Sương sớm mùa hạ giăng mờ trên những mái ngói rêu phong của Phủ thành Vân Châu. Khi tiếng chuông đồng từ lầu trống trên cổng thành gióng lên ba hồi ngân nga, xua tan bóng tối mịt mùng của màn đêm, cả góc phố phía đông đã rộn rã bước chân người qua lại. Hôm nay là ngày khai mạc Hội thi Dệt may thường niên – sự kiện giao thương tráng lệ bậc nhất toàn phủ, nơi hội tụ hàng trăm phường dệt lừng danh khắp các châu huyện và cũng là dịp triều đình tuyển chọn cống phẩm thượng hạng cho hoàng thất Đại Ninh.
Tọa lạc ngay ngã tư sầm uất nhất Phủ thành, Hội quán Dệt may Vân Châu hôm nay được trang hoàng vô cùng lộng lẫy. Dọc hai bên bậc thềm đá hoa cương trải thảm đỏ thêu hoa văn mây cuộn, hàng chục ngọn đèn lồng ngũ sắc treo cao đung đưa trong gió sớm. Trên đại sảnh thênh thang, mùi trầm hương thượng hạng thoang thoảng quyện cùng hương thơm dịu nhẹ của các loại hồ dệt, thảo mộc dưỡng vải tạo nên một bầu không khí trang trọng, xa hoa tột bực.
Tại khu vực trung tâm dành cho các phường dệt danh tiếng nhất, Khương Ngọc Trinh đang đứng giữa một vòng vây những lời tán dương xum xoe.
Ả vận một bộ váy gấm lưu tiên màu nguyệt bạch thanh nhã, mái tóc mây búi kiểu phi thiên cài trâm ngọc bích nạm ngọc trai lấp lánh. Trên gương mặt thoa phấn nụ kinh kỳ tinh xảo luôn thường trực một nụ cười đoan trang, dịu dàng chuẩn mực của một thiên kim tiểu thư khuê các. Thế nhưng, nếu nhìn kỹ vào khóe mắt liếc ngang của ả, người ta sẽ bắt gặp từng tia kiêu ngạo và đắc ý không sao che giấu nổi.
Phía trước mặt Khương Ngọc Trinh, đặt trên một giá gỗ đàn hương chạm trổ tinh vi, là một cuộn lụa trắng muốt như tuyết đầu mùa. Dưới ánh sáng rực rỡ của những ngọn nến sáp ong, mặt lụa ánh lên sắc bạc nhàn nhạt, từng đường thoi mũi chỉ đều tăm tắp, phẳng phiu không một gợn nhỏ. Đó chính là "Tuyết Bạch Vân Lụa" – tuyệt tác mà phường dệt lớn nhất dưới trướng Thượng thư phủ đã dồn toàn bộ tâm huyết suốt nửa năm qua để chế tác, với tham vọng độc chiếm ngôi đầu cống phẩm năm nay.
“Khương nhị tiểu thư quả nhiên tài hoa hơn người! Tấm Tuyết Bạch Vân Lụa này sợi mảnh như tơ nhện, mặt lụa mịn màng không tỳ vết, trắng muốt tựa mây trên trời cao. Lần này Khâm sai đại thần đích thân thẩm định, ngôi vị Quán quân cống phẩm mười phần thì đã nắm chắc trong tay đến chín phần chín rồi!”
“Đúng vậy, đúng vậy! Phường dệt Thượng thư phủ danh bất hư truyền, lại thêm bàn tay chỉ điểm khéo léo của nhị tiểu thư, lụa này tiến cung ắt khiến các nương nương trong cung mê mẩn. Đám phường dệt thôn quê hẻo lánh làm sao bì kịp một góc phong nhã chốn kinh kỳ!”
Mấy vị chưởng quầy của các hiệu buôn lớn ở Vân Châu tranh nhau bồi thêm những lời nịnh nọt bùi tai. Khương Ngọc Trinh khẽ giơ chiếc quạt lụa thêu hoa mẫu đơn che nửa nụ cười, cất giọng êm ái như chim oanh hót:
“Chư vị chưởng quầy quá khen rồi. Ngọc Trinh chỉ là phận nữ nhi mọn mằn, may mắn được phụ thân chỉ dạy đôi điều, lại có các vị đại sư trong phủ ngày đêm miệt mài dệt sợi. Mục đích dâng lụa lần này chẳng qua cũng vì muốn làm rạng danh nghề dệt nước nhà, chút tài mọn đâu dám nhận hai chữ tuyệt đỉnh.”
Lời nói thì khiêm nhường tột độ, nhưng ánh mắt ả quét qua những gian trưng bày xung quanh lại tràn ngập vẻ khinh thường. Đám lụa đỏ, gấm hoa của các huyện phụ cận dù có rực rỡ đến đâu, đặt cạnh Tuyết Bạch Vân Lụa của ả cũng chỉ như bùn non sánh với mây trắng.
Trong lòng Khương Ngọc Trinh lúc này tựa như có ngọn lửa hân hoan rực cháy. Ả liếc mắt nhìn bóng nắng đã bắt đầu rọi nghiêng qua khung cửa sổ lớn của hội quán. Giờ Thìn đã điểm, thời khắc các phường dệt phải hoàn tất việc ghi danh và đưa phẩm vật lên khán đài trung tâm đã đến.
Mà người cần đến... vĩnh viễn sẽ không bao giờ xuất hiện được nữa.
Nghĩ đến lá thư mật mà nha dịch Phủ thành gửi về chiều qua báo rằng Khương An đã dẫn người phong tỏa toàn bộ đèo Lạc Nhạn, chuẩn bị một mẻ lưới bắt gọn cả người lẫn lụa của Khương Nhược Lam, nụ cười trên môi Ngọc Trinh càng thêm ngọt ngào độc địa. Một đứa con gái bị phế truất, đuổi về nơi xó xỉnh bùn lầy nước đọng, dám mơ mộng dùng vài thước lụa vàng rách nát để lật mình sao? Hừ, có lẽ giờ này con tiện nhân đó đang khóc lóc van xin trong lao ngục tăm tối của nha môn, hoặc đã phơi thây dưới vực sâu vạn trượng của núi Lạc Nhạn rồi!
Vị trí thiên kim đích nữ duy nhất của Khương phủ, vị trí mẫu nghi thiên hạ tương lai, chỉ có thể thuộc về Khương Ngọc Trinh ả mà thôi!
“Khâm sai đại thần Tề Hoằng đại nhân quang lâm! Tri phủ đại nhân quang lâm!”
Tiếng xướng danh dõng dạc của viên tư nghi vang lên cắt ngang dòng suy nghĩ của mọi người. Toàn bộ hội trường lập tức im phăng phắc. Đám đông tự động dạt sang hai bên, cúi đầu cung kính.
Từ cửa sảnh, một đoàn quan lại uy nghiêm bước vào. Đi đầu là một vị quan trung niên trạc ngũ tuần, khoác trên mình phẩm phục thêu chim cẩm kê màu xanh tía, sắc mặt uy nghiêm, đôi mắt chim ưng sắc lẹm toát ra vẻ thanh liêm, chính trực và từng trải. Đó chính là Khâm sai Giám sát Ngự sử Tề Hoằng – người được đích thân Hoàng đế phái đi tuần tra việc nông tang, cống phẩm tại phương Nam. Đi sát phía sau là Tri phủ Vân Châu cùng hàng chục sai nha gươm giáo sáng loáng.
Tề đại nhân sải bước lên bục chủ tọa danh dự, khẽ phất tay áo rộng:
“Chư vị miễn lễ. Hôm nay bản quan phụng mệnh Hoàng thượng giám sát hội thi dệt may, cốt tìm kiếm những cống phẩm chân chính thể hiện được tài nghệ và sự hưng thịnh của ngành nông dệt Đại Ninh. Hội quy nghiêm cẩn, lấy chất lượng làm gốc, tuyệt đối không thiên vị bất kỳ ai. Giờ lành đã đến, mời ban giám khảo khai đàn kiểm định!”
Tiếng trống lệnh “Tùng! Tùng! Tùng!” vang rền khắp đại sảnh.
Viên tư nghi bước ra giữa đài cao, giở sổ danh bạ ra tuyên đọc:
“Hội thi tuyển chọn cống phẩm Vân Châu chính thức bắt đầu! Mời các phường dệt lần lượt dâng lễ vật để Khâm sai đại thần và hội đồng trưởng lão thẩm định. Đầu tiên, kính mời Tuyết Bạch Vân Lụa của phường dệt Thượng thư phủ!”
Khương Ngọc Trinh mỉm cười kiêu sa, tao nhã bước lên đài cao. Hai tỳ nữ kính cẩn nâng cuộn lụa trắng muốt bung nhẹ ra trên mặt bàn phủ gấm đen. Sắc trắng tinh khôi tương phản mãnh liệt với nền đen tuyền, khiến tấm lụa như phát ra một vầng sáng dịu nhẹ, mượt mà như dòng suối băng.
Hội đồng giám khảo gồm năm vị nghệ nhân lão thành của đất Vân Châu cùng tiến lại gần, cẩn thận nâng mép lụa lên săm soi.
“Tuyệt phẩm! Sợi tơ kéo vô cùng đều, mật độ dệt chặt chẽ mà vẫn giữ được độ rủ mềm mại.”
“Màu trắng này không phải trắng bệch do ngâm vôi, mà là sắc trắng thuần khiết của tơ tằm thượng phẩm, quả thực xứng danh Tuyết Bạch!”
Những lời khen ngợi không dứt khiến Khương Ngọc Trinh càng thêm nở mày nở mặt. Ả liếc nhìn Khâm sai Tề Hoằng, khẽ cúi đầu làm lễ:
“Khởi bẩm Tề đại nhân, tấm lụa này được dệt từ giống tằm trắng nuôi bằng lá dâu đầu mùa vùng phụ cận kinh kỳ, trải qua ba mươi sáu công đoạn tẩy hồ bí truyền. Dâng lên hoàng thất, ắt xứng đáng với phong thái thanh cao của bậc đế vương.”
Tề Hoằng bước tới, đưa ngón tay vuốt nhẹ lên thớ lụa, gật đầu vẻ vừa ý:
“Rất tốt. Tinh xảo, công phu, không hổ là tay nghề của phường dệt kinh thành. Nếu không có vật phẩm nào vượt trội hơn, tấm Tuyết Bạch Vân Lụa này hoàn toàn xứng đáng đoạt...”
“Chậm đã!”
Một thanh âm trong trẻo, cao vút và tràn đầy nội lực bỗng nhiên từ ngoài cửa chính vọng vào, cắt ngang lời phán của vị Khâm sai. Thanh âm ấy không hề mang theo vẻ sợ sệt của kẻ hèn mọn, trái lại còn ẩn chứa sự đĩnh đạc, tự tin đến lạ kỳ, vang vọng khắp không gian rộng lớn của hội quán.
Toàn thể quan khách, thương nhân và giám khảo đồng loạt giật mình quay phắt đầu lại.
Khương Ngọc Trinh đứng trên đài cao, nụ cười trên khóe môi bỗng chốc cứng đờ. Một luồng khí lạnh buốt xông thẳng từ lòng bàn chân lên tận đỉnh đầu ả. Thanh âm này... thanh âm đáng ghét mà ả căm hận đến tận xương tủy này... làm sao có thể?!
Nơi ngưỡng cửa lớn ngập tràn ánh nắng ban mai, hai bóng người đang hiên ngang sải bước bước vào.
Đi phía trước là một thiếu nữ dáng người mảnh mai, thanh thoát. Nàng vận một bộ y phục vải thô dệt thủ công màu xanh biếc nền nã, vạt áo bó gọn gàng, mái tóc đen nhánh búi củ tỏi đơn sơ chỉ cài một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc. Trên gương mặt thanh tú không hề dặm một hạt phấn nụ kinh kỳ, nhưng làn da lại trắng hồng rạng rỡ, đôi mắt hạnh trong veo lấp lánh ánh thông tuệ và nụ cười tươi tắn tựa như đóa sơn trà ngậm sương sớm nơi núi rừng.
Đi sát ngay phía sau nàng là một nam tử thân hình cao lớn như ngọn núi sừng sững. Chàng khoác chiếc áo choàng màu chàm sẫm, bờ vai rộng vững chãi, đường nét gương mặt góc cạnh cương nghị tựa như đao khắc. Đôi mắt đại bàng sâu thẳm quét qua hội trường, tỏa ra một luồng uy áp trầm mặc khiến những kẻ xung quanh bất giác rùng mình, tự động né dạt ra tạo thành một lối đi thênh thang. Trên tay nam tử ấy, chiếc rương gỗ mun chạm khắc giản dị được nâng nhẹ tênh như không có chút trọng lượng.
Đó chính là Khương Nhược Lam và Tiêu Lập!
“Ngươi... Khương Nhược Lam?!” Khương Ngọc Trinh thất thanh kêu lên, chiếc quạt lụa trên tay run rẩy suýt chút nữa rơi xuống đất. Ngũ quan xinh đẹp của ả trong chớp mắt vặn vẹo vì kinh hãi và khó tin: “Sao... sao ngươi có thể ở đây? Ngươi không phải đã...”
Nhược Lam dừng bước ngay trước đài cao, đón nhận ánh mắt trợn tròn của Ngọc Trinh bằng một cái nhếch môi đầy giễu cợt. Nàng nghiêng đầu, thong thả nói:
“Sao ta lại ở đây ư? Khương nhị tiểu thư có vẻ bất ngờ quá nhỉ? Ngươi tưởng rằng phái một đám chó săn cùng vài tên quan binh thoái hóa chặn đường ở đèo Lạc Nhạn là có thể giam chân được ta sao? Đáng tiếc thật, đường lớn có chó chặn thì ta đi đường mòn. Người của ngươi giờ này chắc đang bận nhặt rơm rạ dưới chân đèo rồi đấy.”
“Ngươi... ngươi nói bậy bạ gì đó!” Mặt Khương Ngọc Trinh cắt không còn giọt máu, vội vàng cắn môi chối phắt, ánh mắt hoảng loạn liếc nhìn Khâm sai Tề Hoằng.
Tề đại nhân khẽ nhíu mày, trầm giọng quát:
“Dưới công đường hội thi, kẻ nào dám to tiếng ồn ào? Ngươi là ai, đến đây có việc gì?”
Nhược Lam không hề bối rối, nàng thong dong tiến lên hai bước, chắp tay hành lễ theo đúng quy củ của một nông hộ tự do, lưng thẳng tắp như cây tùng giữa bão tuyết:
“Khởi bẩm Khâm sai đại thần, dân nữ là Khương Nhược Lam, chủ hộ độc lập của thôn Lạc Diệp, huyện Vân Khê. Dân nữ phụng chỉ lệnh của Khuyến Nông Chiếu, mang sản vật dệt may của Tổ hợp tác Lạc Diệp đến tham gia hội thi, mong được đại nhân cùng chư vị tiền bối lượng định!”
Nói đoạn, nàng quay sang gật đầu với Tiêu Lập.
Tiêu Lập bước lên, đặt chiếc rương gỗ mun lên chiếc bàn đá hoa cương bên cạnh bàn của Khương Ngọc Trinh. Động tác của chàng dứt khoát, trầm ổn, bàn tay thô ráp khẽ gạt chiếc then đồng sang một bên.
“Khâm sai đại thần minh giám!” Khương Ngọc Trinh thấy vậy liền hoảng hốt kêu lên, cố lấy lại vẻ đoan trang giả tạo để chèn ép đối phương: “Thời khắc ghi danh đã qua, hơn nữa ả Khương Nhược Lam này chỉ là một kẻ tội đồ bị Khương gia chúng ta trục xuất về quê vì phẩm hạnh bất hảo. Một ả tiện tỳ làm ruộng nơi xó rừng hẻo lánh, dơ dáy thô kệch, thì làm ra được thứ gì ra hồn? Đem đồ rác rưởi lên sảnh đường tôn quý này chẳng phải là làm bẩn mắt Khâm sai đại thần, vũ nhục quốc thể hay sao? Người đâu, mau đuổi ả ra ngoài!”
“Ai dám!”
Tiêu Lập bỗng nhiên tiến lên một bước. Âm thanh của chàng trầm thấp, lạnh lẽo tựa như tiếng sấm rền giữa trời đông buốt giá. Một cỗ sát khí vô hình từng tôi luyện qua máu lửa chiến trường cuộn trào ra từ lồng ngực chàng, khiến bốn tên nha dịch vừa định xông lên lập tức khựng lại, da đầu tê dại, hai chân run lẩy bẩy như bị đóng đinh tại chỗ.
Không khí trong đại sảnh bỗng chốc đông cứng lại. Ánh mắt Khâm sai Tề Hoằng khẽ nheo lại, dán chặt vào bóng lưng của Tiêu Lập. Là một lão thần từng trải, Tề Hoằng lập tức cảm nhận được khí tức sát phạt kinh hồn bạt vía toát ra từ người nam tử áo chàm này – đó tuyệt đối không phải thứ khí chất của một thợ săn bình thường!
Tề đại nhân giơ tay lên, ngăn cản sự hỗn loạn, ánh mắt nghiêm nghị nhìn Nhược Lam:
“Hội thi lấy phẩm vật làm trọng. Giờ Thìn vừa dứt tiếng chuông, ngươi bước vào cửa đúng lúc bản quan chưa đặt bút định đoạt, coi như hợp lệ. Ngươi nói ngươi mang sản vật của thôn Lạc Diệp đến... rốt cuộc là thứ gì? Mở ra xem!”
“Dân nữ tuân mệnh.”
Nhược Lam mỉm cười rạng rỡ. Nàng hít sâu một hơi, hai tay nhẹ nhàng mở toang nắp rương gỗ mun.
Khoảnh khắc nắp rương bật mở, một dải lụa được cuộn tròn bên trong khẽ bung ra.
Và rồi, một cảnh tượng kỳ diệu chưa từng thấy bỗng chốc hiện ra trước mắt toàn thể quan khách trong đại sảnh!
Đó không phải là màu trắng của tuyết, không phải màu đỏ của son, cũng không phải màu xanh của ngọc.
Đó là một màu vàng kim rực rỡ, lộng lẫy và thuần khiết đến nao lòng!
Khi Nhược Lam nâng mép lụa lên, dải lụa trôi tuột qua những ngón tay nàng mềm mại tựa như một dòng nước suối mùa thu. Dưới ánh nắng ban mai rọi thẳng qua khung cửa sổ, tấm lụa vàng kim bỗng chốc bừng sáng, phản chiếu lại những luồng kim quang lấp lánh như thể có hàng ngàn tia nắng mặt trời được cô đọng, đan dệt tinh vi vào từng sợi tơ.
Cả hội quán rộng lớn với hàng trăm con người bỗng chốc rơi vào sự tĩnh lặng tuyệt đối. Tiếng xì xào bàn tán tắt lịm, chỉ còn lại những tiếng hít sâu đầy kinh ngạc.
“Trời... trời đất ơi...” Một vị lão nghệ nhân trong ban giám khảo run rẩy thốt lên, hai mắt mở to hết cỡ, bước chân lảo đảo tiến lại gần chiếc bàn đá: “Đây... đây là thứ gì thế này? Màu sắc này... không phải do nhuộm!”
“Tơ vàng tự nhiên?!” Một vị chưởng quầy khác kinh hãi kêu lên: “Ta làm nghề buôn tơ lụa bốn mươi năm, chỉ từng nghe nói trong cổ thư tiền triều có ghi chép về giống tằm Hoàng Kim nhả tơ thành vàng ròng, cứ ngỡ là chuyện hoang đường... Không ngờ hôm nay lại được tận mắt chứng kiến!”
Tấm lụa của Nhược Lam dài ba trượng, rộng bốn thước, được nàng và Tiêu Lập trải dài trên mặt bàn đá. Mặt lụa phẳng lặng như gương, không hề có một nút thắt, không một sợi tơ gãy. Sắc vàng của nó không chói mắt dung tục như vàng thỏi đúc khuôn, mà ấm áp, óng ả, toát lên vẻ quyền quý, uy nghiêm tột bực của bậc đế vương thiên tử.
So với tấm lụa vàng kim rực rỡ như vầng thái dương này, cuộn Tuyết Bạch Vân Lụa của Khương Ngọc Trinh đặt bên cạnh bỗng chốc trở nên nhạt nhòa, ảm đạm tựa như một đống tro tàn vô sắc!
Khương Ngọc Trinh đứng chết trân tại chỗ, hai mắt trợn trừng, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay đến bật máu mà không hề hay biết. Ả không tin, tuyệt đối không thể tin được! Con pháo hôi ti tiện bị ả dẫm đạp dưới chân, làm sao có thể tạo ra được thứ bảo vật nghịch thiên bực này?!
Khâm sai Tề Hoằng không kìm được sự xúc động, rời khỏi ghế chủ tọa, bước nhanh xuống đài cao. Đôi bàn tay vốn quen cầm bút nghiên ngự sử của ông run nhè nhẹ khi chạm vào bề mặt tấm lụa.
Một cảm giác mát lạnh, mịn màng như da em bé truyền qua đầu ngón tay. Lụa nhẹ đến mức tưởng như không có trọng lượng, nhưng khi cầm lên lại có độ rủ trĩu nặng, đầm tay đến kỳ lạ.
“Khởi bẩm Khâm sai đại thần và chư vị tiền bối,” Nhược Lam cất giọng tự tin, rành rọt giải thích từng chi tiết: “Đây là ‘Hoàng Kim Vân Lụa’ do Tổ hợp tác Lạc Diệp dệt nên. Giống tằm này là tằm Hoàng Kim thuần chủng, được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng lá của giống dâu cao sản trồng trên vùng đất đồi sỏi đá giàu khoáng chất của núi Lạc Nhạn. Nước cho tằm uống là mạch nước ngầm thanh khiết dẫn từ đỉnh núi về. Toàn bộ kén tằm nhả ra đều mang sắc vàng tự nhiên của đất trời, không hề dùng một giọt phẩm nhuộm hóa chất hay khoáng thạch nào.”Nói đoạn, Nhược Lam ra hiệu cho Tiêu Lập mang lên một bát nước suối trong vắt.
Trước sự chứng kiến của hàng trăm cặp mắt tò mò, Nhược Lam nhấc bát nước lên, dứt khoát hắt thẳng một gáo nước lên bề mặt tấm lụa vàng!
“A!” Đám đông kinh hãi thốt lên một tiếng nghẹn ngào, không ít người xót xa vì nghĩ rằng tấm lụa quý sắp bị nước làm ố bẩn.
Thế nhưng, một cảnh tượng khó tin lại xảy ra!
Nước suối đổ xuống bề mặt lụa không hề thấm vào thớ vải, mà lập tức co cụm lại thành những giọt nước tròn xoe như hạt ngọc, lăn lông lốc trên mặt lụa rồi trôi tuột xuống mép bàn rơi lộp độp xuống đất. Nhược Lam nhẹ nhàng nâng tấm lụa lên, khẽ vẩy nhẹ một cái. Mặt lụa lập tức khô ráo hoàn toàn, phẳng phiu nguyên vẹn, không đọng lại dù chỉ một vết ẩm!
“Hiệu ứng lá sen!” Nhược Lam thầm nghĩ trong bụng với niềm tự hào của một tiến sĩ nông học hiện đại.
Bằng kỹ thuật ươm tơ bằng guồng nước ấm kiểm soát nhiệt độ nghiêm ngặt kết hợp dịch chiết từ thảo mộc tự nhiên để giữ lại lớp sáp tự nhiên bảo vệ sợi protein fibroin, nàng đã tạo ra một cấu trúc dệt siêu khít, khiến bề mặt lụa có khả năng kháng nước và chống bám bẩn tuyệt đối – điều mà kỹ thuật dệt thô sơ thời phong kiến chưa từng làm được!
Nhược Lam mỉm cười, tiếp tục cất giọng trong trẻo:
“Lụa tơ tằm thông thường sợ nước, dễ ẩm mốc, nhưng Hoàng Kim Vân Lụa của Lạc Diệp nhờ kết cấu sợi tơ tằm Hoàng Kim đặc biệt và kỹ thuật dệt nước ấm độc quyền, nước đổ không thấm, bụi trần không bám. Mùa hè mặc vào mát rượi như băng, mùa đông lại giữ ấm cản gió tựa lông hồng.”
Chưa dừng lại ở đó, nàng nắm lấy hai đầu mép lụa, trao một đầu cho một vị giám khảo to béo:
“Mời trưởng lão thử dùng toàn lực kéo căng dải lụa này.”
Vị giám khảo bán tín bán nghi, dùng hai tay nắm chặt mép lụa, vận hết sức bình sinh gồng mình kéo giật về phía sau. Nhược Lam khẽ mỉm cười, giữ chặt đầu kia. Tấm lụa căng ra như dây cung, phát ra tiếng kêu “vù vù” trầm đục, nhưng từng thớ sợi vẫn bện chặt vào nhau, không hề có dấu hiệu rạn nứt hay đứt gãy dù chỉ một sợi tơ!
“Trời phật che chở! Dẻo dai gấp ba lần tơ tằm thông thường!” Vị giám khảo buông tay ra, thở hổn hển, kinh hãi thốt lên: “Bảo vật! Đây thực sự là quốc bảo của Đại Ninh ta!”
Khâm sai Tề Hoằng đứng lặng người hồi lâu. Đôi mắt sắc bén của vị đại thần kinh kỳ ánh lên sự thán phục tột cùng. Ông vuốt chòm râu bạc, ngửa mặt lên trời cười vang một tràng sảng khoái:
“Hảo! Hảo một tấm Hoàng Kim Vân Lụa! Bản quan phụng mệnh Hoàng thượng tuần du khắp mười hai châu phủ phương Nam, xem qua không dưới ngàn cuộn gấm vóc lụa là, nhưng chưa từng thấy thứ tơ lụa nào kinh diễm, thần kỳ đến nhường này! Sắc vàng này chính là sắc vàng của long bào thiên tử, là điềm lành trời ban cho giang sơn Đại Ninh thịnh trị!”
Nghe những lời phán như đinh đóng cột của Khâm sai đại thần, toàn bộ đại sảnh lập tức ồ lên những tiếng hoan hô như sấm dậy. Các vị thương nhân, chưởng quầy vỗ tay không ngớt, ánh mắt nhìn Nhược Lam tràn đầy sự ngưỡng mộ và thèm muốn được hợp tác.
“Không! Không thể nào! Đại nhân, người bị ả lừa rồi!”
Một tiếng thét the thé, chói tai vang lên xé toạc bầu không khí náo nhiệt.
Khương Ngọc Trinh hoàn toàn mất đi vẻ đoan trang khuê các thường ngày. Đôi mắt ả đỏ ngầu, mái tóc mây hơi xộc xệch, gương mặt vặn vẹo vì sự ghen ghét và phẫn nộ tột cùng. Ả lao bổ xuống đài cao, chỉ thẳng ngón tay run rẩy vào mặt Nhược Lam, gào thét mất kiểm soát:
“Nó là đồ ăn trộm! Tề đại nhân, ngài ngàn vạn lần đừng để ả yêu nữ này mê hoặc! Ả vốn là thứ nữ bị Khương gia chúng ta đuổi khỏi cửa vì tội bất hiếu, trộm cắp! Trước khi bị trục xuất, ả đã lén lút lẻn vào mật các của Thượng thư phủ, đánh cắp bí phương ươm tơ tiến cống của gia tộc chúng ta mang về thôn dã! Thứ lụa vàng này... chính là tâm huyết của Khương Thượng thư phủ ta, do ả ăn cắp mà có!”
Lời vu cáo độc địa vừa thốt ra, cả hội trường lại xôn xao bàn tán. Ánh mắt mọi người nhìn về phía Nhược Lam bắt đầu lộ vẻ nghi hoặc. Dù sao thân phận Thượng thư phủ kinh thành cũng quá mức hiển hách, lời nói của đích nữ Thượng thư tự nhiên mang theo sức nặng gia thế.
Thế nhưng, đối mặt với đòn vu khống hèn hạ ấy, Khương Nhược Lam không hề biến sắc.
Nàng khẽ bật cười thành tiếng. Tiếng cười trong trẻo, mỉa mai vang lên giữa đại sảnh khiến Khương Ngọc Trinh càng thêm chột dạ.
“Khương nhị tiểu thư, ngươi nói năng không biết ngượng mồm sao?” Nhược Lam tiến lên một bước, ánh mắt sắc như lưỡi dao găm thẳng vào đồng tử của đối phương: “Ngươi nói đây là bí phương của Thượng thư phủ? Vậy ta xin hỏi ngươi ba câu, nếu ngươi trả lời được, ta lập tức dâng hai tay nộp lại tấm lụa này và theo ngươi về chịu tội!”
Ngọc Trinh cắn răng, nghiến lợi trừng trừng: “Ngươi... ngươi cứ hỏi!”
Nhược Lam dõng dạc cất tiếng, giọng nói vang rền át cả tiếng gió ngoài sảnh:
“Câu thứ nhất: Tằm Hoàng Kim thuộc họ tằm dại bản địa vùng cao, chu kỳ sinh trưởng từ trứng đến khi ăn rỗi là bao nhiêu ngày? Nhiệt độ và độ ẩm trong nhà tằm vào đêm thứ mười lăm khi tằm bắt đầu chuyển sang màu hổ phách phải duy trì ở mức nào để tằm không bị thối kén?”
“Ta... ta...” Khương Ngọc Trinh ấp úng, trán rịn mồ hôi hột. Ả quanh năm chỉ biết ngồi lầu son gác tía, ngón tay không dính bụi trần, làm sao biết được con tằm sống chết ra sao!
Nhược Lam không để ả kịp thở, tiếp tục bồi thêm câu thứ hai:
“Câu thứ hai: Đất trồng dâu để nuôi tằm Hoàng Kim cần độ chua phèn như thế nào? Dùng loại phân ủ vi sinh nào, tỉ lệ tro trấu và vôi bột là bao nhiêu để rễ cây dâu hấp thụ đủ khoáng chất silicat tự nhiên, giúp lá dâu tạo ra lượng protein fibroin màu vàng óng cho tằm nhả tơ?”
“Cái... cái gì mà phi-brô-in... phân vi sinh gì chứ?!” Khương Ngọc Trinh hoa mày chóng mặt, lúng túng lùi lại hai bước, mặt mày tái mét như người chết trôi.
Nhược Lam cười lạnh, bước tiếp một bước ép sát, cất giọng đanh thép chốt hạ câu thứ ba:
“Câu thứ ba: Khi ươm tơ trên guồng nước ấm, nhiệt độ của chậu nước phải giữ ở mức mấy phần nóng mấy phần nguội để lớp sericin không bị tan chảy quá nhanh làm đứt sợi tơ vàng? Tốc độ quay của trục guồng cải tiến là bao nhiêu vòng một khắc?”
Toàn bộ đại sảnh im phăng phắc. Ba câu hỏi của Nhược Lam liên hoàn giáng xuống như sấm sét giữa trời quang, câu nào câu nấy đều ẩn chứa kiến thức nông học và kỹ thuật dệt may sâu sắc, uyên bác đến mức ngay cả năm vị lão nghệ nhân trong ban giám khảo cũng phải gật gù thán phục, vội vàng lấy bút ghi chép lại.
Còn Khương Ngọc Trinh lúc này chỉ biết đứng chôn chân tại chỗ, miệng há hốc không thốt nên lời, cả người run rẩy như cầy sấy giữa mùa đông!
Nhược Lam quay người lại, hướng về phía Khâm sai Tề Hoằng và toàn thể bá quan, cất giọng sang sảng đầy khí phách:
“Khởi bẩm Khâm sai đại thần, một kẻ ngay cả con tằm ăn lá gì, cây dâu bón phân gì, sợi tơ kéo ra sao cũng hoàn toàn mù tịt, chỉ biết ngồi mát ăn bát vàng, cậy quyền cậy thế... mà dám mở miệng nhận xằng là chủ nhân của bí phương ươm tơ? Khương gia các người nếu có bí phương thần kỳ này, sao suốt hai mươi năm qua không dệt nổi một thước tơ vàng dâng lên Hoàng thượng, mà phải đợi đến khi ta – một nữ tử bị các người trục xuất, dùng mồ hôi và nước mắt khai khẩn ba mươi mẫu đồi sỏi đá nơi thôn dã làm ra thành quả, các người mới vội vã chạy đến cướp công?”
“Hay cho câu ‘dùng mồ hôi nước mắt làm ra thành quả’!”
Khâm sai Tề Hoằng đập mạnh tay xuống bàn, giận dữ quát lớn:
“Khương nhị tiểu thư! Ngươi coi công đường hội thi của triều đình là trò đùa sao? Trước mặt bản quan và bàn dân thiên hạ, ngươi không đưa ra được nửa lời giải thích chuyên môn, chỉ biết ngậm máu phun người, vu oan giá họa cho người có công nông tang! Thượng thư phủ dạy dỗ nữ nhi như thế này sao? Thật là vô liêm sỉ!”
“Đại nhân... thần nữ... thần nữ không có...” Khương Ngọc Trinh sợ đến mức nhũn cả hai chân, quỳ sụp xuống đất, nước mắt giàn giụa nhưng lúc này chẳng còn ai thương xót cho vẻ yếu đuối giả tạo của ả nữa.
Những tiếng xì xào khinh bỉ của hàng trăm quan khách xung quanh như những cái tát vô hình giáng liên tiếp vào mặt ả:
“Hóa ra là ỷ thế Thượng thư phủ định cướp trắng công thức của người ta!”
“Thật đê tiện! Thấy người ta làm ra đồ quý liền vu cho người ta ăn trộm, tiểu thư kinh thành mà nhân phẩm đê hèn đến mức này sao?”
“Đúng là mất mặt dòng dõi thư hương!”
Tề Hoằng phất mạnh tay áo, lạnh lùng hạ lệnh:
“Người đâu! Lập tức tước bỏ tư cách tham gia hội thi của phường dệt Thượng thư phủ! Trục xuất Khương Ngọc Trinh ra khỏi Hội quán Dệt may Vân Châu, cấm bước chân vào bất kỳ hội thi nào của phủ thành trong ba năm! Bản quan sẽ đích thân dâng tấu chương lên Hoàng thượng, hạch tội Khương Thượng thư dung túng gia quyến làm loạn nơi công đường!”
“Không! Đừng mà! Tề đại nhân tha mạng... buông ta ra!”
Mấy tên thị vệ lực lưỡng lập tức tiến lên, không chút nể nang lôi xềnh xệch Khương Ngọc Trinh ra ngoài cửa. Tiếng gào khóc thảm thiết, nhục nhã của ả vang vọng khắp góc phố rồi tắt dần trong tiếng cười chê, chỉ trỏ của người dân vây xem bên ngoài.
Đại sảnh hội quán rốt cuộc cũng lấy lại được sự trang nghiêm, thanh tịnh.
Khâm sai Tề Hoằng bước xuống đài, đích thân nâng dải Hoàng Kim Vân Lụa lên, trịnh trọng tuyên bố:
“Bản quan nhân danh Khâm sai triều đình, tuyên bố: Hoàng Kim Vân Lụa của Tổ hợp tác Lạc Diệp, huyện Vân Khê chính thức đoạt giải Quán quân Hội thi Dệt may Phủ thành năm nay! Tấm lụa này sẽ được ghi vào danh bạ cống phẩm thượng hạng bậc nhất, lập tức hộ tống về kinh thành để dâng lên Hoàng thượng và Hoàng thái hậu ngự lãm!”
Tiếng pháo hoa nổ vang trời bên ngoài hội quán hòa cùng tiếng reo hò vang dội của toàn thể cử tọa.
Viên tư nghi kính cẩn dâng lên một khay phủ gấm đỏ, bên trên đặt một tấm biển vàng khắc bốn chữ rồng bay phượng múa: “Vân Châu Đệ Nhất Lụa”, cùng một trăm lượng bạc trắng tiền thưởng của triều đình và giấy chứng nhận miễn toàn bộ thuế dệt may trong năm năm cho thôn Lạc Diệp.
Nhược Lam đón nhận phần thưởng, trong lòng dâng lên một niềm xúc động khó tả. Những ngày tháng đội nắng dầm mưa cuốc đất trên đồi sỏi, những đêm thức trắng cùng Tam Thẩm canh lò sưởi địa long cho tằm ăn rỗi, những vòng quay tơ miệt mài bên dòng nước ấm... tất cả mồ hôi và công sức của nàng cùng bà con thôn Lạc Diệp cuối cùng đã kết thành trái ngọt rực rỡ nhất!
Nàng khẽ quay đầu lại.
Giữa đám đông đang hò reo chúc tụng, Tiêu Lập vẫn đứng đó, lặng lẽ và vững chãi như một pho tượng đồng hun. Ánh mắt chàng khóa chặt lấy bóng hình nàng, trong đôi mắt đại bàng từng chỉ biết đến đao kiếm và máu lửa sa trường ấy, lúc này chỉ ngập tràn sự dịu dàng, tự hào và cưng chiều vô hạn.
Khẽ chạm phải ánh mắt chàng, Nhược Lam nhoẻn miệng cười. Nụ cười rạng rỡ như nắng sớm, chan chứa sự ngọt ngào của tình ý đôi lứa đã cùng nhau vượt qua bao bão giông. Nàng biết, vinh quang này không chỉ thuộc về riêng nàng, mà còn thuộc về người đàn ông đã luôn âm thầm giương cung chắn gió che mưa phía sau lưng nàng.
Thế nhưng, đúng vào khoảnh khắc ánh hào quang chiến thắng đang bừng lên rực rỡ nhất, một âm thanh dồn dập, chói tai từ ngoài cổng thành bỗng xé toạc không gian ngày hội.
“Cấp báo! Biên ải cấp báo! Trạm dịch tám trăm dặm khẩn cấp!”
Một kỵ binh trạm dịch mình đầy bụi đất, chiến bào rách rưới, gương mặt hốc hác môi nứt nẻ bật máu, đang phi ngựa như điên dại lao thẳng vào trước cửa Hội quán Dệt may. Con ngựa chiến thở hồng hộc ra bọt mép rồi quỵ ngã ngay trên bậc thềm đá hoa cương.
Kỵ binh lăn lông lốc xuống đất, trên tay giơ cao một ống thẻ đồng viền đỏ thẫm – dấu hiệu của quân tình khẩn cấp bậc cao nhất của Đại Ninh quốc. Hắn dùng chút tàn lực cuối cùng bò lên bậc thềm, gào lên lạc cả giọng:
“Báo... Khâm sai đại thần... Tri phủ đại nhân tiếp chỉ! Ba tháng qua toàn bộ sáu châu mười sáu huyện phương Bắc không có một giọt mưa! Trận đại hạn ba trăm năm có một bất ngờ bùng phát dữ dội! Sông Hoàng Hà cạn đáy, sông Ngân Khê trơ sỏi! Đất đai nứt nẻ vạn dặm, lúa má chết khô thành tro bụi! Hơn mười vạn nạn dân chết đói chết khát đang lũ lượt chạy nạn... Họa diệt vong cận kề rồi!”
Lời báo tin như một tiếng sét kinh thiên động địa giáng thẳng xuống giữa hội trường đang ngập tràn hoan hỉ.
Tiếng nhạc, tiếng cười nói bỗng chốc tắt lịm. Nụ cười trên môi Khâm sai Tề Hoằng và Tri phủ Vân Châu đông cứng lại, sắc mặt họ trong nháy mắt biến thành màu tro tàn.
Mọi người nhìn nhau trong nỗi bàng hoàng và sợ hãi tột độ. Đại hạn hán ba trăm năm có một! Một thảm họa khủng khiếp sắp sửa quét qua non sông Đại Ninh, biến hàng ngàn dặm đất canh tác trù phú thành bình địa chết chóc...
Giữa cơn chấn động kinh hoàng ấy, Tiêu Lập bỗng bước nhanh lên một bước, bàn tay to lớn, ấm áp của chàng vươn ra, siết chặt lấy bàn tay nhỏ bé của Nhược Lam.
Nhược Lam ngẩng đầu nhìn chàng, ánh mắt hai người giao nhau giữa không trung. Trong đáy mắt nàng không hề có sự hoảng loạn, mà chỉ có sự kiên định, bình tĩnh và ngọn lửa trách nhiệm của một tiến sĩ nông học đang bùng cháy dữ dội.
Bão táp sắp ập tới, nhưng mảnh đất Lạc Diệp cùng kho lương và những giống cây kỳ diệu của nàng... đã sẵn sàng nghênh chiến!