Sương mai kinh thành Thăng Long phủ một lớp khăn voan mỏng manh lên những mái ngói rêu phong của Ba Mươi Sáu Phố Phường. Canh năm vừa dứt, tiếng mõ cầm canh xa dần nhường chỗ cho nhịp sống thường nhật của chốn thị thành. Khói bếp từ những căn nhà lá đơn sơ lẩn khuất trong làn sương ẩm, mùi lá tre tươi đốt đượm quyện lẫn hương ngai ngái của bùn đất sau cơn mưa đêm qua.
Đầu phố Hàng Bạc, gốc đa cổ thụ xòe tán râm mát rủ từng chùm rễ phụ bạc phếch như râu tóc tiên ông. Bên dưới bóng đa, quán nước chè chén của một bà lão lưng còng đã bắt đầu đỏ lửa. Từng giọt sương đọng trên phiến lá đa thỉnh thoảng lại rơi “tách” xuống chiếc bàn gỗ mộc cọt kẹt, làm lay động mặt nước chè xanh sóng sánh màu mật ong.
Một bóng người mảnh khảnh nhẹ nhàng bước vào quán, tìm một góc khuất sát thân cây cổ thụ ngồi xuống. Đó là một thiếu niên vóc người nhỏ nhắn, khoác trên mình bộ áo cánh cộc tay bằng vải thô nhuộm màu nâu chàm, quần vải thô ống túm gọn gàng, đầu đội chiếc nón lá rách vành che khuất nửa khuôn mặt. Mái tóc đen dài được búi túm gọn ghẽ trên đỉnh đầu bằng một đoạn lạt tre mộc mạc. Thoạt nhìn, chẳng ai nghi ngờ đây không phải là một tiểu đồng chạy việc của gánh hàng rong hay phụ việc cho tiệm thuốc nam nào đó.
Thế nhưng, bên dưới vành nón lá rách rưới ấy là một đôi mắt trong veo, sâu thẳm và bình thản đến lạ kỳ. Đặng Mai Chi khẽ đưa hai ngón tay nâng bát chè xanh nóng hổi lên môi, nhấp một ngụm nhỏ, để hơi ấm xua tan cái lạnh buốt của hơi sương còn bám trên da thịt.
Vết thương nơi đầu gối nàng – hậu quả của cú ngã trên đầm lầy và chuyến lội cống ngầm bẩn thỉu đêm qua – nhói lên từng cơn tê buốt. Nhưng nhờ có lọ Kim Sang Dược mà Trần Đình Phong đưa, vết thương đã bớt sưng đỏ, mép thịt bắt đầu se lại. Trong thâm tâm một thẩm phán hình sự từng trải qua hàng trăm ca khám nghiệm và hiện trường đẫm máu, chút đau đớn thể xác này căn bản không đủ để làm dao động tâm trí nàng. Điều khiến nàng bận tâm duy nhất lúc này là mạng sống của phụ thân trong hầm đá ngục Thọ Xương và án trảm của góa phụ Lê thị đang đếm ngược từng khắc.
“Tiểu ca uống nước sớm thế? Chắc là phụ việc cho tiệm bạc gần đây?” Bà lão chủ quán vừa châm thêm cành củi khô vào bếp lò vừa niềm nở hỏi.
Mai Chi cúi thấp vành nón, hạ giọng giả làm tiếng thiếu niên vỡ giọng: “Dạ, cháu theo thầy đi giao hàng sớm.”
Vừa dứt lời, từ đầu phố Hàng Bạc vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc gõ đều trên nền đường lát đá. Một bóng người cao ráo, đĩnh đạc xuất hiện giữa màn sương sớm. Không còn khoác lên mình bộ thanh bào Ngự sử tôn nghiêm hay mang theo đai bài uy quyền của Đô Sát Viện, Trần Đình Phong hôm nay vận một chiếc áo ngũ thân bằng vải đũi màu xanh lam nhạt, vạt áo buông thõng giản dị như một vị đồ thư phong nhã của kinh kỳ. Dáng dấp chàng thanh thoát, mày kiếm mắt sáng, trên tay chỉ cầm một chiếc quạt trúc tiêu dao, bước đi ung dung khoan thai giữa chợ sớm.
Ánh mắt Đình Phong khẽ lướt qua quán trà, lập tức bắt gặp ánh nhìn sắc sảo của Mai Chi dưới vành nón lá. Hai ánh mắt chạm nhau trong khoảnh khắc, không cần lời nói, một sự ăn ý kỳ lạ tựa như đã hình thành tự bao giờ.
Đình Phong bước vào quán, đặt hai đồng tiền đồng lên mặt bàn gỗ: “Bà chủ, cho một bát chè tươi.”
Chàng ngồi xuống chiếc ghế tre đối diện với Mai Chi. Khi bà lão quay vào trong lấy thêm nước sôi, Đình Phong khẽ nghiêng người về phía trước, ánh mắt chàng nhanh chóng lướt xuống đôi chân nàng, thấp giọng hỏi bằng ngữ khí trầm ấm nhưng ngập tràn lo lắng:
“Vết thương ở gối thế nào rồi? Có chịu nổi không?”
“Đã bôi dược liệu của đại nhân, không đáng ngại.” Mai Chi điềm tĩnh đáp, khóe môi khẽ cong lên một nét cười kín đáo: “Còn phụ thân ta?”
Đình Phong khẽ thở phào, bàn tay cầm quạt trúc gõ nhẹ lên mặt bàn theo nhịp: “Đêm qua, ám đằng của ta trong ngục Thọ Xương đã bí mật đưa kim sang dược, nước ấm và chăn dày vào hầm đá. Đặng lão đầu đã hạ sốt, vết trượng trên lưng đã được cầm máu. Tống Dực và Phan Cao tưởng lão cầm cự không qua ba ngày nên lơ là canh gác. Nhưng chúng ta chỉ có tối đa tám ngày nữa để lật lại toàn bộ vụ án trước khi kỳ khảo khóa Lại bộ kết thúc.”
“Tám ngày là quá đủ nếu chúng ta nắm được chuỗi chứng cứ chuẩn xác.” Mai Chi đặt bát chè xuống, đôi mắt nàng ánh lên tia nhìn sắc bén như lưỡi dao mổ: “Hôm nay, việc cấp bách nhất là tìm ra nơi ở bí mật của A Phúc và dấu vết của Huyễn Cốt Tán. Đại nhân có manh mối gì về các hiệu thuốc quanh vùng không?”
Đình Phong xòe chiếc quạt trúc, để lộ mặt quạt có ghi chép những dòng chữ chân phương bằng mực tàu: “Đêm qua sau khi rời cầu đá, ta đã thức trắng kiểm tra sổ bộ ghi chép của Ngự sử đài về việc mua bán dược liệu cấm tại kinh kỳ trong ba năm qua. Huyễn Cốt Tán là loại độc dược cực kỳ hiếm, phối chế từ ô đầu núi cao, phụ tử và cà độc dược theo tỷ lệ nghiêm ngặt. Muốn tinh chế thành dạng bột mịn không mùi, tan nhanh trong nước mà giữ nguyên độc tính phong bế khí huyết, người chế thuốc bắt buộc phải dùng loại cối đá hoa cương lòng hẹp và lò than nung nhiệt độ cao.”
Mai Chi gật đầu tán thưởng. Tư duy của vị Ngự sử trẻ tuổi này thực sự vượt xa những viên quan phong kiến thông thường. Chàng không hề dựa dẫm vào cảm tính mà biết truy xét từ đặc tính vật lý và công cụ gây án: “Rất chính xác. Ngoài ra, A Phúc có dị tật xương cẳng tay trái can lệch mười độ. Một người mang cánh tay như vậy khi làm việc nặng sẽ bị đau nhức gân cơ liên tục, đặc biệt vào những ngày ẩm ướt giao mùa. Hắn chắc chắn phải thường xuyên mua rượu thuốc xoa bóp hoặc cao dán hoạt huyết.”
“Đúng vậy!” Đình Phong mỉm cười, đôi mắt sáng rực lên vẻ khâm phục: “Ta đã khoanh vùng ba phường có nhiều tiệm bốc thuốc và thợ rèn lò than nhất: Phường Hàng Thiếc, Hàng Bè và vùng giáp ranh phường Yên Thái gần hồ lớn. Suốt hai canh giờ trước giờ Thìn, ta đã cử thân tín rà soát Hàng Thiếc và Hàng Bè, nhưng không thu được kết quả khả quan. Chỉ còn lại khu vực Yên Thái.”
“Phường Yên Thái...” Mai Chi lẩm bẩm, trong đầu nàng lập tức tái hiện tấm bản đồ kinh thành Thăng Long thời Khang Long mà nàng đã thuộc nằm lòng từ trí nhớ của thân xác Hoài Thu: “Nơi đó nổi tiếng với nghề làm giấy dướng. Đầm lầy, ao hồ chằng chịt, thợ thuyền đông đúc, khói ngâm vỏ dướng và mùi vôi nồng nặc quanh năm. Đó là nơi hoàn hảo nhất để che giấu mùi hăng nồng của thảo mộc độc hại và lò than luyện độc!”
“Không chỉ có vậy.” Đình Phong hạ thấp giọng xuống mức tối thiểu, ánh mắt trở nên thâm sâu: “Một tiệm thuốc bắc nhỏ ở đầu dốc đê Yên Thái có tên Vạn Xuân Đường từng báo cáo mất trộm một lượng lớn phụ tử và thạch tín cách đây nửa năm. Quan huyện Thọ Xương khi ấy gạt đi, cho là chuyện cỏn con của tiểu dân. Nhưng người bốc thuốc già của tiệm đó còn nhớ, kẻ hay lảng vảng mua thảo dược phụ trợ là một gã gầy guộc, tay trái co quắp, ăn mặc như gia bộc nhà quyền quý nhưng hành tung vô cùng lén lút.”
Mai Chi siết chặt nắm tay: “Chính là hắn. Chúng ta đi thôi!”
Đình Phong gật đầu, đứng dậy đặt thêm vài đồng tiền lên bàn rồi cùng Mai Chi rảo bước rời khỏi phố Hàng Bạc.
Hai người một trước một sau, giữ khoảng cách chừng vài bước chân như một công tử nhà lành cùng tiểu đồng theo hầu. Họ men theo bờ hồ Thủy Quân, băng qua những con ngõ quanh co lát gạch nghiêng của kinh thành, hướng thẳng về phía tây bắc thành Thăng Long, nơi phường Yên Thái ngàn đời nay vẫn âm vang tiếng chày giã giấy.
Càng tiến gần đến phường Yên Thái, không khí càng trở nên đặc quánh mùi ngai ngái của bùn nước và mùi ngạt nồng của vỏ cây ngâm vôi. Tiếng chày gỗ giã trên cối đá dập dồn như nhịp trống trận trầm đục: “Thình thịch... thình thịch...”. Sương mù mịt mùng bay là là trên mặt nước các hồ đầm, hòa cùng khói đốt lá dướng tạo nên một khung cảnh huyền ảo nhưng âm u đến lạnh gáy.
Theo chỉ dẫn của người bốc thuốc già tiệm Vạn Xuân Đường, A Phúc thường biến mất vào một con ngõ cụt sâu hun hút nằm giáp ranh giữa bãi lau sậy ven hồ và khu xưởng ngâm vỏ dướng bỏ hoang.
Đình Phong dẫn Mai Chi luồn lách qua những rặng tre gai cằn cỗi. Bùn đất dưới chân lầy lội, bám chặt lấy đế hài. Con đường mòn nhỏ hẹp chỉ vừa một người đi, cỏ dại mọc lút đầu gối, gai cào xước cả ống quần thô của Mai Chi. Nhưng nàng không hề thốt lên một tiếng than vãn, từng bước chân vẫn vững vàng, ánh mắt quan sát không bỏ sót bất kỳ cọng cỏ hay dấu vết cọ xát nào trên mặt đất.
“Đằng kia.” Đình Phong khẽ dừng bước, đưa chiếc quạt trúc chỉ về phía trước.
Hiện ra sau rặng chuối hoang xơ xác là một căn nhà tranh vách đất lụp sụp, dột nát. Mái tranh đã mục rữa từng mảng lớn, để lộ bộ rui mè bằng tre xám ngoét. Vách đất trát rơm nứt nẻ chằng chịt như mạng nhện, nhiều chỗ đã lở trơ cả khung tre đan bên trong. Xung quanh căn nhà tĩnh mịch đến rợn người, không có tiếng gà gáy, không bóng người qua lại, chỉ có tiếng ếch nhái uể oải kêu dưới mương nước tù đọng đen ngòm sát hiên nhà.
Mai Chi không vội vàng bước tới. Nàng đứng lại cách cửa nhà chừng mười trượng, nheo mắt quan sát toàn cảnh hiện trường. Thói quen nghề nghiệp của một thẩm phán hình sự lập tức vận hành như một cỗ máy chính xác.
“Đại nhân, nhìn dưới đất.” Mai Chi khẽ chỉ tay: “Cỏ dại quanh lối đi bị dẫm nát không đều. Có hai vệt bánh xe bò chở nặng lún sâu vào lớp bùn sét cách đây chừng bốn, năm ngày, hướng đi từ căn nhà này thẳng ra phía đầm lầy Tây thành. Đây chính là vết xe chở thi thể không đầu!”
Đình Phong cúi người nhìn kỹ rãnh bùn khô cứng lại, trong mắt lóe lên tia thán phục: “Nàng thật tinh ý. Nếu không có nhãn quan này, ta chỉ nghĩ đó là xe chở vỏ dướng của dân làng.”
“Cửa liếp khép hờ, nhưng chốt tre bên trong bị giật đứt bằng ngoại lực, đầu gỗ gãy còn mới.” Mai Chi tiếp tục phân tích khi tiến sát lại hiên nhà: “Kẻ vào đây gần nhất không phải là chủ nhân căn nhà bước vào bằng chìa khóa, mà là có người xông vào khống chế hoặc lục soát.”
Đình Phong cẩn trọng rút nhẹ thanh đoản kiếm giấu trong tay áo ra nửa tấc, tay kia đẩy nhẹ cánh cửa liếp mục nát: “Để ta vào trước.”
“Kẹt... ét...” Tiếng bản lề tre khô khốc vang lên giữa không gian tịch mịch.
Bên trong căn nhà tối tăm, ẩm thấp và bốc lên một mùi hỗn tạp khó chịu: mùi ẩm mốc của rơm rạ mục, mùi than củi nguội lạnh và một thoáng tanh nồng thoang thoảng của thảo dược đã khô kiệt. Ánh sáng yếu ớt của buổi sớm lọt qua những lỗ thủng trên mái tranh, chiếu rọi những hạt bụi li ti đang lơ lửng giữa không trung.
Gian nhà vỏn vẹn chừng hai gian hẹp. Gian ngoài đặt một chiếc chõng tre gãy một chân kê tạm bằng hòn đá xanh, một chiếc bàn con siêu vẹo bên trên vương vãi vài mảnh bát sành vỡ. Gian trong là một góc bếp nhỏ đắp bằng đất sét, tro lạnh ngắt từ lâu.
Đình Phong đưa mắt đảo quanh, khẽ nhíu mày: “Nơi này dường như đã bị kẻ nào đó lục tung lên rồi. Đồ đạc vứt ngổn ngang, tủ gỗ nhỏ ở góc tường cũng bị cạy nát.”
“Lục soát chứng tỏ kẻ thủ ác đang tìm kiếm một thứ gì đó vô cùng quan trọng mà A Phúc cất giấu.” Mai Chi bước vào giữa gian phòng, đôi mắt nàng quét qua từng tấc đất: “Và chúng lục soát trong vội vã. Những kẻ lục soát vội vàng thường chỉ để ý đến những nơi dễ thấy như rương hòm, chăn chiếu, mái tranh. Nhưng một kẻ làm việc mờ ám, luôn sống trong nỗi sợ hãi bị chủ nhân trừ khử như A Phúc, chắc chắn sẽ giấu bí mật ở nơi không ai ngờ tới.”
Mai Chi quỳ một chân xuống nền đất nện, chiếc nón lá rách được nàng tháo ra đặt sang một bên. Đôi bàn tay thanh mảnh nhưng đầy vết chai sạn bắt đầu rà soát từng phiến ván gỗ lót sàn sát chân tường phía tây – nơi khô ráo nhất của căn nhà.
Nàng gõ nhẹ đầu ngón tay xuống nền ván: “Cốc... cốc... cộp.”
Âm thanh ở góc trong cùng vang lên một tiếng trầm đục khác thường, có độ rỗng bên dưới!
“Đại nhân, giúp ta bẩy phiến ván này lên.”
Đình Phong lập tức bước tới, dùng mũi kiếm nhẹ nhàng lách vào khe nứt giữa hai tấm ván sàn. Chàng khẽ vận lực cổ tay, tấm ván mục kêu lên một tiếng “rắc” rồi bật tung ra.
Bên dưới lớp ván sàn ẩm mốc là một hốc đất nhỏ sâu chừng một gang tay, được lót bằng một mảnh lá sen khô đã giòn vụn. Nằm gọn trong hốc đất là một chiếc cối đá nhỏ bằng nắm tay người lớn, lòng cối khoét sâu và nhẵn bóng, cùng một chiếc chày bằng sắt đen nhánh dài chừng năm tấc.
Mai Chi cẩn thận nhấc chiếc cối đá lên. Nàng không dùng tay trần chạm vào lòng cối mà rút chiếc khăn vải sạch trong người ra bọc lấy mép đá. Đưa chiếc cối ra sát luồng ánh sáng le lói từ mái nhà rọi xuống, nàng nheo mắt nhìn kỹ.Dưới đáy lòng cối và bám chặt vào các rãnh li ti của thớ đá hoa cương là một lớp bột mịn màng, có màu xám tím kỳ dị.
Mai Chi đưa chiếc cối lên cách mũi chừng nửa gang tay, dùng bàn tay khẽ phẩy nhẹ luồng khí vào mũi. Một mùi hạnh nhân đắng thoang thoảng, quyện lẫn vị tanh nồng nhàn nhạt xộc vào khứu giác.
“Thế nào? Nàng phát hiện ra điều gì?” Đình Phong nín thở hỏi, chàng cúi sát lại gần, ánh mắt chăm chú dõi theo từng cử chỉ chuyên nghiệp đến kinh ngạc của nàng.
“Đây chính là Huyễn Cốt Tán nguyên chất!” Mai Chi khẳng định chắc nịch, giọng nói đanh lại: “Cặn bột màu xám tím này hoàn toàn trùng khớp với mẫu bột độc ta đã cạo được từ trong niêm mạc phế quản và dạ dày của tử thi không đầu đêm hôm trước!”
Đình Phong rùng mình: “Huyễn Cốt Tán... loại độc dược này rốt cuộc tàn độc đến mức nào?”
Mai Chi đặt chiếc cối đá xuống một phiến ván khô, đôi mắt nàng nhìn vào khoảng không vô định, giọng nói trầm xuống như đang tái hiện lại một bản giám định pháp y lạnh lùng:
“Huyễn Cốt Tán không giết người bằng cách phá hủy lục phủ ngũ tạng như thạch tín, cũng không làm chảy máu mũi miệng như đoạn trường thảo. Nó là một loại độc tố thần kinh cực mạnh. Khi bột độc này hòa vào rượu hoặc canh nóng, nó không mùi không vị, ngấm cực nhanh qua niêm mạc dạ dày vào máu. Độc tố sẽ lập tức phong bế các đường dẫn truyền thần kinh vận động, khiến toàn bộ cơ bắp trên cơ thể nạn nhân rơi vào trạng thái tê liệt hoàn toàn.”
Nàng nhìn thẳng vào mắt Đình Phong, từng câu từng chữ như búa gõ vào tâm can:
“Đại nhân có biết điều khủng khiếp nhất là gì không? Nạn nhân không hề hôn mê. Trí não của họ hoàn toàn tỉnh táo, mắt vẫn nhìn thấy, tai vẫn nghe thấy, cảm giác đau đớn vẫn vẹn nguyên từng tấc da thịt, nhưng miệng không thể phát ra tiếng kêu, ngón tay không thể nhúc nhích. Sau đó, độc tố lan đến cơ liên sườn và cơ hoành – các cơ bắp điều khiển hơi thở. Các cơ này co cứng lại, không thể co giãn để hút khí vào phổi. Nạn nhân sẽ chết từ từ trong sự ngạt thở tuyệt vọng kéo dài suốt nửa canh giờ, chứng kiến chính mình nghẹn thở mà chết trong sự bất lực tột cùng!”
Đình Phong siết chặt chuôi kiếm, khớp ngón tay trắng bệch vì phẫn nộ: “Tàn nhẫn... Thật là súc sinh vô nhân tính! Trịnh Khải dùng thứ độc này để giết A Phúc, chính là muốn tra tấn hắn đến chết!”
“Đúng vậy. Đó là lý do vì sao khi ta mổ lồng ngực tử thi, phổi của nạn nhân ứ đầy máu đen, màng phổi xuất hiện các nốt xuất huyết li ti hình giọt nước đặc trưng của cái chết ngạt cơ học do liệt cơ hô hấp.” Mai Chi cẩn thận dùng một tờ giấy bản gói một ít cặn bột xám tím lại, cất vào trong túi áo: “Chiếc cối đá này chứng minh A Phúc chính là người đã nghiền và tinh chế Huyễn Cốt Tán tại căn nhà hoang này. Hắn là tay chân đắc lực chế độc cho kẻ chủ mưu. Nhưng vì sao kẻ chủ mưu lại phải diệt khẩu hắn?”
“Bởi vì A Phúc biết quá nhiều, hoặc hắn đã nắm giữ một thứ gì đó có thể uy h**p ngược lại chủ nhân.” Đình Phong tiếp lời, ánh mắt chàng sắc lạnh: “Khi chiếc rương vàng hối lộ từ địa phương chuyển về kinh bị thất thoát, hoặc khi danh sách mua quan bán tước có nguy cơ bại lộ, A Phúc chính là con tốt thí mạng đầu tiên bị xóa sổ.”
Mai Chi gật đầu: “Kẻ thủ ác đến đây hạ độc A Phúc, ép hắn giao ra thứ đồ đó. Sau khi A Phúc chết vì ngạt thở, chúng lôi xác hắn lên xe bò, chở ra đầm lầy Tây thành. Tại đó, chúng dùng trọng đao chặt đầu và chặt đứt hai bàn tay để xóa toàn bộ dấu vết nhân dạng, rồi vứt xác xuống bùn lầy sâu hoắm. Chúng ngỡ rằng bùn lầy và thời gian sẽ nuốt chửng tội ác vĩnh viễn.”
“Nhưng chúng không ngờ trời cao có mắt, bùn lầy lại đẩy thi thể nổi lên, và nàng đã nhìn thấu toàn bộ màn kịch đẫm máu này!” Giọng Đình Phong ngập tràn niềm tin sắt đá.
Mai Chi khẽ lắc đầu, ánh mắt nàng vẫn chưa hề buông lỏng cảnh giác: “Vẫn chưa đủ, đại nhân. Chiếc cối đá và bột Huyễn Cốt Tán này chỉ chứng minh được nguyên nhân chết và nơi điều chế độc dược. Nó vẫn chưa thể trực tiếp chỉ thẳng vào Trịnh Khải hay Thượng thư phủ họ Trịnh. Trước công đường, Trịnh Bá Tùng hoàn toàn có thể trơ tráo nói rằng A Phúc tự ý ăn cắp độc dược, tự ý gây án, hoặc vu cho một kẻ vô danh nào đó. Chúng ta cần một vật chứng không thể chối cãi, một vật chứng gắn liền trực tiếp huyết mạch của Trịnh phủ vào căn nhà này!”
Hai người im lặng, không khí trong căn nhà hoang lại chùng xuống nặng nề. Tám ngày, thời gian như một sợi dây thòng lọng đang siết chặt dần quanh cổ cha con nàng và góa phụ Lê thị.
Mai Chi đứng dậy, bước chầm chậm về phía góc bếp. Căn bếp này cực kỳ đơn sơ, chỉ có hai hòn gạch nung kê làm kiềng, tro bếp nguội ngắt đã kết thành tảng vì ẩm nước mưa dột. Phía trên bếp là một chiếc nồi đất nứt toác bị vứt chỏng chơ.
Mai Chi ngồi xổm xuống, nhặt một que tre khô lên, khẽ bới từng lớp tro xám xịt.
“Nàng đang tìm gì?” Đình Phong bước lại gần.
“Tâm lý con người khi bị truy sát hoặc khi biết mình sắp gặp nguy hiểm.” Mai Chi vừa gạt tro vừa nói, giọng điệu bình tĩnh lạ thường: “A Phúc là tâm phúc của Trịnh Khải suốt nhiều năm. Hắn biết rõ tính khí tàn bạo, đa nghi của chủ nhân. Khi Trịnh Khải bắt hắn điều chế Huyễn Cốt Tán và dính líu vào các vụ án mờ ám, A Phúc chắc chắn phải linh cảm được ngày mình bị diệt khẩu không còn xa. Một kẻ giảo hoạt như hắn tuyệt đối không chịu ngồi chờ chết mà không chuẩn bị đường lui. Hắn sẽ giấu một thứ gì đó làm bùa hộ mệnh.”
Que tre trong tay Mai Chi khẽ chạm vào một vật cưng cứng ở góc khuất dưới chân hòn gạch bếp. Tiếng “kịch” nhỏ vang lên làm tim nàng đập nhanh một nhịp.
Nàng gạt phăng lớp tro than dính ướt, cẩn thận dùng que tre lôi ra một bọc nhỏ. Đó là một mảnh vải bị vò nát, vùi sâu dưới kẽ gạch ngập trong tro than nguội lạnh. Do tro bếp bao bọc kín nên mảnh vải không bị nước mưa làm mục nát hoàn toàn.
Mai Chi dùng hai đầu ngón tay khẽ mở mảnh vải ra.
Đó là một góc bị xé rách từ vạt áo lót trong. Mảnh vải không phải là vải thô hay vải đũi tầm thường của hạng gia bộc nghèo hèn, mà là lụa tơ tằm thượng hạng màu ngà voi, dệt vân mây chìm cực kỳ mềm mại, trơn bóng như nước hồ thu. Loại lụa này chỉ có các xưởng dệt thượng uyển triều đình hoặc các đại gia tộc quyền quý bậc nhất kinh kỳ mới có tư cách sử dụng.
Nhưng điều khiến đồng tử của cả Mai Chi và Đình Phong cùng co rút lại chính là góc viền của mảnh lụa.
Nơi mép vải rách, người ta dùng chỉ vàng kim – loại chỉ kim tuyến thượng hạng se từ vàng thật – thêu một họa tiết chìm vô cùng tinh xảo: Một đóa hoa mẫu đơn nở rộ tám cánh, cuộn tròn giữa những dải mây lành cuồn cuộn!
“Gia huy hoa mẫu đơn...” Đình Phong thốt lên, giọng chàng run lên vì một cơn chấn động mãnh liệt: “Đây là hoa mẫu đơn bát diệp! Biểu trưng độc môn của gia tộc họ Trịnh! Chỉ có đích hệ tử tôn của Lại bộ Thượng thư Trịnh Bá Tùng mới được phép thêu hoa văn này trên lớp áo lót!”
Mai Chi áp ngón tay lên từng đường chỉ thêu kim tuyến, cảm nhận rõ rệt sự sắc sảo của từng mũi kim: “Mảnh vải này bị xé rách bằng một lực giật cực mạnh. Nhìn mép sợi tơ bị tước ra không đều, đây là kết quả của một cuộc giằng co sinh tử. Khi Trịnh Khải hoặc kẻ thân tín của hắn xông vào đây hạ sát A Phúc, trong cơn giãy giụa tuyệt vọng trước khi bị độc dược làm tê liệt hoàn toàn, A Phúc đã dùng hết tàn lực túm chặt lấy vạt áo của kẻ thủ ác và giật đứt góc áo này!”
Ánh mắt Mai Chi rực sáng như ngọn lửa bùng lên giữa đêm đen: “A Phúc biết mình không thể sống sót. Trước khi bất tỉnh hoàn toàn, hắn đã kịp vùi mảnh vải này vào sâu dưới hốc bếp, dùng tro than phủ lên để che mắt kẻ thù. Hắn muốn để lại bằng chứng vạch mặt kẻ đã giết mình!”
Đình Phong nhìn mảnh vải lụa thêu mẫu đơn vàng kim trong tay Mai Chi, lồng ngực chàng phập phồng kịch liệt. Khí phách của một đấng nam nhi, một vị quan Ngự sử coi thường cường quyền dâng trào cuồn cuộn trong huyết quản:
“Huyễn Cốt Tán... cối đá giã độc... và mảnh áo thêu gia huy của Trịnh Khải! Chuỗi bằng chứng này đã kết thành một sợi xích sắt không thể phá vỡ! Dù Trịnh Bá Tùng có dùng quyền khuynh thiên hạ, thao túng Lại bộ, uy h**p Đô Sát Viện, lão cũng không thể bẻ cong được sự thật này trước bàn dân thiên hạ!”
“Đúng vậy.” Mai Chi khẽ thở ra một hơi dài, cảm giác nhẹ nhõm hiếm hoi len lỏi vào tâm trí nàng: “Có mảnh vải này, chúng ta có thể yêu cầu đối chiếu với y phục dạ hành của Trịnh Khải trong đêm A Phúc mất tích. Dù hắn có đốt chiếc áo đó đi, thì vết rách trên thân áo và cuộn lụa tơ tằm gia bảo trong phủ Thượng thư cũng không bao giờ xóa sạch được dấu vết!”
Nàng cẩn thận gấp mảnh vải lụa lại, chuẩn bị cho vào bọc vải hộ thân bên ngực áo.
Thế nhưng, đúng vào khoảnh khắc ngón tay Mai Chi vừa chạm vào vạt áo, một luồng hàn khí sắc lạnh đột ngột từ sau gáy nàng ập tới!
Một dự cảm hiểm nguy chết chóc của người từng nhiều năm đứng giữa ranh giới sinh tử khiến các tế bào thần kinh của nàng giật nảy lên. Không khí ẩm ướt trong căn nhà hoang dường như đông cứng lại trong tích tắc.
“CẨN THẬN!”
Đình Phong thét lên một tiếng kinh hoàng xé toạc không gian tĩnh mịch!
Thân hình chàng lao tới như một bóng chớp xanh, cánh tay mạnh mẽ của chàng vươn ra, túm chặt lấy vai Mai Chi kéo giật mạnh nàng về phía sau lưng mình!
“VÚT——! PHẬP!”
Một tiếng rít xé gió rợn người xuyên thủng qua cánh cửa liếp mục nát.
Một mũi tiễn thép đen nhánh dài nửa thước bắn xuyên qua không gian, sượt qua chỏm vai áo của Mai Chi chỉ trong đường tơ kẽ tóc, cắm phập sâu ba tấc vào thân cột gỗ lim mục nát ngay tại vị trí nàng vừa ngồi xổm cách đó nửa chớp mắt!
Lực bắn khủng khiếp làm rung chuyển cả thân cột, bụi rơm từ mái tranh rơi lả tả xuống sàn.
Mai Chi ngước mắt nhìn lên. Nơi mũi tên thép vừa c*m v**, thân gỗ lim lập tức sủi bọt trắng xóa, một làn khói đen khét lẹt bốc lên nghi ngút, ăn mòn lớp gỗ với tốc độ kinh hoàng. Mũi tên được tẩm kịch độc thấy máu là phong hầu!
Chưa kịp để hai người định thần, từ bên ngoài rặng chuối và rặng tre hoang, hàng loạt tiếng bước chân dẫm đạp dồn dập trên lớp bùn lầy vang lên rầm rập, bao vây chặt cứng lấy căn nhà hoang từ bốn phương tám hướng!