vào mặt tên giáo úy họ Triệu.
Tên giáo úy vừa định mắng chửi, nhưng khi ánh mắt chạm vào hình rồng cuộn khắc chìm cùng bốn chữ “Trấn Bắc Tiết Độ” trên lệnh bài, sắc mặt hắn lập tức chuyển từ đỏ tía sang trắng bệch như người chết trôi. Đầu gối hắn mềm nhũn, thanh đao trong tay rơi bộp xuống đất.
“Trấn… Trấn Bắc Soái Lệnh?! Không… không thể nào! Trấn Bắc Đại Tướng quân ba năm trước đã…”
“Đã làm sao? Đã chết trận rồi sao?”
Hắc Lục cười khẩy, giọng nói mang theo uy áp sắc bén: “Mở to mắt chó của ngươi ra mà nhìn cho rõ! Đây là Ngự ban Thiết bài do chính Thái thượng hoàng ban cho Trấn Bắc quân, nắm quyền tiền trảm hậu tấu, gặp lệnh bài như thấy Hoàng đế! Ngươi chỉ là một tên lục phẩm giáo úy cấm quân, dám đem quân tới đất phong của quân đội biên ải giương oai bắt bớ à?!”
Toàn bộ năm mươi tên cấm quân nhìn thấy soái lệnh, sợ đến mức hồn xiêu phách lạc. Bọn chúng đều là binh lính kinh kỳ, làm sao không biết đến thanh danh hiển hách và sự khủng khiếp của Trấn Bắc quân – đội quân bách chiến bách thắng đã bảo vệ biên cương Đại Ninh suốt mười năm qua?
Tên giáo úy ngã nhào khỏi lưng ngựa, quỳ rạp xuống đất, trán dập chan chát: “Mạt tướng… mạt tướng có mắt không tròng! Mạt tướng chỉ là phụng lệnh Khương Thượng thư và Binh bộ…”
“Cút ra ngoài bìa rừng đóng trại cho ta!” Hắc Lục quát lạnh: “Kẻ nào dám bước qua cổng thôn nửa bước, giết không tha!”
Đám cấm quân như được đại xá, vội vã lôi kéo nhau dắt ngựa lùi sạch ra ngoài cổng làng, không dám ngoái đầu lại nhìn.
Dân làng và nạn dân reo hò vang dội, nhưng Tiêu Lập thì không cười. Đôi mắt chàng trầm sâu như vực thẳm.
Chàng quay người lại, nhìn Nhược Lam. Gió sớm thổi qua mái tóc nàng, làm lay động vài lọn tóc mềm. Nhược Lam ngước lên nhìn chàng, ánh mắt thông tuệ của nàng đã sớm nhìn thấu tất cả.
“Đến lúc rồi, phải không?” Nàng khẽ hỏi, giọng nói êm dịu lạ thường.
Tiêu Lập siết chặt nắm đấm, khớp xương kêu lên răng rắc: “Khương gia đã sốt ruột đến mức dám điều động cấm quân. Nếu ta không hồi kinh nhổ tận gốc lũ sâu mọt này, bọn chúng sẽ như ruồi bọ bám riết lấy nàng, ngày đêm rình rập hại nàng.”
Sự nhẫn nhịn ba năm qua nơi thôn dã, dưỡng thương, tích lũy lực lượng, thu thập chứng cứ… tất cả đã đến hồi kết thúc. Chàng vốn muốn làm một nông phu bình lặng, nhưng lũ gian thần kia lại dám giương vuốt sắc về phía người con gái mà chàng trân quý hơn cả tính mạng.
Vậy thì, chàng sẽ trở lại làm vị Chiến thần sa trường, dùng đao kiếm và sấm sét để dẹp sạch bầu trời u ám cho nàng!
“Đi theo ta.” Tiêu Lập nắm tay nàng, sải bước đi về phía căn nhà gỗ nhỏ biệt lập nơi bìa rừng Lạc Nhạn.
Bên trong căn nhà gỗ thơm mùi gỗ thông, Tiêu Lập bước tới góc phòng, đẩy chiếc tủ thuốc bằng gỗ mun sang một bên, để lộ ra một cánh cửa sập dẫn xuống căn hầm bí mật. Từ dưới hầm, chàng mang lên một chiếc hòm lớn bằng gỗ lim viền đồng, trên mặt hòm khắc hình mãnh hổ gầm vang.
“Cạch.”
Khóa đồng mở ra. Nắp hòm từ từ nâng lên.
Nhược Lam khẽ nín thở.
Nằm gọn bên trong chiếc hòm là một bộ chiến giáp bằng bạc nguyên chất, từng phiến giáp được rèn tinh xảo, tỏa ra ánh sáng lạnh lẽo, uy nghiêm và cổ kính. Chiếc áo choàng bằng gấm đỏ thẫm gấp gọn gàng bên cạnh, cùng thanh trường kiếm Trảm Mã Đao đen nhánh đã từng nhuốm máu hàng vạn quân thù nơi biên ải.
Ở góc hòm, một khối huyền thiết khắc hình Bạch Hổ nằm lặng lẽ – Binh phù Trấn Bắc quân, thứ có thể điều động mười vạn thiết kỵ Đại Ninh trong chớp mắt. Và bên cạnh binh phù, là một xấp dày những bức mật thư, sổ sách được phong ấn bằng sáp đỏ.
Tiêu Lập cởi bỏ chiếc áo chàm thô mộc, để lộ thân hình vạm vỡ như tượng đồng hun với những vết sẹo trận mạc chằng chịt – minh chứng cho những năm tháng vào sinh ra tử bảo vệ giang sơn. Chàng cầm lấy từng mảnh giáp bạc, động tác thuần thục và trang nghiêm như đang thực hiện một nghi lễ thiêng liêng.
Nhược Lam bước tới, không nói một lời, lặng lẽ cầm lấy chiếc đai lưng nẹp bạc nạm ngọc bích, vòng tay qua eo chàng, cẩn thận cài chốt lại cho ngay ngắn. Nàng vuốt phẳng những nếp gấp trên chiếc áo choàng đỏ thẫm, ngước mắt lên nhìn chàng.
Một Tiêu Lập hoàn toàn khác.
Không còn là chàng thợ săn ít nói hay ngồi bên bậu cửa bẻ bắp ngô, mà là Trấn Bắc Đại Tướng quân Tiêu Triệt khí phách hiên ngang, uy chấn thiên hạ, ánh mắt lạnh lùng như sương tuyết nghìn năm, thân hình sừng sững như vách núi che chở cả đất trời.
Nhưng khi ánh mắt chàng nhìn xuống nàng, lớp băng giá ấy lập tức tan chảy thành sự dịu dàng vô bờ bến.
“Trông ta thế nào?” Tiêu Lập khẽ mỉm cười, giọng nói trầm ấm.
Nhược Lam cong khóe môi, vươn tay chỉnh lại chiếc cổ áo giáp cho chàng, giọng điệu mang theo vẻ tinh nghịch quen thuộc nhưng đáy mắt lại long lanh ánh nước:
“Rất oai phong. Đẹp trai hơn lúc mặc áo chàm đi săn nhiều. Nhưng mà… ta vẫn thích bộ dạng chàng mặc áo vải thô, vác cuốc ra đồng cuốc đất cho ta hơn.”
Tiêu Lập bật cười, đưa bàn tay to lớn bao bọc lấy gò má mịn màng của nàng, ngón tay cái khẽ v**t v* bờ môi mềm mại: “Được. Đợi ta dẹp sạch lũ gian thần trên kim loan điện, đòi lại công đạo cho nàng, ta sẽ lập tức trở về. Khi ấy, nàng muốn ta cuốc bao nhiêu mẫu ruộng, ta liền cuốc bấy nhiêu.”
Nhược Lam ngẩng đầu, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào mắt chàng:
“Tiêu Triệt, chàng nhớ kỹ cho ta. Lũ tham quan Khương gia kia không đáng để chàng đánh đổi mạng sống. Chàng đi kinh thành, mang theo công lý, mang theo sự thật, nhưng nhất định phải mang cả một Tiêu Lập nguyên vẹn trở về đây. Ngô ngoài bãi sắp đến kỳ thụ phấn chéo đợt hai rồi, không có chàng phụ giúp, ta bận không xuể đâu đấy.”
Nghe lời dặn dò vừa chân thành vừa đậm chất “nông dân” ấy, trái tim Tiêu Lập như bị một dòng nước ấm rót đầy. Chàng cúi đầu, đặt lên trán nàng một nụ hôn sâu lắng, nóng bỏng như lời thề khắc cốt ghi tâm.
“Ta hứa với nàng.”
Tiêu Lập quay người, nhấc chiếc hòm mật phong chứa toàn bộ chứng cứ tội ác của Khương Thượng thư giao cho Hắc Lục, rồi bước ra khỏi nhà gỗ.
Bên ngoài, con chiến mã Ô Vân Đạp Tuyết – con thần mã đen tuyền bờm dài như mây đen, bốn vó trắng như tuyết – đã được dắt ra, hí vang một tiếng dài vang vọng núi rừng. Mười tên thiết vệ tinh nhuệ nhất của Trấn Bắc quân trong trang phục giáp đen đã tề tựu đông đủ, quỳ một gối nghênh đón chủ soái.
Tiêu Lập vung áo choàng đỏ, tung người nhảy lên lưng ngựa. Chiến bào giáp bạc dưới ánh mặt trời rực rỡ lóe lên những luồng hàn quang chói lòa. Chàng nhìn Nhược Lam lần cuối, gật đầu dứt khoát:
“Xuất phát!”
“Vù!”
Mười một kỵ binh như những tia chớp bạc xé toạc màn sương sớm, lao vun vút về hướng kinh thành Thạnh An bằng con đường dịch trạm khẩn cấp “Bát bách lý gia cấp”.
Suốt dọc đường phi ngựa ngày đêm không nghỉ, Tiêu Lập tận mắt chứng kiến thảm cảnh của sáu châu phương Bắc. Đất đai nứt nẻ thành từng kẽ nứt sâu hoắm, đồng ruộng trơ trọi chỉ còn gốc rạ cháy khô, xác gia súc chết khát phơi trắng bên vệ đường. Từng đoàn người đói rách dắt díu nhau đi trong tuyệt vọng, tiếng khóc than ai oán ngút trời.
Thế nhưng, các kho lương của nha môn địa phương lại đóng chặt cửa, dán niêm phong cẩn mật, trong khi các tửu lầu và thương thuyền của Khương gia lại âm thầm tuồn gạo cám pha trấu ra bán với giá cắt cổ một lượng bạc một đấu!
Càng nhìn thấy cảnh tượng ấy, sát khí trong ngực Tiêu Lập càng cuộn trào như núi lửa chực phun trào. Lũ sâu mọt chốn đình đài kia, vì lòng tham không đáy mà sẵn sàng giẫm đạp lên sinh linh của hàng vạn con người, lại còn trơ tráo dùng cái chết của bá tánh để làm bàn đạp thanh trừng kẻ vô tội!
Hai ngày một đêm, ngựa thay ba lần tại các dịch trạm bí mật, đoàn kỵ binh giáp bạc đã vượt ngàn dặm xa xôi, áp sát cổng thành Thạnh An khi ánh bình minh của ngày đại triều vừa le lói.
*
Điện Kim Loan.Nơi quyền lực tối cao của Đại Ninh vương triều, hàng trăm cây cột gỗ lim thếp vàng sừng sững nâng đỡ mái vòm chạm trổ rồng bay phượng múa. Lư hương trầm nghi ngút tỏa khói, nhưng không khí bên trong đại điện lại ngột ngạt và lạnh lẽo đến thấu xương.
Trên ngai vàng cửu ngũ chí tôn, Ninh Viễn Đế – vị hoàng đế ngoài ngũ tuần với khuôn mặt hốc hác, đôi mày nhíu chặt – đang mệt mỏi nghe các quan viên tấu trình. Đại hạn ba tháng nay khiến ngân khố cạn kiệt, sớ tấu xin cứu trợ từ sáu châu phương Bắc chất cao như núi, mà nạn dân thì ngày một đông, bạo loạn chực chờ bùng phát.
Đúng lúc đó, Khương Thượng thư trong bộ triều phục nhất phẩm đỏ thẫm, tay cầm hốt ngà, từ tốn bước ra khỏi hàng quan lại. Lão quỳ mọp xuống nền ngọc, giọng nói run rẩy đầy bi phẫn nhưng khóe môi lại khẽ nhếch lên một nụ cười đắc ý:
“Khởi bẩm Hoàng thượng! Vi thần có việc hệ trọng liên quan đến an nguy xã tắc, không thể không tấu!”
Ninh Viễn Đế xoa thái dương, uể oải phất tay: “Khương ái khanh có việc gì, bình thân rồi nói.”
Khương Thượng thư dập đầu một cái thật kêu, nước mắt lưng tròng, diễn một màn “đại nghĩa diệt thân” xuất thần nhập hóa:
“Hoàng thượng vạn tuế! Mấy tháng nay phương Bắc đại hạn, triều đình dốc lòng cứu tế nhưng tình hình vẫn nguy khốn. Vi thần vừa nhận được mật báo khẩn cấp từ huyện Vân Khê: Nghịch nữ Khương Nhược Lam – đứa con gái bất hiếu từng bị Khương gia trục xuất vì tâm thuật bất chính – nay đang cấu kết với các thế lực mờ ám nơi sơn dã, tự ý mở năm gian đại kho lương, tích trữ hơn vạn thạch lương thảo bất hợp pháp!”
Cả triều đình xôn xao. Các quan viên đưa mắt nhìn nhau, tiếng bàn tán nổi lên như ong vỡ tổ.
Khương Thượng thư ngẩng đầu lên, giọng nói đanh thép, từng lời như nhát dao đoạt mạng:
“Một thôn nữ nghèo hèn, lấy đâu ra vạn thạch lương thảo nếu không phải là ngầm cấu kết với giặc ngoài tích trữ quân lương?! Đáng sợ hơn nữa, ả dùng số lương thảo đó mua chuộc lòng người, tụ tập hơn một vạn lưu dân hung hãn quanh vùng núi Lạc Nhạn, tự xưng là ‘Khương Tiên Cô’! Dân chúng quanh vùng u mê chỉ biết đến Tiên cô mà không biết đến thiên tử! Đây rõ ràng là hành vi mượn danh cứu đói để mưu đồ xưng hùng tạo phản, họa loạn giang sơn!”
Lão dâng cao bản tấu sớ, dập đầu thảm thiết: “Vi thần tuy là phụ thân của ả, nhưng trước đại nghĩa quốc gia, tuyệt đối không dám bao che! Vi thần đã phái cấm quân hỏa tốc tới bắt giữ nghịch nữ. Cúi xin Hoàng thượng lập tức hạ chỉ tru di tam tộc kẻ phản nghịch, tịch thu toàn bộ kho lương và điền trang phản loạn sung công quỹ, để răn đe kẻ gian, ổn định lòng dân!”
Ninh Viễn Đế nghe vậy, sắc mặt lập tức biến đổi, cơn giận dữ bốc lên ngùn ngụt: “To gan! Một đứa thứ nữ bị phế truất mà dám làm loạn đến mức này sao?! Tích trữ quân lương, mưu đồ xưng vương nơi biên ải, đây là tội chém đầu!”
Phe cánh của Khương Thượng thư lập tức bước ra phụ họa:
“Hoàng thượng anh minh! Khương Thượng thư đại nghĩa diệt thân, thật là tấm gương sáng của triều đình!”
“Xin Hoàng thượng hạ chỉ xử trảm thị chúng nghịch nữ Khương Nhược Lam!”
Đúng lúc Ninh Viễn Đế chuẩn bị vung bút phê chuẩn, Khâm sai đại thần Tề Hoằng – người vừa từ Phủ thành Vân Châu cấp tốc trở về kinh – vội vã bước ra khỏi hàng, quỳ sụp xuống:
“Hoàng thượng! Xin người hãy khoan hạ chỉ! Vi thần vừa từ Vân Châu trở về, việc này có uẩn khúc tày trời!”
Khương Thượng thư liếc xéo Tề Hoằng, cười lạnh: “Tề Khâm sai, ngươi muốn bao che cho kẻ phản nghịch sao? Ngươi có biết tội đồng lõa là gì không?!”
Tề Hoằng không thèm nhìn lão, ngẩng cao đầu dõng dạc tấu: “Hoàng thượng! Khương Nhược Lam tuyệt đối không mưu phản! Nàng là một kỳ tài nông học, vạn thạch ngô ngọt kia là do chính tay nàng cải tạo đất sỏi đá, sáng chế kỹ thuật tưới tiêu mà bội thu! Khi hạn hán ập đến, các quan viên địa phương đóng cửa kho lương, duy chỉ có nàng mở kho nấu cháo phát chẩn, cứu sống hàng vạn nạn dân vô tội! Bá tánh gọi nàng là Tiên cô vì lòng biết ơn, chứ tuyệt đối không có dã tâm xưng vương! Khương Thượng thư đây là muốn vu oan giá họa để cướp đoạt bí phương nông nghiệp và sản nghiệp của nàng!”
“Câm miệng!” Khương Thượng thư quát lớn: “Một đứa con gái hai mươi ba tuổi thì biết gì về nông học?! Ngươi nói ả tự trồng được vạn thạch lương thực trên đất sỏi đá, ai tin được?! Hoàng thượng, xin người chớ nghe lời xúi giục của kẻ gian…”
“Ầm!”
Một tiếng động kinh thiên động địa bỗng nhiên vang lên từ phía cổng chính của điện Kim Loan!
Tiếng kim loại va đập dữ dội, kèm theo tiếng thét kinh hoàng của thị vệ canh điện:
“Có người xông vào điện! Mau ngăn lại… A!”
“Keng! Keng! Rầm!”
Cánh cửa gỗ dát vàng nặng ngàn cân của điện Kim Loan bị một lực đạo kinh hồn đẩy bật ra hai bên, đập mạnh vào tường gạch phát ra tiếng vang đinh tai nhức óc. Ánh nắng rực rỡ buổi sớm từ bên ngoài tràn vào đại điện, chiếu rọi một bóng hình cao lớn sừng sững như thiên thần giáng thế.
Toàn bộ văn võ bá quan giật nảy mình, đồng loạt quay đầu lại.
Dưới ánh mặt trời chói lòa, một nam nhân thân khoác chiến bào giáp bạc sáng loáng, áo choàng đỏ thẫm tung bay phần phật theo từng bước chân. Đôi ủng hộ tâm bằng da trâu nện trên nền ngọc phát ra những tiếng “cộp, cộp” nặng nề, dứt khoát, mang theo uy áp sát phạt ngút trời của một bậc chiến thần vừa bước ra từ biển máu sa trường.
Mũ giáp bạc che nửa khuôn mặt, nhưng đôi mắt sắc như chim ưng cùng khí thế bức người kia lập tức khiến cả đại điện rơi vào một sự im lặng chết chóc. Hàng trăm thị vệ cấm quân cầm giáo đứng quanh run rẩy, không một ai dám tiến lên cản bước chàng.
Khi bóng người ấy bước qua ngưỡng cửa, tiến vào giữa đại điện, ánh sáng rọi rõ dung mạo cương nghị, góc cạnh như tạc bằng đá hoa cương.
Ninh Viễn Đế đang ngồi trên ngai vàng bỗng nhiên run rẩy đứng bật dậy, hai mắt trợn tròn, chén trà ngọc trên tay rơi xuống vỡ tan tành trên bậc thềm:
“Ngươi… Ngươi là…”
Khương Thượng thư nhìn thấy khuôn mặt ấy, đồng tử co rút lại đến cực hạn, toàn thân cứng đờ như bị sét đánh ngang tai, miệng lắp bắp không thành tiếng:
“Tiêu… Tiêu Triệt?! Ngươi… Ngươi chưa chết sao?!”
Tiêu Lập – hay chính là Trấn Bắc Đại Tướng quân Tiêu Triệt – không thèm liếc nhìn Khương Thượng thư lấy nửa phần. Chàng sải bước tới trước ngự tiền, một gối quỳ xuống, áo giáp bạc va chạm leng keng dứt khoát:
“Mạt tướng Trấn Bắc Đại Tướng quân Tiêu Triệt, tham kiến Hoàng thượng! Ngô hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”
Giọng nói trầm hùng vang vọng khắp các xà nhà của điện Kim Loan, như một hồi chuông đồng giáng thẳng vào tâm can của tất cả mọi người.
“Trấn Bắc Đại Tướng quân còn sống! Vị thần hộ quốc của Đại Ninh còn sống!” Một vị lão tướng quân râu tóc bạc phơ kích động run rẩy, nước mắt trào ra.
Ninh Viễn Đế bước xuống ba bậc thềm ngọc, giọng nói nghẹn ngào vì kinh ngạc lẫn vui mừng: “Tiêu ái khanh! Ngươi… Ba năm trước trận huyết chiến Nhạn Môn Quan, Binh bộ báo ngươi trúng độc tử trận, thi thể rơi xuống vực sâu… Ngươi thực sự còn sống sao?!”
“Tạ ơn Hoàng thượng lo lắng, mạt tướng mạng lớn, được người cứu giúp, dưỡng thương ba năm nơi sơn dã, nay mới có thể trở về diện thánh!” Tiêu Triệt đứng thẳng dậy, thân hình cao lớn uy nghiêm bao trùm cả đại điện.
Chàng bỗng quay ngoắt lại, ánh mắt như hai lưỡi dao sắc lạnh ghim thẳng vào khuôn mặt đang cắt không còn giọt máu của Khương Thượng thư.
“Thế nhưng, mạt tướng vừa trở về kinh thành, liền nghe thấy có kẻ đang dùng chiếc lưỡi không xương của mình để đổi trắng thay đen, vu oan cho ân nhân cứu mạng của ta, hãm hại người có công cứu giúp hàng vạn nạn dân vô tội!”
Khương Thượng thư lùi liền mấy bước, mồ hôi lạnh vã ra như tắm, giọng nói run rẩy: “Tiêu… Tiêu Tướng quân, ngươi nói bậy gì đó?! Khương Nhược Lam tích trữ quân lương, mưu đồ tạo phản, chứng cứ rõ ràng…”
“Chứng cứ rõ ràng?!”
Tiêu Triệt cười lạnh một tiếng, nụ cười tràn ngập vẻ khinh miệt và sát khí. Chàng vung tay, Hắc Lục lập tức bước vào điện, mang theo chiếc hòm sắt nặng trịch ném thẳng xuống nền ngọc trước mặt Khương Thượng thư!
“Rầm!”
Chiếc hòm mở toang, hàng chục cuộn sổ sách, thư từ mật phong rơi lả tả trên mặt đất.
Tiêu Triệt rút một bức thư được niêm phong bằng sáp đỏ có dấu ấn hoa sói của Bắc Địch, giơ cao trước mặt bá quan văn võ, giọng nói đanh thép vang như sấm truyền:
“Khương Thượng thư! Ba năm trước tại Nhạn Môn Quan, ai là kẻ đã bí mật gửi bức thư này cho Thống soái Bắc Địch, tiết lộ tuyến đường hành quân của Trấn Bắc quân, khiến mười vạn thiết kỵ của ta bị mai phục trong hẻm núi tuyết, bản thân ta trúng Băng Phách Hàn Độc suýt mất mạng?!”
“Oanh!”
Lời vừa dứt, cả triều đình như nổ tung! Thông đồng với ngoại bang, bán đứng quân đội quốc gia – đây là tội phản quốc tru di cửu tộc!
Khương Thượng thư ngã quỵ xuống đất, mặt xám ngoét: “Vu cáo! Đây là vu cáo! Lão thần một lòng vì nước…”
“Vu cáo sao?!” Tiêu Triệt bước tới một bước, chân dẫm lên tà áo triều phục của lão, rút ra một tập sổ sách dày cộp ném thẳng vào mặt lão:
“Vậy số bạc này thì sao?! Trong ba tháng qua, triều đình cấp mười vạn thạch lương thực và hai mươi vạn lượng bạc cứu tế cho sáu châu phương Bắc. Ngươi cùng đồng đảng trong Binh bộ và Hộ bộ đã cấu kết với nhau, bòn rút hơn bảy vạn thạch lương thực, vận chuyển về các kho tư nhân của Khương gia, rồi bán ra chợ đen với giá cắt cổ một lượng bạc một đấu! Từng chuyến xe, từng con thuyền, từng chữ ký nhận bạc của quản gia Khương phủ các ngươi đều nằm rõ ràng trong cuốn sổ cái này!”
Tiêu Triệt quay sang Ninh Viễn Đế, chắp tay dõng dạc tấu:
“Khởi bẩm Hoàng thượng! Ngoài kia, hàng vạn bá tánh phương Bắc vì không có một hạt gạo cứu tế mà phải ăn rễ cây, vỏ trấu, chết đói la liệt khắp các ngả đường! Trong khi đó, kho bạc ngầm của Khương phủ lại chất đầy bạc trắng thấm máu của dân nghèo! Lũ sâu mọt này sợ Khâm sai Tề Hoằng mang sổ sách về hạch tội, sợ việc biển thủ bại lộ, nên mới đê tiện dựng chuyện, vu oan cho Khương Nhược Lam tội mưu phản!”
Từng lời, từng chữ của Tiêu Triệt như những nhát búa ngàn cân nện thẳng vào sự thật tr*n tr**. Các quan lại trong triều kinh hoàng nhìn đống sổ sách và chứng từ rơi vãi, không một ai dám hé răng nửa lời.
Tiêu Triệt ngẩng cao đầu, ánh mắt tràn đầy sự kiêu hãnh và yêu thương khi nhắc đến người con gái nơi thôn dã:
“Khương Nhược Lam bị Khương phủ ruồng bỏ, tay trắng về quê cũ thôn Lạc Diệp. Nàng dựa vào đôi bàn tay lao động chân chính, dùng tri thức nông học cải tạo đất chua phèn, gieo trồng giống ngô ngọt mới chịu hạn phi thường, dẫn nước suối nuôi dưỡng mùa màng! Khi đại hạn ập đến, nha môn đóng cửa, chính nàng đã mở năm gian kho lương tích cóp của mình, ngày đêm nấu cháo cứu sống hơn một vạn nạn dân chạy nạn!”
Chàng rút từ trong ngực áo ra một chiếc khăn tay bọc cẩn thận, mở ra để lộ một bắp ngô hạt vàng óng ánh như ngọc, to lớn và căng mọng gấp ba lần ngô bình thường, cùng một tờ biểu vạn dân được ký bằng hàng ngàn dấu tay điểm chỉ đỏ chót:
“Đây là ngô ngọt do nàng tự tay lai tạo giống! Đây là biểu vạn dân do hơn một vạn nạn dân phương Bắc rơi nước mắt điểm chỉ cảm tạ! Một người con gái nhân từ, dùng trí tuệ cứu sống vạn dân, gánh vác việc cứu trợ mà triều đình và lũ tham quan này bỏ bê, vậy mà dưới miệng lưỡi của Khương Thượng thư lại biến thành nghịch tặc mưu phản sao?!”
Tiêu Triệt quỳ một gối, dâng bắp ngô và biểu vạn dân lên quá đầu, giọng nói vang vọng khắp đại điện:
“Nếu một người cứu sống vạn dân như nàng bị coi là có tội, thì Tiêu Triệt ta xin dâng trả lại Binh phù Bạch Hổ này, cùng nàng chịu tội chém đầu!”
Lời tuyên bố đanh thép, hùng hồn và ngập tràn khí phách che chở ấy khiến toàn bộ triều đình chấn động tâm can.
Nội thị run rẩy mang tập sổ sách, bức thư mật và biểu vạn dân dâng lên ngự án.
Ninh Viễn Đế lật từng trang sổ sách, nhìn những con số biển thủ lương cứu tế kinh hoàng, nhìn bức thư có dấu ấn riêng của Khương Thượng thư gửi cho Bắc Địch, rồi nhìn sang biểu vạn dân chi chít vết máu và dấu tay của bá tánh cơ hàn.
Sắc mặt của bậc đế vương từ tái nhợt chuyển sang đỏ gay, rồi tím bầm vì một cơn thịnh nộ chưa từng có trong lịch sử triều Ninh. Ngực người phập phồng dữ dội, gân xanh trên trán nổi lên cuồn cuộn.
“Rầm!”
Một tiếng nổ kinh hoàng vang lên!
Ninh Viễn Đế vung long bào, đập nát chiếc nghiên mực bằng ngọc bích thượng hạng trên ngự án xuống đất vỡ tan tành thành muôn mảnh, mực đen văng tung tóe khắp thềm rồng!
Người đứng bật dậy, chỉ thẳng long chỉ vào mặt Khương Thượng thư đang nằm rạp dưới đất, tiếng gầm vang như sấm sét xé toạc bầu trời đại điện:
“Lũ sâu mọt hại nước hại dân! Lũ nghịch tặc to gan lớn mật! Trẫm coi ngươi là trọng thần tâm phúc, giao phó kho lương cứu tế muôn dân, vậy mà ngươi dám thông đồng ngoại bang, bòn rút mồ hôi nước mắt của nạn dân, đẩy hàng vạn con dân của trẫm vào chỗ chết đói chết rét!”
Ninh Viễn Đế tức giận đến mức toàn thân run rẩy, giọng nói rít qua kẽ răng mang theo sát khí ngút trời:
“Người đâu! Lập tức l*t s*ch mũ áo, tước bỏ toàn bộ phẩm phục nhất phẩm của Khương Trọng Hoa! Phái Cấm quân phong tỏa toàn bộ Thượng thư phủ, bắt giam toàn bộ gia quyến Khương thị không chừa một ai, tống vào thiên lao trọng phạm chờ ngày xét xử! Giao vụ án này cho Trấn Bắc quân và Đại Lý Tự đồng thẩm tra xét, kẻ nào dính líu, chém không tha!”
“Hoàng thượng tha mạng! Hoàng thượng tha mạng! Lão thần bị oan…” Khương Thượng thư gào thét thảm thiết, nhưng chiếc mũ cánh chuồn và áo gấm trên người lão đã bị thị vệ cấm quân thô bạo lột phăng ra. Lão bị lôi kéo xềnh xệch ra khỏi đại điện như một con chó chết trong sự khinh bỉ của toàn thể triều thần.
Giữa đại điện ngập tràn ánh nắng ban mai, Tiêu Triệt đứng thẳng người dậy. Chiến bào giáp bạc của chàng tỏa sáng rực rỡ, uy phong lẫm liệt không một hạt bụi trần.
Chàng khẽ đưa mắt nhìn về phương Nam xa xôi – nơi có thung lũng Lạc Diệp xanh ngắt, có những bắp ngô vàng óng trĩu cành, và có người con gái đang mỉm cười chờ chàng trở về. Giông bão kinh thành đã tan, bầu trời công lý đã rạng rỡ trở lại.