Nữ Phụ Pháo Hôi Chỉ Muốn Trồng Trọt

Chương 16: Khương Tiên Cô Mở Kho Cứu Nạn Dân

Tiếng then cài bằng gỗ nghiến nặng trịch vang lên một tiếng “cạch” khô khốc, xé toạc bầu không khí ngột ngạt dưới cái nắng đổ lửa của buổi trưa hè.

Cánh cửa gỗ dày cộp của năm gian nhà kho ngô dự trữ thuộc Tổ hợp tác thôn Lạc Diệp đồng loạt mở toang. Bên trong, từng chồng ngô bắp vàng ruộm, hạt mẩy tròn căng bóng đã được phơi khô qua ba con nắng, xếp cao ngất ngưởng chạm tận xà nhà, tỏa ra mùi thơm ngai ngái, ngọt lành đặc trưng của ngũ cốc no nắng gió. Đó là thành quả của bao nhiêu mồ hôi nước mắt, là mồ hôi của mấy mươi hộ dân chắt chiu từ đợt đại hạn đầu vụ, giờ đây phơi mình rực rỡ dưới ánh mặt trời như những kho báu bằng vàng ròng chốn nhân gian.

Dưới chân đồi, hàng ngàn nạn dân đang quỳ rạp, mặt mày lem luốc bùn đất và tro bụi, ánh mắt trũng sâu vì đói khát bỗng chốc đờ đẫn ra. Trong khoảnh khắc nhìn thấy những núi ngô vàng ươm tầng tầng lớp lớp ấy, không ít người đã run rẩy đưa tay dụi mắt, ngỡ mình vừa trông thấy ảo ảnh giữa cơn mê sảng trước lúc chết đói.

“Mở kho! Xuất lương!”

Tiếng hô vang rền của Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu như một mồi lửa châm vào đống bổi khô, đánh thức toàn bộ dân làng Lạc Diệp thoát khỏi cơn sững sờ. Tam Thúc quệt vội giọt mồ hôi chảy ròng ròng trên gò má sạm đen, hai bắp tay gân guốc thoăn thoắt vác từng bao tải ngô lớn chất lên xe cút kít.

“Mấy đứa nhỏ đâu, mau phụ một tay! Đừng để Lam nha đầu phải bận lòng!” Tam Thúc quay đầu quát lớn, giọng khàn đặc nhưng ánh mắt lại ngời lên ngọn lửa nhiệt huyết chưa từng thấy.

Ở phía bên kia, Tam Thẩm Lý thị đã dắt theo hàng chục phụ nữ trong thôn túa ra bờ suối cạn. Mười chiếc vạc gang sâu lòng – vốn dùng để luộc kén tằm và nấu cao dực – nay được kê chắc chắn trên những kiềng đá hoa cương dã chiến. Củi khô từ rừng thông Lạc Nhạn được chuyển đến nườm nượp, tiếng rìu bổ củi chan chát hòa cùng tiếng lửa bén reo tí tách. Nước suối ngọt lành, trong vắt được dẫn trực tiếp từ mạch ngầm trên núi qua hệ thống ống tre của Tiêu Lập cuồn cuộn đổ vào vạc lớn, nhanh chóng sôi sục, bốc lên những làn hơi nghi ngút xua tan cái oi nồng bức bối.

Nhược Lam không hề đứng yên chỉ tay năm ngón. Nàng xắn cao ống tay áo vải thô màu nâu nhạt, vạt áo buộc gọn ghẽ ngang hông, để lộ dáng người mảnh mai nhưng nhanh nhẹn phi thường. Nàng thoăn thoắt đi lại giữa các lán trại tạm, trực tiếp phân loại nguyên liệu nấu cháo.

“Tam Thẩm! Không chỉ nấu ngô đơn thuần!” Nhược Lam cất giọng trong trẻo, át cả tiếng củi nổ lách tách. “Ngô ngọt này đem giã vỡ hạt ra cho nhanh nhừ, cứ ba phần ngô thì trộn thêm một phần đậu tương ngâm mềm, rắc thêm một vốc muối khoáng từ hũ sành kia vào! Nạn dân đi đường dài dưới nắng gắt, mồ hôi thoát hết, tạng phủ kiệt quệ, nếu chỉ cho ăn cháo suông loãng thì ruột gan họ không chịu nổi đâu, phải có đậu tương bồi bổ khí lực, có muối giữ nước trong người thì mới giữ được mạng!”

Tam Thẩm nghe vậy, hai tay thoăn thoắt đổ thúng đậu tương mẩy tròn đã ngâm nở vào cối đá, miệng liên tục vâng dạ: “Con yên tâm! Thẩm hiểu rồi! Cháo này nấu lên vừa thơm ngọt lại vừa bùi béo, đến người khỏe ăn vào còn thấy tỉnh cả người, huống chi là bà con đói lả ngoài kia!”

Mùi ngô ngọt vỡ hạt gặp nước sôi bùng lên một làn hương thơm ngào ngạt, quyện lẫn vị béo ngậy của đậu tương chín tới và mùi củi thông the the. Làn khói trắng mang theo hương vị của sự sống lượn lờ bay là đà trên mặt đất, lan tỏa khắp sườn đồi, bay thẳng về phía đám đông đang đói lả. Vô số tiếng nuốt nước bọt ực ực vang lên nghẹn ngào giữa đám người tị nạn; những cặp mắt dại đi vì đói bỗng ánh lên một tia sáng mãnh liệt, tia sáng của khát vọng được sống sót.

Bản năng sinh tồn trỗi dậy mãnh liệt, đám đông hàng ngàn người bắt đầu có dấu hiệu xao động. Những bước chân run rẩy bắt đầu lảo đảo bước tới, những cánh tay trơ xương giơ lên, tiếng kêu khóc, chen lấn bắt đầu râm ran như một đợt sóng ngầm sắp vỡ bờ:

“Cho tôi một bát... Làm ơn cho con tôi một hớp cháo...”

“Tránh ra! Để ta lên trước! Ta sắp chết đói rồi!”

Nguy cơ giẫm đạp và bạo loạn chực chờ bùng nổ chỉ trong chớp mắt. Nhưng ngay khoảnh khắc một gã đàn ông lực lưỡng định xô ngã hàng rào cọc tre để lao vào nồi cháo, một bóng đen cao lớn tựa ngọn núi sừng sững bỗng chắn ngang trước mặt gã.

“Rầm!”

Một tiếng động nặng nề vang lên. Tiêu Lập chỉ khẽ vung một cánh tay, gã đàn ông kia đã ngã ngồi phịch xuống đất, trượt dài một trượng, đất cát văng tung tóe nhưng thân thể không hề bị thương tổn nghiêm trọng. Tiêu Lập đứng đó, chiếc áo chẽn thô màu đen bó sát lồng ngực vạm vỡ, hai cánh tay cuồn cuộn cơ bắp khoanh trước ngực, sau lưng đeo cây cung săn bằng gỗ mun đen nhánh. Đôi mắt đại bàng của chàng sắc như lưỡi dao cạo, quét qua biển người hỗn loạn một lượt. Một luồng sát khí vô hình nhưng lạnh buốt xương tủy, tôi luyện từ mười vạn đống xương tàn nơi sa trường biên ải, lặng lẽ tỏa ra bao trùm khắp không gian.

Cả đám đông hàng ngàn người trong nháy mắt như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt cổ họng, lập tức im bặt. Ngay cả những đứa trẻ đang gào khóc cũng nín bặt, sợ hãi nép sâu vào lòng mẹ.

Tiêu Lập cất giọng, âm thanh trầm thấp nhưng vang xa như tiếng sấm rền giữa trời quang:

“Thôn Lạc Diệp mở kho cứu tế, là niệm tình đồng bào máu đỏ da vàng, chứ không phải mắc nợ các ngươi! Khương cô nương có lòng từ bi bồ tát, nhưng đao kiếm của Tiêu mỗ thì không có mắt! Kẻ nào dám bước qua lằn ranh này nửa bước, kẻ nào dám giẫm đạp lên người già và trẻ nhỏ, đừng trách mũi tên của ta xuyên thủng yết hầu!”

Dứt lời, chàng rút phắt một mũi tên lông ngỗng trên lưng, không cần ngắm nghía, ngón tay buông lỏng.

“Vút!”

Một tiếng xé gió rợn người vang lên. Mũi tên cắm phập xuống tảng đá xanh cách ngón chân gã đàn ông gây rối chỉ nửa tấc, cắm ngập sâu đến ba tấc đá, đuôi tên bằng lông chim ưng còn rung lên bần bật, phát ra tiếng vo vo ghê người.

Toàn trường lặng ngắt như tờ. Không một ai dám nghi ngờ lời nói của người đàn ông mang khí thế áp đảo này.

Nhược Lam nhìn bóng lưng vững chãi của Tiêu Lập, trong lòng dâng lên một dòng nước ấm áp lạ kỳ. Chàng luôn là như vậy, lời nói ít ỏi nhưng mỗi hành động đều dứt khoát, sừng sững như một bức tường thành kiên cố nhất, thay nàng gạt phăng mọi hiểm nguy, để nàng có thể toàn tâm toàn ý làm những điều nàng muốn.

Nàng khẽ mỉm cười, bước lên đứng cạnh chàng, giọng nói dịu dàng nhưng rõ ràng, lan tỏa khắp sườn đồi:

“Bà con đừng sợ! Thôn Lạc Diệp chúng tôi hôm nay mở trọn năm gian kho ngô, nước sôi lửa ấm không bao giờ tắt! Ai cũng sẽ có phần, tuyệt đối không để một ai phải nhịn đói rời khỏi đây! Nhưng trật tự phải giữ nghiêm! Đội hộ vệ, lập tức chia bà con thành từng tốp năm mươi người! Xếp hàng theo thứ tự: phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ dưới mười tuổi và người già trên sáu mươi tuổi tiến lên trước nhận cháo! Trai tráng khỏe mạnh ngồi yên tại chỗ chờ lượt!”

Lời hiệu triệu đầy tình người nhưng dứt khoát của nàng lập tức xoa dịu nỗi hoảng loạn. Dưới sự điều phối thiện chiến của Tiêu Lập và nhóm trai tráng trong thôn được chàng huấn luyện, dòng người tị nạn nhanh chóng tách ra, xếp thành những hàng dài ngay ngắn. Những ánh mắt hung hãn, tuyệt vọng ban nãy dần dần được thay thế bằng sự kinh cẩn và niềm hy vọng tràn trề.

Những bát cháo ngô ngọt đầu tiên được múc ra. Hạt ngô màu vàng tươi ninh nhừ nở bung như những cánh hoa cúc nhỏ, quyện chặt cùng đậu tương bùi béo sánh mịn, rải lên chút muối khoáng lấp lánh.

Bảo Nha lon ton bưng một bát cháo lớn còn nghi ngút khói, đôi bàn tay nhỏ nhắn cẩn thận trao cho một bé gái trạc tuổi mình đang gầy gò chỉ còn da bọc xương. Bé gái run rẩy đón lấy bát sành, nhìn Bảo Nha bằng ánh mắt không dám tin, rồi òa khóc nức nở, vùi đầu húp lấy húp để từng thìa cháo ngọt lịm. Vị ngọt thanh tao của ngô tươi nơi đầu lưỡi cùng hơi ấm lan tỏa xuống dạ dày khiến đứa trẻ run lên vì sung sướng.

Thế nhưng, khi những vạc cháo đang sôi sùng sục cứu vớt những chiếc dạ dày đói khát, Nhược Lam lại nhận ra một mối nguy cơ còn kinh khủng hơn cả cái đói đang rình rập.

Nàng đi dọc theo các hàng người, ánh mắt sắc sảo của một nhà khoa học nông nghiệp kiêm chuyên gia sinh học lập tức phát hiện ra những dấu hiệu bất thường. Rất nhiều người già và trẻ em môi khô nứt nẻ rớm máu, da dẻ nóng bừng như than hồng, mắt lờ đờ trắng dã. Ở góc xa dưới bóng râm của lùm tre, vài người đang ôm bụng quằn quại, hơi thở dồn dập, nôn mửa và đi ngoài ra nước vàng đục.

“Hỏng rồi! Là thử nhiệt công tâm và kiết lỵ cấp tính!” Nhược Lam thầm thốt lên trong lòng.

Những nạn dân này đã bôn ba hàng trăm dặm dưới ánh mặt trời thiêu đốt bốn mươi độ, dọc đường lại uống nước bùn đọng ở các hố cạn hôi thối để cầm hơi. Khí nóng uất kết trong cơ thể kết hợp với vi khuẩn tả lỵ trong nước bẩn đang bắt đầu bộc phát. Nếu không xử lý ngay lập tức, chỉ cần qua đêm nay, dịch kiết lỵ và say nắng sẽ cướp đi sinh mạng của hàng trăm người già và trẻ nhỏ, thậm chí biến nơi phát chẩn này thành một ổ dịch bệnh khổng lồ lan vào cả thôn Lạc Diệp!

“Hắc Lục! Mau lại đây!” Nhược Lam lập tức cất tiếng gọi lớn.

Một bóng người nhanh như cắt lướt tới. Hắc Lục – trong bộ trang phục vải gai của một gã lang băm thu mua thảo dược dạo – lập tức chắp tay cúi đầu: “Khương cô nương có gì sai bảo?”

“Toàn bộ số râu ngô vàng phơi khô thu hoạch từ ba mươi mẫu ruộng ngô vụ trước đâu rồi?”

“Dạ bẩm cô nương, râu ngô phơi khô được giữ kín trong ba mươi bao tải lớn ở gian chái đông, khô ráo không một hạt bụi!”

“Lấy hết ra đây cho ta!” Nhược Lam ra lệnh dứt khoát. “Đồng thời bảo người vào kho thuốc của huynh lấy toàn bộ kim ngân hoa khô, lá sen rừng và bạc hà dại ra đây! Kê thêm bốn chiếc vạc đồng lớn nhất ở đầu gió, đun nước sôi sùng sục lên!”

Dân làng Lạc Diệp và đám nạn dân xung quanh nghe thấy thế thì ngơ ngác nhìn nhau. Tam Thẩm đang múc cháo cũng ngẩng đầu lên, vẻ mặt đầy khó hiểu:

“Lam nha đầu à, râu ngô đó chẳng phải là thứ rơm rác bỏ đi khi bóc bắp sao? Bình thường người ta chỉ dùng để nhóm bếp hoặc cho trâu nhai đỡ đói, lấy ra nấu nước làm gì thế con?”

Một vài lão nông tị nạn ngồi gần đó cũng thì thào bàn tán: “Đúng đấy... từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, tôi chỉ nghe nói ăn hạt ngô, chứ râu ngô xơ xác thế kia, uống vào khéo lại tắc ruột...”

Nhược Lam nghe vậy chỉ khẽ cười, bàn tay thoăn thoắt xé mở bao tải râu ngô khô thơm nức mùi nắng. Nàng bốc một nắm râu ngô màu nâu vàng óng ánh giơ lên trước mặt mọi người, giọng điệu tự tin, rành rọt như một vị danh y am tường dược lý:

“Bà con không biết đấy thôi! Hạt ngô là ngọc thực nuôi thân, nhưng râu ngô này mới chính là vị thuốc trời ban! Trong nông y, râu ngô tính bình, vị ngọt, đi thẳng vào kinh thận và bàng quang. Nó có công năng thanh nhiệt trừ thấp, lợi tiểu tiêu thũng, bình can chỉ khát cực kỳ thần hiệu! Nạn dân đi nắng cháy ruột cháy gan, tạng thận ứ trệ, độc tố tích tụ không thoát ra được bằng đường mồ hôi thì phải dùng râu ngô để thông tiểu tống độc! Lại thêm kim ngân hoa giải độc đường ruột, lá sen hạ sốt tiêu thử, bạc hà thông khiếu tán nhiệt. Nồi nước này uống vào, bảo đảm tà khí trong người tiêu tan, chặn đứng chứng kiết lỵ và hôn mê do nắng nóng!”

Những kiến thức y học cổ truyền kết hợp với cơ chế sinh hóa hiện đại được Nhược Lam diễn giải bằng thứ ngôn ngữ thôn dã, mộc mạc nhưng chặt chẽ lạ lùng, khiến cho Hắc Lục – kẻ vốn là một cao thủ dùng độc và giải độc của Trấn Bắc quân – cũng phải trố mắt kinh ngạc, trong lòng thầm bái phục sát đất.

“Còn ngây ra đó làm gì? Mau châm lửa đun nước!” Tiêu Lập cất giọng trầm thấp, cắt ngang sự sững sờ của thuộc hạ.

Hắc Lục giật bắn mình, lập tức dẫn người khiêng từng bao râu ngô trút vào vạc nước sôi. Chỉ một lát sau, một mùi thơm thanh mát, dịu ngọt tựa như mùi sương sớm trên đồng cỏ thoang thoảng bay ra, át đi mùi mồ hôi chua nồng và xú uế của khu lán trại. Nước râu ngô khi sôi kỹ chuyển sang màu vàng hổ phách trong vắt, sóng sánh như mật ong loãng.

Nhược Lam đích thân múc một gáo gỗ lớn nước râu ngô còn ấm nóng, rắc thêm vài hạt muối hạt, rồi bước đến trước mặt một người mẹ trẻ đang tuyệt vọng ôm đứa con trai chừng năm tuổi sốt li bì, co giật từng cơn.

“Để ta xem đứa bé.” Giọng Nhược Lam mềm mại như làn gió xuân.

Người mẹ trẻ ngẩng khuôn mặt đẫm lệ, run rẩy nhìn nàng như nhìn thấy một cọng rơm cứu mạng duy nhất: “Cầu xin cô nương... con tôi không thở nổi nữa rồi... trời ơi phật sống ơi cứu lấy con tôi...”

Nhược Lam đỡ lấy đứa trẻ, đặt đầu bé tựa vào đùi mình. Nàng dùng khăn sạch nhúng nước ấm lau mát vùng trán, nách và bẹn cho đứa trẻ để hạ nhiệt vật lý, sau đó cẩn thận dùng thìa tre nhỏ, kiên nhẫn bón từng ngụm nước râu ngô vàng óng vào khóe môi khô khốc nứt nẻ của đứa bé.

Dòng nước thanh ngọt, mát lành thấm đượm vào cuống họng cháy bỏng. Ban đầu đứa trẻ chỉ nuốt theo phản xạ vô thức, nhưng chỉ sau vài thìa, vị ngọt thanh khiết dường như đánh thức sinh cơ trong cơ thể nhỏ bé. Đứa trẻ bắt đầu tự m*t lấy thìa, nuốt ừng ực.

Chưa đầy nửa canh giờ sau, một tiếng thở dài nhẹ nhõm vang lên từ lồng ngực đứa bé. Những cơn co giật dừng hẳn, mồ hôi trộm li ti bắt đầu toát ra trên trán mang theo hơi nóng độc hại, đôi má tái nhợt dần hồng hào trở lại, đôi mắt từ từ hé mở, yếu ớt gọi: “Mẹ ơi... con khát...”

“Sống rồi! Con tôi sống lại rồi!” Người mẹ trẻ ôm chầm lấy đứa con, quỳ rạp xuống nền đất nấc nghẹn từng cơn, vừa khóc vừa dập đầu lia lịa trước mặt Nhược Lam: “Tạ ơn bồ tát cứu mạng! Tạ ơn bồ tát tái sinh!”

Cảnh tượng kỳ diệu ấy diễn ra ngay trước mắt hàng ngàn con người. Những người già đang hôn mê sau khi được cho uống hai bát nước râu ngô ấm cũng dần tỉnh táo lại, bụng dạ hết quặn thắt, tiểu tiện thông suốt, sắc mặt từ xám ngoét chuyển sang tươi nhuận.

Một đợt dịch bệnh kinh hoàng đe dọa sinh mạng hàng ngàn người đã bị Nhược Lam hóa giải một cách êm thấm, nhẹ nhàng chỉ bằng những thứ tưởng chừng như rác rưởi vứt đi ngoài ruộng ngô!

Bầu không khí trong khu lán trại hoàn toàn biến đổi. Tiếng rên xiết đau đớn biến mất, thay vào đó là tiếng cười nói râm ran, tiếng xì xụp húp cháo ngon lành và mùi thơm ngào ngạt của ngũ cốc, thảo dược quyện trong không gian chiều tà.

Nhìn những vạc cháo vơi đi rồi lại đầy, nhìn hàng ngàn con người đã có lại chút sinh khí sau cơn bĩ cực, Tam Thúc Khương Vĩnh Cửu đứng bên cạnh Nhược Lam, vừa mừng rỡ lại vừa có chút âu lo, ghé tai nàng nói nhỏ:

“Lam nha đầu à, cháo thì cứu đói được hôm nay, ngày mai. Nhưng năm gian kho ngô này của chúng ta, dù có nhiều đến mấy thì nuôi cả vạn miệng ăn thế này, giỏi lắm cũng chỉ trụ được nửa tháng. Nửa tháng nữa hết lương thực, trời vẫn không mưa, đất đai vẫn khô cháy, thì đám nạn dân này biết đi đâu về đâu? Họ lại phải lang bạt rồi chết đói dọc đường sao con?”

Lời trăn trở của Tam Thúc cũng chính là nỗi niềm đau đáu trong lòng Nhược Lam từ lúc quyết định mở kho. Nàng đưa mắt nhìn ra xa xăm. Ngoài ranh giới thôn Lạc Diệp trù phú, những triền đồi ngút ngàn của huyện Vân Khê đang trơ trọi, nứt nẻ dưới nắng hạn, lúa má chết khô biến thành rơm rạ, đồng ruộng hoang tàn như bãi tha ma.

Nàng biết rõ, cho người ta một con cá chỉ giúp họ sống qua một ngày, nhưng dạy họ cách câu cá mới có thể nuôi sống họ cả một đời. Nàng là một tiến sĩ nông học, sứ mệnh của nàng không phải là làm một kẻ ban phát chẩn bần nhất thời rồi bất lực nhìn bá tánh chìm vào diệt vong. Sức mạnh của nàng nằm ở hạt giống, nằm ở mảnh đất, nằm ở khoa học canh tác có thể cải tạo cả càn khôn!

Nhược Lam hít một hơi thật sâu, ánh mắt nàng bừng sáng lên một quyết tâm sắt đá. Nàng quay sang Tam Thúc, cất giọng kiên định:

“Tam Thúc, thúc đi mở gian kho kín phía sau từ đường ra! Vác toàn bộ số bao tải gai có đánh dấu chữ đỏ ra đây cho cháu!”Tam Thúc trừng lớn mắt: “Đó... đó là số hạt giống ngô ngọt chịu hạn ngắn ngày mà vụ trước con cùng cả thôn chắt chiu lai tạo, chọn lọc từng bắp một đó sao? Cả thảy một vạn cân giống quý, con định...”

“Đúng vậy!” Nhược Lam gật đầu dứt khoát. “Cháu muốn đem toàn bộ một vạn cân hạt giống này chia cho bà con nạn dân!”

Tin tức ấy như một quả bom nổ tung giữa khu lán trại. Khi những bao tải hạt giống ngô được khiêng ra, xếp thành từng dãy dài trước lễ đài dựng tạm, toàn bộ hàng ngàn nạn dân đều sững sờ nín thở.

Khương Nhược Lam bước lên mô đất cao. Nắng chiều vàng rực buông xuống vai nàng, dát lên tà áo vải thô một vầng hào quang ấm áp, rực rỡ tựa như tiên nữ giáng trần giữa cõi hồng trần lầm than.

Nàng cất tiếng, giọng nói trong trẻo mà vang vọng, gieo vào lòng từng con người nơi đây một luồng sinh khí mới:

“Hỡi bà con phụ lão! Cháo ngô ngọt này có thể lấp đầy dạ dày các vị hôm nay, nhưng nó không thể nuôi sống gia đình các vị suốt đời! Ông trời làm đại hạn, cướp đi mùa màng của chúng ta, nhưng ông trời không cướp được đôi bàn tay và khối óc của con người! Mảnh đất dưới chân các vị dù có nứt nẻ, dù có khô cằn sỏi đá, nó vẫn là đất mẹ! Chỉ cần chúng ta biết cách gieo trồng, hạt mầm sẽ đâm chồi, sự sống sẽ hồi sinh!”

Nàng chỉ tay vào những bao hạt giống vàng óng:

“Đây là một vạn cân hạt giống ngô ngọt chọn lọc của thôn Lạc Diệp chúng tôi! Giống ngô này rễ ăn sâu gấp ba lần ngô thường, chịu hạn cực tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ cần hai tháng là trổ cờ đóng bắp! Hôm nay, ta không chỉ phát giống cho các vị, mà ta sẽ trực tiếp dạy cho các vị cách khiến cho đất chết phải nở hoa!”

Nói là làm, Khương Nhược Lam lập tức nhảy xuống mô đất, bước thẳng ra mảnh đồi sỏi đá cằn cỗi sát bìa rừng – nơi đất đai nứt toác từng rãnh sâu hoắm vì ba tháng không có một giọt mưa. Nàng cầm lấy một chiếc cuốc nhỏ cán ngắn, xắn cao tay áo, quỳ một gối xuống nền đất khô khốc.

Hàng ngàn nạn dân lục tục vây quanh thành nhiều vòng tròn lớn, nín thở theo dõi từng cử động của nàng.

“Mọi người nhìn kỹ đây!” Nhược Lam vừa cuốc đất vừa giải thích cặn kẽ từng chi tiết bằng kinh nghiệm nông học thực tiễn. “Đất hạn hán nứt nẻ, tuyệt đối không được cày xới tung bừa bãi! Cày xới tung lên sẽ làm hơi ẩm ít ỏi dưới lòng đất bốc hơi hết sạch, hạt tra xuống sẽ bị chết thiêu! Chúng ta phải dùng phương pháp ‘khoét hốc giữ ẩm’!”

Lưỡi cuốc của nàng gõ xuống đất phát ra tiếng chan chát, nhưng với kỹ thuật dùng lực khéo léo, nàng nhanh chóng khoét thành từng hốc nhỏ sâu chừng năm tấc, khoảng cách giữa các hốc đều đặn hai gang tay.

“Nhìn thấy chưa? Khoét hốc sâu xuống để chạm tới tầng đất còn chút hơi ẩm ngầm. Sau đó...” Nhược Lam thò tay vào chiếc thúng tre bên cạnh, bốc ra một nắm tro trấu trộn lẫn với mùn rơm ủ mục mà nàng đã chuẩn bị sẵn từ trước. “Bỏ vào đáy hốc một nắm tro trấu ủ mục này! Tro trấu xốp nhẹ có tính năng giữ nước và giữ phân bón cực tốt, lại có hàm lượng kali tự nhiên giúp rễ cây cứng cáp, không bị sâu bọ cắn phá!”

Bảo Nha đứng bên cạnh nhanh nhảu đưa cho nàng một chiếc túi vải nhỏ đựng hạt giống ngô đã được ngâm ủ nứt nanh.

Nhược Lam cẩn thận thả vào mỗi hốc hai hạt ngô căng mẩy: “Mỗi hốc chỉ tra đúng hai hạt, đặt nằm nghiêng để mầm dễ ngoi lên. Sau đó phủ lên một lớp đất mịn dày chừng hai lóng tay, tuyệt đối không nén quá chặt khiến mầm nghẹt thở. Và bước quan trọng nhất...”

Nàng đứng dậy, vơ lấy một nắm rơm rạ khô phủ một lớp mỏng lên trên mặt hốc: “Dùng rơm rạ hoặc cỏ khô phủ lên trên miệng hốc! Lớp bổi này sẽ che chắn ánh nắng gay gắt trực tiếp, ngăn không cho nước bốc hơi, tạo thành một chiếc ô bảo vệ độ ẩm cho hạt mầm tự do nảy chồi!”

Nàng ngẩng đầu lên, nhìn đám đông đang há hốc mồm lắng nghe như nuốt từng lời, mỉm cười nói tiếp:

“Khi tưới nước, không được tưới tràn lan làm đất đóng váng cứng ngắc. Dùng một chiếc gáo tre nhỏ, chọc thủng một lỗ nhỏ dưới đáy, tưới nước nhỏ giọt thẳng vào gốc lúc sáng sớm khi sương chưa tan, hoặc lúc chiều muộn khi mặt trời đã xuống núi! Nước suối từ trên đồi Lạc Nhạn dẫn về mương dẫn chung, ta sẽ cho phép các vị chia nhau dẫn vào các rãnh đất! Chỉ cần làm đúng như lời ta dạy, ta dám lấy tính mạng ra bảo đảm: trong vòng năm ngày, ngô sẽ nảy mầm xanh ngắt; trong vòng sáu mươi ngày, các vị sẽ có bắp ngô ngọt lịm để cứu sống cả gia đình!”

Cả không gian tĩnh lặng như tờ, chỉ có tiếng gió chiều thổi qua những ngọn đồi khô cháy.

Hàng ngàn nạn dân đứng đó, đa phần họ đều là những nông phu cả đời cắm mặt cho đất, bán lưng cho trời. Họ từng tuyệt vọng nhìn lúa chết khô, từng nghĩ rằng hạn hán là thiên tai không thể chống lại, chỉ có con đường bỏ xứ tha phương cầu thực chờ chết đói. Nhưng lúc này đây, nhìn đôi bàn tay lấm lem bùn đất của người con gái khuê các thanh tú trước mặt, nghe những lời chỉ dẫn rành rọt, thấu đáo, sáng rõ như ban ngày, trong đầu họ như có một luồng sấm sét xé toạc màn đêm tăm tối!

Đó không phải là phép thuật ma quỷ, đó là trí tuệ! Là con đường sống chân chính bằng mồ hôi và sức lao động của chính mình!

“Tôi... tôi hiểu rồi! Hóa ra đất cằn vẫn có thể giữ ẩm như vậy!” Một lão nông run rẩy thốt lên, nước mắt giàn giụa trên những nếp nhăn nheo sâu hoắm. “Trời ơi, bao năm qua chúng ta cứ cày xới bừa bãi làm đất bốc hết hơi nước... Chúng ta có tội với đất mẹ!”

“Khương cô nương... cô nương không chỉ cho chúng tôi cháo ăn, cô nương còn cho chúng tôi đường sống...”

Từng túi hạt giống ngô ngọt bọc trong vải gai thô được Bảo Nha, Tam Thẩm và nhóm phụ nữ thôn Lạc Diệp tận tay trao cho từng đại diện gia đình tị nạn. Khi đón nhận những túi hạt giống vàng ruộm, nặng trịch ấy, từng đôi bàn tay gầy guộc run lên bần bật. Họ ôm túi giống vào lòng, ép chặt vào lồng ngực như đang ôm lấy tính mạng thứ hai của chính mình và con cháu.

Đột nhiên, lão nông tóc bạc phơ ban nãy hai gối quỵ xuống, dập đầu thật mạnh xuống nền đất khô khốc trước mặt Nhược Lam.

“Bồ tát sống! Đây chính là bồ tát sống tái thế cứu vớt muôn dân!”

Hành động của lão nông như một làn sóng kích hoạt toàn bộ cảm xúc kìm nén bấy lâu nay. Hàng ngàn con người đồng loạt quỳ sụp xuống, tiếng đầu gối chạm đất rào rào như mưa đổ. Tiếng khóc nghẹn ngào, tiếng nấc xót xa và những tiếng hô vang dội bùng nổ, xé toạc cả không gian hoàng hôn tịch mịch:

“Khương Tiên Cô! Đa tạ Khương Tiên Cô cứu mạng!”

“Khương Tiên Cô vạn phúc vô cương! Đa tạ tiên cô tái sinh cho chúng con!”

Hàng ngàn tiếng hô hòa làm một, vang vọng vào vách đá núi Lạc Nhạn, chấn động cả một vùng trời đất. Trong mắt họ lúc này, Khương Nhược Lam không còn là một thứ nữ bị gia tộc ruồng bỏ, không còn là một cô thôn nữ bình thường, mà nàng chính là “Khương Tiên Cô” – vị thần nông đức độ giáng trần để cứu độ chúng sinh khỏi bờ vực diệt vong!

Nhược Lam hốt hoảng bước tới định đỡ lão nông dậy: “Bà con mau đứng lên! Đừng làm vậy, tôi cũng chỉ là một người làm nông như bà con thôi mà...”

Thế nhưng không một ai chịu đứng lên. Ánh mắt họ nhìn nàng tràn ngập sự sùng kính, biết ơn sâu sắc đến tận xương tủy.

Đứng cách đó vài bước chân, Tiêu Lập lặng lẽ ngắm nhìn Nhược Lam giữa muôn vàn tiếng tung hô. Chiều tà buông xuống, ánh hoàng hôn đỏ rực phủ lên gương mặt thanh tú lấm lem bụi đất của nàng một nét đẹp thần thánh, rạng ngời khôn xiết. Chàng thấy nàng luống cuống xua tay, khóe môi khẽ nở một nụ cười bất đắc dĩ nhưng đôi mắt hạnh lại lấp lánh niềm vui sướng thuần khiết của người gieo mầm sự sống.

Lồng ngực Tiêu Lập đập rộn ràng từng nhịp mạnh mẽ. Đây chính là người con gái chàng yêu, người con gái không màng danh lợi quyền quý chốn kinh kỳ hoa lệ, chỉ một lòng gắn bó với ruộng đồng, dùng chính đôi bàn tay và khối óc của mình để che chở cho vạn mảnh đời cơ hàn. Người con gái như thế, xứng đáng nhận được sự tôn kính của cả thiên hạ!

Những ngày sau đó, một cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử huyện Vân Khê diễn ra. Hơn một vạn nạn dân không còn lang bạt đầu đường xó chợ, cũng không xảy ra bất kỳ vụ cướp bóc, bạo loạn nào. Dưới sự dẫn dắt của Khương Nhược Lam và sự bảo hộ trật tự của Tiêu Lập, đoàn người tị nạn chia nhau khai khẩn hàng ngàn mẫu đồi hoang quanh chân núi Lạc Nhạn.

Khói bếp từ các lán trại bốc lên nghi ngút mỗi sớm chiều. Tiếng cuốc đất chan chát, tiếng người gọi nhau í ới khơi mương dẫn nước rộn rã khắp núi rừng. Chỉ sau bảy ngày ngắn ngủi, đúng như lời Nhược Lam đã hứa, từ những hốc đất khô cằn phủ rơm rạ, hàng triệu mầm ngô ngọt xanh biếc như những mũi ngọn giáo nhỏ đã đồng loạt đội đất nhô lên, tràn đầy nhựa sống, nhuộm xanh cả những sườn đồi xám xịt!

Cùng với những mầm xanh hồi sinh ấy, câu chuyện về nghĩa cử vĩ đại của thôn Lạc Diệp bắt đầu lan truyền với tốc độ chóng mặt.

Đoàn người tị nạn sau khi được cứu đói và nhận hạt giống, một bộ phận ở lại khai hoang, một bộ phận tiếp tục đi về các châu huyện phía Nam để tìm kiếm thân nhân. Đi đến đâu, họ cũng mang theo câu chuyện kỳ diệu về một vùng đất Lạc Diệp trù phú giữa tâm hạn hán; kể về những vạc cháo ngô ngọt béo ngậy cứu đói đêm ngày; kể về nồi nước râu ngô thần kỳ dập tắt dịch bệnh; và trên hết, họ kể về “Khương Tiên Cô” – người con gái có tấm lòng bồ tát đã xé toạc bức màn chết chóc của thiên tai để trao cho bá tánh con đường sống.

Tiếng thơm “Khương Tiên Cô” theo chân những người tị nạn, theo những chuyến xe buôn, theo các ngả đường thiên lý lan truyền khắp mười sáu huyện sáu châu phương Bắc, rồi như một cơn lốc vô hình, cuốn thẳng về kinh thành Thạnh An xa hoa ngút ngàn dặm!

*

Kinh thành Thạnh An, ba ngày sau.

Trái ngược với cảnh lầm than đói khổ của bá tánh phương Bắc, kinh thành vẫn khoác lên mình vẻ xa hoa lộng lẫy tột cùng. Những tửu lầu đèn lồng đỏ treo cao, tiếng đàn ca sáo nhị rộn rã thâu đêm suốt sáng.

Thế nhưng, bên trong thư phòng xa hoa lộng lẫy của Thượng thư phủ, bầu không khí lại u ám, ngột ngạt như hầm băng.

“Choang!”

Một chiếc chén trà bằng ngọc bích tinh xảo bị ném mạnh xuống sàn đá hoa cương, vỡ tan tành thành trăm mảnh vụn. Nước trà hảo hạng văng tung tóe lên vạt áo lụa đắt tiền của Khương Ngọc Trinh.

Khương Thượng thư đứng trước bàn làm việc bằng gỗ lim trạm trổ rồng phượng, khuôn mặt già nua xám ngoét vì tức giận, lồng ngực phập phồng dữ dội. Trên bàn, một bức mật thư vừa được bồ câu đưa về từ Vân Châu còn mở toang.

“Nghịch nữ! Nghiệt súc!” Khương Thượng thư gầm lên nghiến răng nghiến lợi. “Nó chỉ là một đứa con gái bị phế truất, một thứ rác rưởi bị đuổi về chốn rừng thiêng nước độc! Lấy đâu ra nhiều lương thực như thế? Lấy đâu ra hạt giống quý như thế? Lại còn ‘Khương Tiên Cô’? Lại còn cứu vạn nạn dân? Nó muốn làm phản sao?!”

Khương Ngọc Trinh đứng một bên, khuôn mặt xinh đẹp kiều diễm giờ đây vặn vẹo vì ghen ghét và căm hận tột cùng. Kể từ sau thất bại nhục nhã tại Hội thi Dệt may ở Phủ thành Vân Châu, ả bị Khâm sai đại thần Tề Hoằng trục xuất, tước quyền dự thi ba năm, danh tiếng tài nữ kinh kỳ bị tổn hại nặng nề. Vết thương lòng ấy còn chưa lành, nay lại nghe tin Khương Nhược Lam chẳng những không chết đói chết rét, mà danh tiếng còn vang dội khắp thiên hạ, được vạn dân tôn sùng như thần thánh!

“Phụ thân!” Khương Ngọc Trinh bước lên một bước, ánh mắt lóe lên tia độc địa tàn nhẫn, giọng nói the thé chói tai: “Người chẳng lẽ không nhìn ra dã tâm của con tiện tỳ đó sao? Triều đình ba tháng nay mở kho phát chẩn nhưng quan viên các cấp tầng tầng bòn rút, dân chúng chết đói vô số, oán thán ngút trời! Vậy mà nó – một kẻ bị trục xuất khỏi gia tộc – lại dám tự ý mở năm gian kho lương lớn, nuôi dưỡng hàng vạn nạn dân, lại còn huấn luyện trai tráng dựng hàng rào phong tỏa, tập hợp lòng dân!”

Ả ghé sát tai Khương Thượng thư, từng lời từng chữ nhả ra như nọc độc của rắn hổ mang:

“Một thôn phụ nơi sơn dã, lấy đâu ra ngàn thạch lương thảo nếu không phải là ngầm cấu kết với thế lực mờ ám tích trữ quân lương? Thu phục hàng vạn lưu dân, khiến bọn họ chỉ biết đến ‘Khương Tiên Cô’ mà không biết đến Hoàng thượng, không biết đến triều đình! Đây không phải là hành vi mưu đồ tạo phản thì là cái gì?!”

Khương Thượng thư giật thót mình, đồng tử co rút lại. Cơn giận dữ ban nãy bỗng chốc biến thành một tia sáng âm hiểm, xảo quyệt lóe lên trong đáy mắt lão cáo già chốn quan trường.

Đúng vậy! Mấy tháng nay, bè lũ của lão cùng các đại thần trong triều đã câu kết với nhau biển thủ hơn nửa số lương thảo cứu tế của triều đình cấp cho sáu châu phương Bắc, bán ra chợ đen kiếm về hàng vạn lượng bạc trắng. Hoàng thượng đang nổi trận lôi đình vì nạn đói không dẹp yên được, lại nghe tin Khâm sai Tề Hoằng sắp mang sổ sách về hạch tội lụa cống phẩm. Nếu lúc này lão không tìm một tấm bia đỡ đạn, chiếc ghế Thượng thư này khó mà giữ nổi!

Mà Khương Nhược Lam, chính là tấm bia đỡ đạn hoàn hảo nhất!

“Ý của con là...” Khương Thượng thư nheo mắt nhìn thứ nữ.

Khương Ngọc Trinh cười lạnh, nụ cười độc ác làm biến dạng cả dung nhan thanh tú: “Nhân lúc dư luận kinh thành chưa kịp nắm rõ chân tướng, phụ thân hãy lập tức vào cung dâng mật sớ! Khép cho con tiện nhân đó tội danh: ‘Tự ý tích trữ quân lương bất hợp pháp, mượn cớ cứu tế để mua chuộc lòng dân, tụ tập lưu dân vùng biên ải mưu đồ xưng hùng tạo phản’! Xin Hoàng thượng lập tức phái Cấm quân kinh thành hỏa tốc xuất phát, áp giải ả về kinh thành tống vào thiên lao tra khảo!”

Ả nghiến răng, trong lòng trào dâng kh*** c*m tàn độc: “Một khi đã vào thiên lao, sống hay chết đều do phụ thân định đoạt. Đến lúc đó, bí phương tơ vàng hoàng kim, công thức giống ngô siêu năng suất, và toàn bộ sản nghiệp điền trang Lạc Diệp kia... chẳng phải sẽ ngoan ngoãn thuộc về tay Khương gia chúng ta hay sao? Còn ả tiện tỳ đó, chết trong ngục tối vì tội mưu phản, muôn đời muôn kiếp không ngóc đầu lên được!”

Khương Thượng thư vuốt chòm râu dê, bật ra tiếng cười ha hả đầy đắc ý: “Hay! Diệu kế! Thật là diệu kế! Trinh nhi của ta quả nhiên thông tuệ hơn người!”

Ngay trong đêm hôm đó, cánh cổng son của Thượng thư phủ mở toang. Khương Thượng thư khoác triều phục vội vã tiến cung diện thánh mang theo bức mật sớ ngập tràn những lời lẽ vu khống thâm độc.

Canh ba đêm ấy, một đạo quân lệnh khẩn cấp từ hoàng cung được ban ra.

Tiếng vó ngựa dồn dập xé toạc màn đêm tĩnh mịch của kinh thành Thạnh An. Một đội Cấm quân kinh thành gồm năm mươi kỵ binh thiết giáp sáng loáng, mang theo xiềng xích sắt đằng đằng sát khí, rời cổng thành hỏa tốc phi như bay trong đêm tối, hướng thẳng về phía huyện Vân Khê, thôn Lạc Diệp!

Một cơn giông bão kinh hoàng từ chốn cung đình quyền lực tột cùng đang cuồn cuộn kéo tới, chực chờ nghiền nát mảnh đất thanh bình nơi thôn dã.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn