Gió sớm thổi qua khoảng sân rộng trước cửa Đoan Môn, cuốn theo hơi lạnh ẩm ướt của sương mai và hương trầm thanh khiết tỏa ra từ đỉnh đồng ngự giá. Ba hồi chín tiếng trống Đăng Văn vừa dứt, dư âm trầm hùng vẫn còn rung bần bật trong lồng ngực vạn người, tựa như một lời hiệu triệu xé toạc màn sương u tối đã bao phủ kinh thành Thăng Long suốt bao năm ròng.
Giữa luồng ánh sáng ban mai vàng rực vừa tràn qua vòm cổng son, tà áo trắng của Đặng Mai Chi khẽ bay bay.
Nàng cất bước.
Từng bước chân đạp lên phiến đá xanh Thanh Hoa cổ kính, vững chãi, nhịp nhàng và chuẩn xác như chiếc kim đồng hồ đang đếm ngược thời khắc phán xét. Đôi hài vải thô dẫm lên mặt đá lạnh lẽo không phát ra tiếng động thừa thãi, chỉ có tiếng tà áo giao lĩnh cọ xát nhè nhẹ vào nhau. Hai bên đường tiến vào công đình, hàng cấm vệ quân nai nịt gọn gàng, giáo dài sáng loáng dựng đứng như rừng gươm, ánh thép phản chiếu vào đôi mắt phẳng lặng của người thiếu nữ áo trắng một thứ hào quang sắc lạnh.
Phía sau hàng rào gỗ ngăn cách, biển người bách tính Thăng Long nghẹt thở dõi theo. Có tiếng xì xào, có ánh mắt hoài nghi, kinh ngạc, và cả những tia hy vọng le lói bùng lên từ đáy mắt của những người dân lam lũ. Một nữ nhân! Một thiếu nữ tuổi đời chưa tròn đôi mươi, khoác trên mình bộ tố phục trắng tinh không một gợn bụi, mái tóc chỉ cài duy nhất chiếc trâm gỗ mộc mạc, đang một mình tiến vào nơi tôn nghiêm tột bậc của vương triều.
Mai Chi không liếc nhìn đám đông, cũng chẳng hề run sợ trước hàng giáo mác tua tủa. Trong tâm thức của một nữ thẩm phán hình sự từng trải qua hàng trăm phiên đại án sinh tử ở thế kỷ hai mươi mốt, không gian rộng lớn của cửa Đoan Môn lúc này chỉ là một phòng xử án có quy mô đặc biệt mà thôi. Bục cao kia là vành móng ngựa và bàn thẩm phán; đám đông kia là người dự khán; còn những kẻ khoác áo gấm bào lộng lẫy đang đứng run rẩy bên tả hữu chính là những bị cáo đang chờ công lý gọi tên.
Và ở đó, ngay dưới chân thềm rồng, bóng dáng quen thuộc trong bộ thanh bào giản dị của Trần Đình Phong sừng sững như một cây tùng đón gió.
Khi bước chân nàng tiến gần hơn, Mai Chi lập tức nhận ra một vệt máu đỏ sẫm đang âm thầm loang rộng ra bên mạn sườn chàng, thấm qua lớp vải xanh thẫm, bốc lên mùi tanh nồng bị che lấp bởi hương đàn hương ngự ban. Sắc mặt Đình Phong trắng bệch, đôi môi tái nhợt vì nọc độc của hoa ô đầu và nọc rắn vẫn đang âm ỉ cắn nuốt khí huyết, nhưng lưng chàng vẫn thẳng tắp, ánh mắt nhìn nàng chan chứa một niềm tin sắt đá, không chút lay chuyển.
Chàng đã đem cả tính mạng, tước vị và bảo vật ngự ban của gia tộc ra để mở toang cánh cửa này cho nàng.
Bàn tay giấu trong tay áo thụng của Mai Chi khẽ siết chặt. Trái tim nàng nhói lên một nhịp đau xót nghẹn ngào, nhưng rất nhanh, cảm xúc ấy được nén sâu vào tận đáy lòng, hóa thành ngọn lửa ý chí lạnh lùng, sắc bén vô cùng. Nàng đi lướt qua chàng, tà áo trắng khẽ chạm nhẹ vào vạt thanh bào đẫm máu. Không một lời nói, chỉ có một cái liếc mắt tương giao ngắn ngủi trong chớp mắt, nhưng đủ để cả hai thấu suốt tâm can nhau: Sống chết cùng nhau, quyết không lùi bước!
Dừng lại cách ngự tọa mười bước chân, Mai Chi vén tà áo, quỳ xuống dập đầu hành lễ theo đúng quy thức triều đình:
“Thứ dân Đặng Hoài Thu, ngụ tại huyện Thọ Xương, khấu kiến Hoàng thượng. Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”
Giọng nói của nàng vang lên trong trẻo, không hề run rẩy, âm lượng vừa đủ để truyền khắp khoảng sân thềm rồng tĩnh mịch, toát lên phong thái đĩnh đạc lạ thường.
Trên ngai vàng chạm trổ cửu long, Khang Long Đế khẽ tựa lưng vào thành ngai, đôi mắt phượng sâu thẳm nhìn chằm chằm vào thiếu nữ bên dưới. Ngài đã quen nhìn thấy các đại thần run rẩy phủ phục dưới chân mình, quen thấy những kẻ quyền quý mặt cắt không còn giọt máu khi diện kiến thiên nhan. Thế nhưng nữ tử trước mắt ngài, dù vóc dáng mảnh mai, phong trần vương nét khắc khổ của con nhà ngục tốt, nhưng tư thế quỳ thẳng tắp như nhánh trúc, ánh mắt ngước lên nhìn thẳng vào ngai vàng phẳng lặng tựa mặt hồ không đáy.
Đó không phải là sự ngạo mạn vô lễ, mà là sự tự tin tuyệt đối của một kẻ nắm giữ chân lý trong tay.
Thế nhưng, sự tĩnh lặng tôn nghiêm ấy chưa kéo dài được ba hơi thở thì một làn sóng phẫn nộ đã bùng nổ từ phía hàng quan lại của Lại bộ.
“To gan! Thật là to gan lớn mật!”
Một tiếng quát the thé vang lên xé toạc bầu không khí. Viên Viên ngoại lang Lại bộ – tay chân thân tín của Trịnh Bá Tùng – lập tức bước xộc ra khỏi hàng ngũ, quỳ sụp xuống hướng về ngai vàng, tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Mai Chi:
“Khởi bẩm Bệ hạ! Nơi cửa Đoan Môn là chốn tôn nghiêm của triều đình, ngày mở Khảo khóa là đại lễ của quốc gia! Cớ sao lại để một đứa nghiệt nữ tiện tịch, con gái của một tên coi ngục hèn mọn bước lên thềm rồng ô uế thánh nhãn? Nữ nhi bất đắc đăng đình! Xưa nay lễ giáo cương thường, thánh hiền đã dạy phụ nữ chỉ việc tòng phu tòng tử, chốn công đường quyết không có chỗ cho đàn bà can dự!”
Tiếng Viên ngoại lang vừa dứt, hàng chục đại thần phe cánh họ Trịnh lập tức đồng thanh nhao nhao phụ họa, tạo thành một luồng thanh thế áp đảo:
“Đúng vậy! Bệ hạ vạn lần không thể phá bỏ điển lệ ngàn năm!”
“Tiện tỳ này ắt hẳn bị kẻ gian xúi giục, yêu ngôn hoặc chúng hòng làm rối loạn triều cương!”
“Cầu xin Hoàng thượng hạ lệnh tống giam ả đàn bà điên rồ này, lôi ra ngoài cửa chợ đánh một trăm trượng, trảm quyết thị chúng để răn đe kẻ dưới, giữ nghiêm luân thường đạo lý phong kiến!”
Những lời thóa mạ cay độc, những tiếng quát tháo mang nặng định kiến ngàn đời như những lưỡi dao vô hình bổ xuống tấm thân mảnh mai của Mai Chi. Trịnh Bá Tùng đứng ở đầu hàng quan Lại bộ, chòm râu dài chau chuốt khẽ rung rinh. Đôi mắt cáo già của lão nheo lại, khóe môi thoáng hiện một nụ cười thâm độc, lạnh lẽo. Lão muốn mượn áp lực của đạo lý cương thường và tiếng nói của cả triều đình để nghiền nát con sâu cái kiến này ngay trước khi nó kịp mở miệng.
Thế nhưng, đối diện với làn sóng giận dữ ngập trời ấy, Đặng Mai Chi vẫn quỳ thẳng lưng, nét mặt không một gợn sóng. Nàng không hề hoảng loạn, cũng không cầu xin thương xót. Đợi cho tiếng la ó của đám quan lại lắng xuống đôi chút, nàng mới từ tốn ngẩng đầu.
Đôi mắt nàng quét qua từng gương mặt đang đỏ gay vì giận dữ của các quan chức Lại bộ, ánh nhìn sắc như dao cạo khiến vài kẻ chột dạ vô thức lùi lại nửa bước.
“Các vị đại nhân miệng nói luân thường, tay chỉ thánh hiền, chẳng hay đã đọc hết cuốn Khang Long Hình Thư do chính Thái Tổ Hoàng đế đích thân chuẩn định hay chưa?”
Thanh âm của Mai Chi không cao, nhưng rõ ràng, rành mạch, từng chữ từng câu đanh thép như tiếng ngọc rơi trên mâm vàng, vang vọng khắp bốn bề.
Viên ngoại lang Lại bộ biến sắc, giận dữ quát: “Hỗn xược! Chốn triều đình há để một đứa tiện tỳ như ngươi chất vấn quan viên về hình luật?”
“Dân nữ không dám chất vấn, dân nữ chỉ muốn nhắc nhở đại nhân về phép nước!” Mai Chi lạnh lùng nhìn thẳng vào mắt gã, ngữ điệu dứt khoát như đang tuyên đọc bản cáo trạng tại công đình: “Theo Khang Long Hình Thư, Thiên thứ nhất về Danh Lệ, Điều thứ bảy quy định rõ: ‘Pháp độ lập ra là để an dân, lấy dân làm gốc. Phàm là con dân Đại Việt, bất luận sang hèn, nam phụ lão ấu, hễ mang mối oan khuất động trời không nơi nương tựa, đều có quyền gióng trống Đăng Văn để diện kiến thiên tử trần tình.’ Các vị đại nhân viện cớ lề thói hủ bại để bịt miệng thứ dân, há chẳng phải đang công khai xem thường thánh dụ của Thái Tổ Hoàng đế, muốn biến luật pháp thành bức bình phong che đậy cho quyền thế hay sao?”
Đám quan lại vừa mở miệng định chửi bới lập tức nghẹn họng. Nhiều lão thần của Bộ Hình và Hàn Lâm Viện giật mình kinh ngạc, đưa mắt nhìn nhau đầy hoài nghi.
Không dừng lại ở đó, Mai Chi hơi xoay người, hướng về phía ngự tọa, giọng nói càng thêm phần đanh thép:
“Lại theo Thiên thứ mười về Đoán Ngục, Điều thứ mười sáu ghi rành rành: ‘Phàm các vụ đại án sát nhân, ngục quan và ngỗ tác có nghĩa vụ bảo toàn nguyên trạng vật chứng và thi thể. Nhược bằng phát hiện dấu hiệu tra khảo bức cung, dùng nhục hình ép cung, hoặc khám nghiệm dối trá, người thân thích và nhân chứng có quyền yêu cầu đình chỉ chấp pháp để mở cuộc phúc nghiệm công khai trước nha môn cấp trên.’ Hôm nay, góa phụ Lê thị bị đòn roi ép nhận tội giết người, bản án đầy rẫy sơ hở, ngỗ tác ngụy tạo án thư, quan huyện vội vã khép án tử để báo công thăng chức. Dân nữ đứng đây, không phải với tư cách của một nữ nhi khuê các, mà là một nhân chứng nắm giữ chân tướng khoa học của vụ án, đại diện cho lẽ phải và sinh mạng của kẻ vô tội!”
Nàng dừng lại một nhịp, lồng ngực phập phồng nhưng ánh mắt sáng rực như đuốc:
“Xin hỏi Bệ hạ, xin hỏi văn võ bá quan: Máu của một góa phụ nghèo hèn chảy ra dưới đòn roi oan sai, có khác gì máu của bậc quyền quý vương tôn? Luật pháp của Tiên đế dựng nên là để bảo bọc con dân, hay là để những kẻ tham lam, tàn bạo giẫm đạp lên sinh mạng của kẻ yếu thế? Nếu một nữ tử nhìn thấy sự thật mà phải câm lặng chỉ vì mang thân phận đàn bà, thì cái gọi là thái bình thịnh trị, kỷ cương phép nước của Đại Việt ta, rốt cuộc để làm gì?!”
Oang...!
Từng lời, từng chữ của Mai Chi như những hồi chuông đồng giáng thẳng vào tâm can của hàng trăm con người đang có mặt tại cửa Đoan Môn. Toàn thể quảng trường rộng lớn rơi vào một sự tĩnh lặng đến rợn người.
Không một ai ngờ rằng, một thiếu nữ mười chín tuổi xuất thân nơi xóm ngục tăm tối lại có thể thông thuộc điển chương hình luật đến mức làu làu từng điều khoản, càng không thể ngờ nàng lại có một khí phách hiên ngang, lập luận sắc bén và tư duy pháp lý uyên thâm, vượt xa cả những bậc túc nho chốn khoa cử!
Phía sau hàng rào, tiếng bàn tán của hàng ngàn bách tính bắt đầu râm ran rồi bùng lên như sóng trào:
“Nói hay lắm! Đúng là con gái nhà ngục lại có khác!”
“Luật pháp là để vì dân, sao lại cấm người ta kêu oan?”
“Trời cao có mắt! Nữ tử này nói trúng tim đen của dân nghèo chúng ta rồi!”
Trịnh Bá Tùng cắn chặt răng, bàn tay giấu trong tay áo run lên bần bật vì phẫn nộ. Lão liếc nhìn sang Tống Dực – kẻ đang đứng co ro đổ mồ hôi hột cách đó không xa – bằng một ánh mắt cảnh cáo đầy sát khí.
Trên long ỷ, Khang Long Đế khẽ nheo mắt lại. Nỗi kinh ngạc trong lòng vị hoàng đế bốn mươi tuổi đã chuyển thành sự thán phục sâu sắc. Ngài vốn chỉ muốn mượn vụ án này để gõ đầu bè lũ Lại bộ lộng quyền, nhưng khí chất kinh tài tuyệt luễm, phong thái tự tin và lập luận pháp trị của nữ tử áo trắng này thực sự đã làm lay động ngai vàng.
Khang Long Đế cất tiếng cười lớn, tiếng cười sảng khoái xua tan bầu không khí ngột ngạt:
“Hay! Một câu ‘Máu của góa phụ nghèo hèn có khác gì máu của bậc quyền quý vương tôn’ nói rất hay! Lời lẽ có cương có mục, bám chắc vào điển chương lập quốc của Thái Tổ. Trẫm trị vì thiên hạ, lấy đức hiếu sinh làm đầu, lấy pháp trị làm gốc. Nếu trẫm vì mấy lời hủ lậu của các ngươi mà bịt tai trộm chuông, chẳng hóa ra trẫm là một hôn quân hồ đồ hay sao?”
Ngài vung tay áo long bào, giọng điệu uy nghiêm tuyệt đối:
“Trẫm chuẩn tấu! Miễn lễ cho Đặng thị! Trẫm đặc cách ban quyền cho ngươi được đứng thẳng lưng trên công đường Đoan Môn này, giữ quyền đối chất và trực tiếp công khai toàn bộ chứng cứ trước ngự tiền và trước mặt vạn dân! Kẻ nào còn dám lảm nhảm về lề thói nam nữ, trẫm sẽ lột mũ áo đuổi về quê làm ruộng!”
“Tạ ơn Bệ hạ thánh minh!”Mai Chi dập đầu tạ ơn rồi ung dung đứng dậy. Dáng người nàng mảnh khảnh nhưng khi đứng thẳng, tư thế ấy lại hiên ngang bất khuất như một ngọn cờ cắm giữa phong ba.
Nhận thấy tình thế đã hoàn toàn đảo chiều, Trịnh Bá Tùng không thể ngồi yên được nữa. Lão ho nhẹ một tiếng, liếc mắt ra hiệu cho Đề hình khám lý Tống Dực.
Tống Dực giật mình, vội vàng lau mồ hôi trên trán, hít một hơi thật sâu rồi cầm một xấp văn thư bọc lụa vàng bước lên phía trước. Gã là một kẻ dày dạn kinh nghiệm chốn quan trường, tuy có phần chột dạ trước khí thế của Mai Chi, nhưng gã tin chắc rằng với danh xưng “Đề hình khám lý Thăng Long phủ” cùng hai mươi năm kinh nghiệm ngỗ tác của mình, gã hoàn toàn có thể b*p ch*t một con nhãi ranh bằng nghiệp vụ chuyên môn.
Tống Dực quỳ xuống bẩm báo:
“Khởi bẩm Hoàng thượng! Thần là Đề hình khám lý Tống Dực, người trực tiếp thụ lý việc khám nghiệm tử thi vụ án đầm lầy Tây thành. Thần thừa nhận Đặng thị có tài ăn nói giảo hoạt, trích dẫn luật pháp lưu loát, nhưng việc hình án cốt ở chứng cứ thực tế, ở y lý và nghiệm thi, tuyệt đối không thể dựa vào ba tấc lưỡi mà đổi trắng thay đen!”
Nói rồi, Tống Dực giơ cao xấp văn thư trong tay, giọng điệu trở nên hùng hồn, tự tin:
“Đây là bản Nghiệm thi văn thư do chính tay thần lập, có chữ ký và điểm chỉ của quan huyện Thọ Xương Đỗ Hữu Nghiêm cùng các ngỗ tác phụ tá. Mọi việc đều rõ như ban ngày: Nạn nhân là một nam tử trôi dạt dưới đầm lầy Tây thành, toàn thân trương phình, thanh quản ứ đọng bùn non, phổi tích nước nặng trĩu. Đây là dấu hiệu không thể chối cãi của việc chết do ‘trụy thủy’ – tức là chết ngạt dưới nước!”
Tống Dực liếc xéo Mai Chi đầy vẻ khinh miệt, rồi tiếp tục thao thao bất tuyệt trước hoàng đế và triều thần:
“Còn về việc đầu nạn nhân bị cắt lìa, vết chém trên cổ nham nhở, rách nát, các thớ thịt bị giằng xé hỗn loạn. Điều này chứng minh hung thủ không hề có nội lực của kẻ luyện võ, cũng không dùng đao kiếm sắc bén của nhà binh, mà dùng một loại công cụ thô sơ, sắc mỏng chém nhiều nhát liên tiếp mới đứt được cuống họng. Sau khi lục soát nơi ở của góa phụ Lê thị, nha môn Thọ Xương đã tìm thấy một con dao dệt lụa bằng thép mỏng cán gỗ, lưỡi dao có vết sứt mẻ hoàn toàn trùng khớp với vết cắt trên xương cổ! Lê thị do túng thiếu tiền bạc, lại có tư tình mờ ám với nạn nhân, trong lúc cãi vã đã xô nạn nhân xuống đầm lầy dìm chết, sau đó sợ bại lộ nên dùng dao dệt chặt đầu phi tang! Chứng cứ rõ ràng như núi, khẩu cung Lê thị đã điểm chỉ nhận tội, cớ sao Đặng thị lại dám ăn nói xằng bậy, vu khống quan phủ bức cung?”
Lời lẽ của Tống Dực vừa dứt, các quan chức phe Lại bộ lại được dịp gật gù đắc ý. Luận điểm của Tống Dực nghe qua vô cùng chặt chẽ, có văn thư, có tang vật là con dao dệt lụa, lại có cả khẩu cung nhận tội của hung thủ.
Trịnh Bá Tùng mỉm cười nhẹ nhõm, ánh mắt nhìn Mai Chi như nhìn một kẻ đã bước một chân vào cửa tử.
Khang Long Đế trầm ngâm, ánh mắt ngài chuyển sang Mai Chi:
“Đặng thị, Đề hình khám lý đã đưa ra văn thư nghiệm thi và hung khí dao dệt lụa. Ngươi có gì để phản bác?”
Trần Đình Phong đứng bên cạnh khẽ run rẩy, chàng nén cơn đau thấu xương nơi lồng ngực, bàn tay nắm chặt chuôi kiếm giấu dưới lớp áo. Chàng hiểu rõ, đây chính là thời khắc sinh tử. Toàn bộ tính mạng của gia đình Đặng Bỉnh, Lê thị và cả chính chàng đều đang đặt cược vào câu trả lời của Mai Chi.
Dưới ánh mắt chăm chú của muôn người, Đặng Mai Chi khẽ nhếch khóe môi.
Nụ cười ấy lạnh lùng, giễu cợt và tràn đầy sự khinh bỉ của một chuyên gia pháp y đỉnh cao nhìn vào trò hề nghiệp vụ của một kẻ bất lương học đòi làm khoa học.
“Tống khám lý,” Mai Chi cất bước tiến lại gần Tống Dực, giọng nói thong thả nhưng sắc bén như dao mổ vạch da: “Hai mươi năm làm ngỗ tác của ngươi, xem ra chỉ dùng để học cách nịnh hót cấp trên và bẻ cong sự thật mà thôi!”
Tống Dực giận tím mặt: “Ngươi... ngươi dám sỉ nhục ta?”
“Ta không sỉ nhục ngươi, ta đang thương hại cho sự dốt nát và độc ác của ngươi!” Mai Chi quay phắt lại, cất cao giọng: “Ngươi nói nạn nhân chết vì trụy thủy ngạt nước? Ngươi nói bùn non trong thanh quản và nước trong phổi là bằng chứng chết đuối? Thật là nực cười! Một kẻ chết đuối thực sự khi hít phải nước vào phổi trong cơn giãy giụa tuyệt vọng, bọt khí sẽ trào ngược ra khoang mũi miệng tạo thành ‘nấm bọt’ màu trắng xốp bền vững, đáy mắt và màng phổi sẽ xuất huyết điểm hình chấm do vỡ mao mạch! Nhưng thi thể dạt vào đầm lầy Tây thành không hề có những dấu hiệu đó!”
Tống Dực trố mắt, lắp bắp: “Ngươi... ngươi nói bậy! Nước vào phổi thì là chết đuối, làm gì có thứ nấm bọt nào...”
“Đó là vì ngươi chưa bao giờ dùng mắt để nhìn bản chất của một xác chết!” Mai Chi đanh giọng cắt ngang: “Bùn non và nước trong khoang miệng của nạn nhân không phải do hít vào khi còn sống, mà là do thi thể sau khi chết bị ném xuống bùn lầy, qua nhiều ngày phân hủy sinh khí trương phình, chênh lệch áp suất tự nhiên đã đẩy nước bẩn tràn thụ động vào khoang họng! Nạn nhân đã chết từ trước khi bị ném xuống đầm lầy!”
Cả công đình xôn xao. Những khái niệm “nấm bọt”, “xuất huyết mao mạch”, “tràn dịch thụ động” hoàn toàn xa lạ với y thuật cổ đại, nhưng qua cách giải thích khúc chiết, mạch lạc và đầy tính logic của Mai Chi, ai nấy đều cảm nhận được một sự thật hiển nhiên không thể chối cãi.
“Còn về con dao dệt lụa mỏng manh của Lê thị...” Mai Chi cười nhạt, ánh mắt nàng quét thẳng vào Trịnh Bá Tùng khiến vị Thượng thư giật thót tim: “Một con dao thép mỏng dùng để cắt sợi dệt, lưỡi dao dài chưa đầy ba tấc, sức lực của một người đàn bà yếu đuối quanh năm đói ăn, mà có thể chém đứt ngọt ngào đốt sống cổ thứ tư của một nam tử vạm vỡ hay sao? Tống khám lý, ngươi nghĩ đốt sống của con người làm bằng củ cải chắc?”
Tống Dực run lẩy bẩy, mồ hôi vã ra như tắm, gã gào lên trong cơn hoảng loạn:
“Nói suông! Toàn là lời nói suông không bằng không cớ! Ngươi chỉ dựa vào cái mồm mép của mình mà dám phủ nhận bản nghiệm thi của nha môn? Thi thể đã bị thiêu rụi trong trận hỏa hoạn ở nhà xác Thọ Xương rồi! Không có xác chết, ngươi lấy gì làm chứng? Lấy gì làm chứng hả?!”
Lời nói của Tống Dực vừa thốt ra, Trịnh Bá Tùng thầm chửi một tiếng “đồ ngu xuẩn”. Câu nói đó chẳng khác nào gián tiếp thừa nhận việc nhà xác bị phóng hỏa là một âm mưu xóa dấu vết.
Mai Chi dừng lại ngay giữa trung tâm quảng trường Đoan Môn. Gió thu thổi lồng lộng làm tà áo trắng của nàng bay phần phật, tựa như một vị nữ thần công lý vừa giáng trần để thực thi phán quyết cuối cùng.
“Ngươi nghĩ rằng phóng hỏa thiêu rụi nhà xác là có thể tiêu hủy được mọi bằng chứng hay sao?” Mai Chi nhìn Tống Dực bằng ánh mắt như nhìn một kẻ đã chết: “Ngươi lầm rồi. Kẻ làm ác có thể che giấu lòng dạ của mình, nhưng xương cốt của người chết thì không bao giờ biết nói dối!”
Nàng giơ cao bàn tay thanh mảnh, dứt khoát phất mạnh vạt áo, hướng về phía đội thị vệ Đô Sát Viện đang đứng nghiêm trang dưới chân kỳ đài:
“Mang vật chứng lên!”
Một tiếng quát trầm hùng của Thạch Thất vang lên: “Tuân lệnh!”
Bốn thị vệ lực lưỡng của Đô Sát Viện lập tức khiêng một chiếc rương sắt lớn tiến vào giữa công trường. Chiếc rương sắt đen kịt, nặng nề, bốn góc được bọc đồng sáng loáng, bên trên niêm phong bằng ba dải lụa đỏ thẫm mang dấu triện đỏ chói của Đô Sát Viện và ngự ấn của Khang Long Đế từ mật tấu đêm qua.
Keng... rầm!
Chiếc rương sắt được đặt mạnh xuống nền đá hoa cương, phát ra một âm thanh khô khốc, nặng nề khiến tim gan của Trịnh Bá Tùng và bè lũ quan lại Lại bộ đồng loạt nảy lên một nhịp kinh hãi.
Mai Chi bước tới, tự tay giật đứt dải niêm phong lụa đỏ. Nàng ngẩng đầu nhìn về phía ngai vàng, dõng dạc tâu:
“Khởi bẩm Bệ hạ! Đêm qua, Đề hình khám lý Tống Dực cấu kết với kẻ gian phóng hỏa thiêu rụi nhà xác Thọ Xương hòng hủy thi diệt tích. Nhưng trời cao có mắt, dân nữ cùng Giám sát Ngự sử Trần Đình Phong đã liều chết cứu được những mảnh xương cốt cốt lõi của nạn nhân từ trong biển lửa. Không những thế, dưới đáy giếng hoang chùa Phổ Minh, chúng thần đã tìm thấy phần đầu lâu bị hung thủ phong kín trong hũ vôi sống để phi tang!”
Cái gì?!
Hai chữ “đầu lâu” vừa thốt ra, cả quảng trường Đoan Môn như nổ tung!
Trịnh Bá Tùng lảo đảo, hai mắt trợn trừng, gương mặt phương phi thường ngày giờ đây xám ngoét như tro tàn. Trịnh Khải – kẻ đang bị cấm vệ áp giải đứng nép ở một góc xa – nghe đến đó thì hai chân mềm nhũn, ngã quỵ xuống đất, miệng lắp bắp không thành tiếng: “Không thể nào... đầu của nó... ta đã ném xuống giếng vôi rồi mà... sao có thể...”
Mai Chi không để cho bọn chúng có lấy một giây trấn tĩnh. Nàng vung tay, dứt khoát bật tung nắp rương sắt!
CẠCH!
Nắp rương mở toang. Bên trong, đặt trên tấm vải nhung đen tuyền, là những mảnh xương cốt màu trắng ngà đã qua xử lý sạch sẽ, nổi bật nhất là đốt sống cổ C4 với vết chém nghiêng sắc lẹm.
Thế nhưng, thứ khiến toàn thể văn võ bá quan, cấm vệ quân và hàng vạn dân chúng kinh thành phải đồng loạt hít vào một ngụm khí lạnh, rợn tóc gáy đến mức chết lặng... chính là vật đặt ở chính giữa chiếc rương.
Đó là một bức tượng đầu người bằng sáp ong tinh xảo, được đắp tỉ mỉ trên nền hộp sọ thật của nạn nhân!
Kỹ thuật phục nguyên nhân dạng thời hiện đại đã làm sống dậy từng đường nét: từ chiếc mũi hơi gãy, gò má cao hốc hác, vết sẹo mờ nơi đuôi mắt trái, cho đến đôi môi mỏng khẽ mở ra như đang uất ức gào thét đòi mạng kẻ thủ ác! Dưới ánh nắng chói chang của buổi sớm Thăng Long, gương mặt sáp sống động như thật ấy như đang trừng trừng nhìn thẳng vào đám người của phủ Thượng thư, toát ra một thứ tử khí oan khuất thấu tận trời xanh!
“Trời ơi... A Phúc!”
Một tiếng thét thất thanh kinh hoàng từ miệng một tên gia nhân cũ của Trịnh phủ đứng lẫn trong đám đông bách tính vang lên xé toạc bầu không khí câm lặng:
“Đó là A Phúc! Là gã gia nhân thân tín của Trịnh công tử!”
Tiếng thét ấy như một tia sét đánh ngang tai, giáng thẳng xuống đầu cha con Trịnh Bá Tùng, báo hiệu hồi kết của một bức màn tội ác kinh thiên động địa sắp sửa bị l*t tr*n trước thanh thiên bạch nhật!