Cơn mưa giông trút xuống như thác đổ, quất rát mặt mái ngói rêu phong của cổ tự Phổ Minh. Từng lằn chớp trắng xé toạc nền trời đêm đen đặc, hắt vào gian tiền đường đổ nát thứ ánh sáng ma quái, chập chờn rọi lên gương mặt đanh lại của Đặng Mai Chi.
Trên mảnh vải thô trải vội bên mép giếng cạn, mảnh giấy dầu mang triện son “Lại bộ Thư các - Mật ấn” cùng nét bút sắc lạnh của Trịnh Khải vẫn nằm lặng lẽ, tựa như một mồi lửa âm ỉ chực chờ thiêu rụi cả tòa thành lũy quyền uy của Trịnh phủ.
“Chúng ta không thể ở lại đây lâu.”
Trần Đình Phong hạ thấp giọng, bàn tay nắm chặt chuôi kiếm nhuyễn bên hông. Ánh mắt chàng quét qua màn mưa đen kịt ngoài sân chùa, nơi những bụi chuối dại đang vật vã quằn quại trong gió bão. “Tên sát thủ trốn thoát ở phường Yên Thái ắt hẳn đã lần về mật phủ của Trịnh Khải. Nếu hắn đoán ra mục đích của chúng ta tại giếng hoang này, chỉ nội trong nửa canh giờ nữa, toàn bộ ngõ ngách Tây thành sẽ bị phong tỏa.”
Mai Chi gật đầu. Nàng cẩn thận dùng nhíp đồng cuộn mảnh giấy dầu lại như cũ, nhét vào một ống trúc nhỏ đã được bịt sáp chống nước, sau đó giấu kỹ vào lớp áo lót sát ngực. Đối với thủ cấp và đôi bàn tay khô quắt của A Phúc, nàng dùng tấm vải dầu dày bọc kín nhiều lớp, đặt cẩn thận trở lại chiếc giỏ mây phủ kín rơm khô để tránh va đập.
“Không thể quay về ngục nha môn Thọ Xương, càng không thể về nơi ở của phụ thân ta,” Mai Chi vừa buộc chặt quai giỏ vừa dứt khoát lên tiếng, giọng nói trong trẻo mà trầm tĩnh lạ thường giữa tiếng sấm rền: “Nơi đó lúc này chẳng khác nào miệng cọp. Tống Dực và Phan Cao chỉ chờ chúng ta xuất hiện để chụp lên đầu tội danh thông đồng với phản tặc.”
Đình Phong nhìn nàng, trong mắt lóe lên một tia kiên định: “Theo ta. Ngự sử đài có một mật thất hồ sơ dưới lòng đất, vốn là nơi lưu trữ mật tấu của các đời Giám sát Ngự sử trước khi trình lên Hoàng thượng. Nơi đó nằm ngay dưới chính đường Đô Sát Viện, chung quanh bố trí cơ quan nghiêm ngặt, chỉ có tín vật của ta mới mở được. Dù Trịnh Bá Tùng có cậy quyền khuynh đảo triều đình, lão cũng chưa dám ngang nhiên đem quân lục soát mật thất của Ngự sử đài.”
Hai bóng người nhanh chóng hòa vào màn mưa đêm Thăng Long.
Nước mưa xối xả làm nhòe đi tầm nhìn, rửa trôi những vệt máu tanh còn vương trên thanh bào của Đình Phong và gấu áo nâu sồng của Mai Chi. Họ luồn lách qua những con ngõ lầy lội của phường Yên Thái, men theo bờ hào phía nam Hoàng thành, tránh xa các trạm canh của quân tuần bổ. Đình Phong đi trước, thân hình cao lớn vững chãi như một bức tường chắn gió cho nàng, từng bước chân chàng dẫm trên đá dăm đều nhẹ bẫng không một tiếng động, chuẩn xác và cảnh giác đến cực điểm.
Gần canh tư, họ dừng lại trước bức tường đá rêu phong phía sau Đô Sát Viện. Nơi đây tĩnh mịch như tờ, chỉ có tiếng nước mưa chảy róc rách từ những máng đồng chạm hình đầu rồng.
Đình Phong tiến đến mép một gốc hòe cổ thụ trăm năm tuổi, lần tay vào một hốc cây rậm rạp, bấm mạnh vào một mấu sắt ngầm rỉ sét. Một tiếng “cạch” khô khốc vang lên từ lòng đất. Một phiến đá xanh áp sát chân tường từ từ trượt sang bên, hé lộ một bậc thang hẹp dẫn sâu xuống lòng đất tối tăm.
Chàng rút viên dạ minh châu bọc trong lụa mỏng ra soi đường, khẽ nghiêng người: “Đặng cô nương, cẩn thận bậc đá trơn trượt.”
Mai Chi bước xuống. Không khí bên dưới lành lạnh, thoang thoảng mùi giấy cũ, mực tàu và hương long não đuổi mối mọt. Cánh cửa đá phía sau lưng họ tự động khép lại, ngăn cách hoàn toàn tiếng sấm gió gầm rú của đất trời bên trên, trả lại cho không gian một sự tĩnh mịch tuyệt đối, trang nghiêm và bức bách.
Đi hết ba mươi bậc đá quanh co, một gian mật thất rộng chừng hai trượng hiện ra. Bốn bề tường đá được ốp bằng những giá gỗ lim cao ngất, chứa hàng ngàn cuốn công văn, mật lục phủ bụi thời gian. Ở giữa phòng đặt một chiếc bàn đá thanh hoa lớn, bên trên có sẵn nghiên mực, bút lông và mấy ngọn bạch lạp cắm trên giá đồng chạm trổ hoa văn thời Lý.
Đình Phong châm lửa. Ngọn bạch lạp bùng lên, tỏa ra ánh sáng vàng dịu xua tan bóng tối ẩm thấp.
Mai Chi đặt chiếc giỏ mây lên bàn đá, nhẹ nhàng gỡ từng lớp vải dầu. Thủ cấp của A Phúc một lần nữa lộ ra dưới ánh nến.
Đình Phong nhìn cái đầu lâu khô quắt, lớp da mặt xám xịt co rúm lại vì vôi sống, đôi mắt trũng sâu chỉ còn là hai hốc đen ngòm, khóe miệng méo xệch để lộ hàm răng ố vàng lởm chởm. Chàng khẽ thở dài, trong đáy mắt dâng lên một tia ưu lự:
“Tử thi dưới đầm lầy đã trương phình phân hủy, còn thủ cấp này lại bị vôi sống rút cạn nước đến mức biến dạng hoàn toàn. Dù mảnh giấy dầu kia có thủ bút của Trịnh Khải, nhưng nếu đưa cái đầu lâu này lên công đình, lũ tay sai của Trịnh phủ như Tống Dực hoàn toàn có thể trơ tráo cãi rằng đây là thủ cấp của một tên thảo khấu vô danh nào đó chết bờ chết bụi. Chúng sẽ nói mảnh giấy dầu là do chúng ta ngụy tạo nhét vào để vu khống công tử Thượng thư.”
Chàng siết chặt nắm tay, đốt ngón tay trắng bệch: “Một khi không thể chứng minh thi thể không đầu dưới đầm lầy chính là A Phúc, bản án góa phụ Lê thị dùng kéo giết nhân tình vẫn sẽ giữ nguyên hiệu lực. Chỉ còn bảy ngày nữa là đến kỳ khảo khóa của Lại bộ, cũng là ngày Lê thị bị xử trảm…”
“Huynh yên tâm. Ta có thể khiến hắn ‘sống’ lại.”
Mai Chi cất giọng bình thản, nhưng từng thanh âm thốt ra lại tựa như tiếng chuông đồng ngân vang giữa thạch thất u tịch.
Đình Phong ngẩn người, ngước mắt nhìn nàng: “Nàng nói sao? Khiến hắn sống lại?”
“Không phải là thuật hoàn hồn ma quái hay phù phép tà đạo,” Mai Chi điềm tĩnh nhìn thẳng vào đôi mắt đen sâu thẳm của chàng: “Xương cốt của con người không bao giờ biết nói dối. Da thịt có thể teo tóp, máu mủ có thể tiêu tán, nhưng khung xương dưới lớp da thịt ấy chính là chiếc khuôn vĩnh cửu đúc nên hình hài một con người khi còn sống. Chỉ cần dựa vào cấu trúc của hộp sọ, ta có thể dùng sáp và đất phục dựng lại diện mạo ban đầu của hắn, không sai lệch quá một phần mười.”
Đình Phong sững sờ. Chàng đã từng đọc qua vô số điển tịch hình ngục từ thời cổ, từ Tẩy Oan Tập Lục của Tống Từ cho đến các án văn bí truyền của tiền triều, nhưng chưa từng nghe đến một kỳ thuật nào có thể dùng xương sọ mà nặn lại được mặt người.
“Nắn sáp hoàn nhan… Trên đời thật sự có thuật này sao?” Chàng thì thào, ánh mắt nhìn nàng vừa kinh ngạc vừa tràn đầy vẻ kính phục khôn xiết.
“Đó không phải là thuật, mà là nghiệm hình y lý.” Mai Chi khẽ mỉm cười, một nụ cười tự tin toát ra từ phong thái của một nữ thẩm phán từng nhiều năm làm việc cùng các chuyên gia nhân chủng học pháp y hàng đầu: “Trần đại nhân, ta cần một số vật dụng. Huynh có thể giúp ta tìm được không?”
“Nàng cần gì, cứ nói. Dù là kỳ trân dị bảo trong đại nội, đêm nay ta cũng sẽ tìm về cho nàng.”
“Không cần kỳ trân dị bảo,” Mai Chi rành rọt liệt kê: “Ta cần sáp ong trắng đã lọc sạch tạp chất, một ít mỡ cừu hoặc dầu vừng để làm mềm sáp, đất sét sông Hồng loại mịn nhất đã lắng cặn, tro than hoạt tính nghiền nhỏ để tạo màu mắt, vài chiếc que tre vót nhọn với các kích cỡ khác nhau, một chiếc thước kẹp bằng đồng để đo phân tấc xương, và… nhiều bạch lạp hơn nữa.”
Đình Phong không hỏi thêm một lời thừa thãi. Chàng gật đầu dứt khoát: “Chờ ta nửa canh giờ.”
Dứt lời, bóng áo xanh của chàng đã lướt ra ngoài cửa đá, biến mất vào màn mưa mịt mùng.
Trong mật thất tĩnh lặng, chỉ còn lại Mai Chi và chiếc đầu lâu đặt trên bàn đá. Nàng chậm rãi hít một hơi thật sâu, đón lấy sự quen thuộc của công việc khám nghiệm tử thi vốn đã ăn sâu vào tủy não từ kiếp trước. Nàng lấy chiếc khăn sạch thấm nước mưa ráo bớt, cẩn thận lau đi từng mảng bột vôi còn bám trên hốc mắt và gò má của chiếc đầu lâu.
Bàn tay thon thả của Đặng Hoài Thu chạm vào lớp xương sọ lạnh ngắt. Dù thể xác này mới mười chín tuổi, gầy guộc và yếu ớt vì những năm tháng cơ cực nơi chốn ngục môn, nhưng linh hồn bên trong lại là một nữ thẩm phán hai mươi tám tuổi với khối tri thức giải phẫu học hiện đại vững như bàn thạch.
Nàng bắt đầu dùng đầu ngón tay nắn nhẹ từng mấu xương:
“Hộp sọ dài, trán vát nhẹ về phía sau… Gờ mày nhô cao vừa phải, xương mũi hẹp nhưng sống mũi hơi gãy ở đoạn tiếp giáp xương trán… Xương gò má cao và bè sang hai bên, góc hàm dưới vuông vức nhưng cằm nhọn… Đây là đặc trưng diện mạo của nam tử vùng châu thổ sông Hồng độ tuổi ngoài hai mươi.”
Nàng lẩm nhẩm trong đầu các chỉ số nhân trắc học: độ dày mô mềm tại điểm Ấn Đường (Glabella) là bốn milimet; tại gốc mũi (Nasion) là năm milimet; điểm giữa sống mũi (Rhinion) chỉ khoảng hai milimet; đỉnh cằm (Pogonion) là mười milimet; và cơ cắn hai bên góc hàm dày tới mười hai milimet… Từng con số, từng tọa độ giải phẫu học hiện lên rõ mồn một trong tâm trí nàng như một bản đồ chi tiết.
Đúng nửa canh giờ sau, phiến đá xanh khẽ dịch chuyển. Đình Phong trở lại, toàn thân ướt sũng nước mưa, nhưng chiếc bọc vải trong lòng chàng lại được bọc kín bằng da hươu khô ráo hoàn toàn.
Chàng đặt chiếc bọc lên bàn đá, thở nhẹ một hơi: “May mắn là trong viện lưu trữ của Đô Sát Viện có sẵn sáp ong dùng để niêm phong mật thư, đất sét sông Hồng của phường gốm Bát Tràng ta cũng vừa lấy được từ lò nung của ty Công tượng gần đây. Thước đo xương và dao trổ lấy từ phòng ngỗ tác của nha môn. Đủ cả chứ?”
Mai Chi mở bọc vải, kiểm tra từng món đồ. Mọi thứ đều hoàn hảo, thậm chí chàng còn chu đáo mang theo một chiếc kiềng sắt nhỏ và một đĩa dầu lạc để đun chảy sáp.
Nàng ngước nhìn chàng, thấy những giọt nước mưa còn đọng trên hàng mi dài của Đình Phong, bờ môi chàng hơi tái đi vì lạnh, nhưng ánh mắt nhìn nàng lại ấm áp lạ lùng. Một cảm giác xúc động mơ hồ len lỏi trong lồng ngực nàng. Trong cái thời đại nam quyền độc đoán này, nơi phụ nữ bị coi như món đồ phụ thuộc và bị cấm bén mảng đến chốn công đường, lại có một vị quan Ngự sử triều đình sẵn sàng đội mưa gió nửa đêm, chạy ngược chạy xuôi tìm từng thỏi sáp, nắm đất sét chỉ vì tin vào lời nói của một nữ tử ngục môn.
“Đa tạ huynh,” nàng khẽ nói, ánh mắt chân thành.
Đình Phong lắc đầu, khóe môi khẽ cong lên một nét cười dịu dàng: “Là ta phải cảm tạ nàng. Nàng đang gánh vác việc giải oan cho kẻ vô tội, bảo vệ quốc pháp triều đình. Ta làm chút việc cỏn con này có đáng là bao. Nàng cần ta phụ giúp gì không?”
“Huynh giúp ta giữ ấm nồi sáp ong pha mỡ cừu, đừng để lửa quá lớn làm khét sáp. Và giúp ta cắm thêm sáu ngọn bạch lạp quanh bàn đá, ta cần ánh sáng chiếu đều từ bốn phía để không bị bóng đổ làm sai lệch kích thước.”
“Được.”
Công việc bắt đầu khi tiếng chuông chùa Trấn Quốc từ đằng xa điểm canh năm, trầm hùng ngân nga xuyên qua màn mưa bão.
Dưới ánh sáng rực rỡ của tám ngọn bạch lạp, Mai Chi bắt đầu thực hiện một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử tư pháp Đại Việt.
Trước tiên, nàng dùng những thanh tre nhỏ chuốt nhọn, dùng thước kẹp đồng đo đạc cẩn thận từng phân tấc rồi cắt thành hàng chục cọc tiêu nhỏ có độ dài khác nhau. Nàng dùng sáp ong nóng dán những cọc tiêu tre này lên khắp các điểm mốc giải phẫu trên hộp sọ: điểm giữa trán, điểm gốc mũi, hai bên gò má, khóe mắt ngoài, góc hàm dưới và đỉnh cằm. Những cọc tiêu này chính là thước đo độ dày của các lớp cơ thịt và mỡ dưới da mà người hiện đại gọi là các điểm mốc mô mềm.
Đình Phong đứng bên cạnh, đôi mắt chăm chú dõi theo từng cử động của nàng mà không giấu nổi sự kinh ngạc. Những thanh tre cắm chi chít trên chiếc đầu lâu trông kỳ dị như một trận pháp bí truyền, nhưng cách nàng đo đạc, so sánh từng ly từng tí lại toát lên một vẻ chuẩn mực, cẩn mật và duy lý đến rợn người.
“Những cọc tre này… là để định hình độ dày của da thịt sao?” Đình Phong nhịn không được khẽ hỏi.
Mai Chi vừa cẩn thận dùng nhíp chỉnh lại một cọc tre bên xương gò má vừa giải thích: “Đúng vậy. Da thịt con người nhìn qua thì tưởng mềm mại vô định, nhưng thực chất ở mỗi vị trí trên gương mặt, độ dày của cơ bắp và mỡ đều tuân theo những tỷ lệ nhất định. Người béo hay người gầy có thể khác nhau ở hai bên má và dưới cằm, nhưng tại sống mũi, hốc mắt và vầng trán thì độ dày mô mềm giữa người với người gần như không chênh lệch quá nửa hạt gạo.”
Nàng đặt một bát đất sét dẻo đã nhào kỹ với nước tro mịn lên bàn. Bàn tay nàng thoăn thoắt vê từng dải đất sét dài, bắt đầu đắp lên bề mặt hộp sọ:
“Đây là cơ cắn, nối từ xương gò má xuống góc hàm dưới, quyết định độ bạnh của gương mặt khi nhai… Đây là cơ vòng miệng bao quanh môi… Còn đây là các dải cơ trán và cơ cau mày…”
Từng thớ đất sét được bàn tay tài hoa của nàng miết phẳng, nối liền các cọc tiêu tre lại với nhau. Dưới sự điều khiển chuẩn xác của những ngón tay thon nhỏ, các dải cơ mặt dần dần thành hình, lấp đầy những khoảng trũng khô khốc của chiếc đầu lâu bị vôi ăn mòn.
Sau khi đã hoàn thiện lớp cơ bằng đất sét, Mai Chi chuyển sang dùng sáp ong.
Sáp ong trắng trộn mỡ cừu được giữ ấm trên đĩa dầu lạc có độ dẻo quánh tuyệt hảo, màu sắc hơi ngả vàng nhạt tựa như màu da người sống. Nàng dùng một chiếc dao trổ bằng bạc nhỏ xíu, lấy từng mảng sáp mỏng như cánh ve, nhẹ nhàng phủ lên lớp đất sét.Nàng dùng nhiệt độ của đầu ngón tay để miết cho sáp tan chảy nhẹ, hòa quyện vào nhau, tạo nên một bề mặt da dẻ mịn màng, tự nhiên.
Đình Phong đứng lặng như hóa đá.
Dưới ánh nến lung linh, chàng chứng kiến một điều kỳ diệu đang diễn ra ngay trước mắt. Từ một chiếc sọ khô gớm ghiếc vô hồn, từng nét mặt của một con người đang dần dần hiện hình.
Đầu tiên là sống mũi: sống mũi hẹp, hơi gồ lên ở giữa rồi thẳng tắp xuống đầu mũi tròn. Tiếp đến là khóe môi: bờ môi mỏng, khóe miệng hơi trễ xuống thể hiện nét mặt của một kẻ thường ngày hay luồn cúi trước kẻ quyền thế nhưng lại khinh khỉnh với kẻ dưới. Đôi mắt được nàng khéo léo dùng đất sét đen nặn thành hai tròng mắt lồng vào hốc xương, mi mắt bằng sáp cụp xuống tạo nên vẻ gian giảo, lấm lét.
Mồ hôi lấm tấm trên vầng trán thanh tú của Mai Chi. Mấy lọn tóc mai ướt đẫm bết vào hai bên má, nhưng đôi mắt nàng vẫn sáng quắc, chăm chú vào từng milimet sáp như một nhà điêu khắc đại tài đang dồn hết tâm can vào tác phẩm để đời.
Thời gian chầm chậm trôi qua.
Ngọn bạch lạp thứ nhất tàn lụi, Đình Phong lặng lẽ châm tiếp ngọn nến mới. Chàng không dám thở mạnh, sợ luồng gió nhẹ làm lay động bàn tay đang cầm dao trổ của nàng. Nhìn bóng dáng mảnh mai của thiếu nữ dưới ánh nến chập chờn, trong lòng vị Giám sát Ngự sử trẻ tuổi dâng lên một niềm cảm phục và rung động sâu sắc chưa từng có.
Nàng không phải là một khuê các tiểu thư chỉ biết thêu thùa ngâm vịnh, cũng không phải một nữ nhi tầm thường cam chịu số phận nơi ngục tối. Ẩn sâu trong thân xác nhỏ bé ấy là một bản lĩnh kinh thiên động địa, một trí tuệ vượt thoát khỏi mọi khuôn vàng thước ngọc của thời đại, và trên hết, là một tấm lòng sắt son với công lý, sẵn sàng thức trắng đêm bên một chiếc đầu lâu lạnh ngắt chỉ để tìm lại sự thật cho một thường dân vô tội.
“Chỉ còn một chi tiết cuối cùng.” Mai Chi khẽ thì thầm.
Nàng nghiêng đầu, nhìn sang mảnh da khô còn sót lại bên tai trái của thủ cấp mà nàng đã cẩn thận bóc tách ra lúc đầu. Dưới lớp vôi bám chặt, nàng soi mảnh da ấy dưới ánh nến, dùng một chiếc que tre cạo nhẹ.
Một nốt ruồi đen nhỏ bằng hạt vừng, hơi lồi lên, hiện rõ mồn một ở vị trí cách đuôi mắt trái chừng nửa tấc!
Mai Chi mỉm cười. Nàng lấy một mẩu sáp nhỏ trộn với bột tro than đen nhánh, dùng đầu mũi dao bạc nhẹ nhàng gắn nốt ruồi ấy lên đúng vị trí tương ứng trên gương mặt sáp vừa hoàn thiện.
Nàng lùi lại một bước, buông chiếc dao trổ xuống bàn đá, khẽ thở ra một hơi dài:
“Xong rồi.”
Đình Phong bước tới bên cạnh nàng, đưa mắt nhìn xuống bàn đá.
Khoảnh khắc ánh mắt chàng chạm vào bức tượng sáp trên chiếc đầu lâu, toàn thân vị Giám sát Ngự sử chấn động dữ dội. Đồng tử chàng co rút lại, hơi thở nghẹn ứ nơi cổ họng:
“Đây… đây là…”
Khuôn mặt hiện lên dưới ánh bạch lạp sống động đến rợn người!
Đó là diện mạo của một nam tử khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi. Vầng trán hẹp hơi vát, xương gò má nhô cao bè ra hai bên, đôi mắt một mí ti hí với ánh nhìn sắc lạnh giảo hoạt, và đặc biệt là nốt ruồi đen như hạt đỗ xanh ngự trị ngay nơi đuôi mắt trái, tạo nên một nét nhận dạng không thể lẫn vào đâu được!
“A Phúc!”
Đình Phong thốt lên thành tiếng, giọng chàng run lên vì kinh ngạc tột độ: “Trời đất chứng giám… Đúng là A Phúc! Chính là hắn!”
Mai Chi ngước nhìn chàng, ánh mắt sáng ngời: “Huynh từng gặp hắn rồi sao?”
“Ta đã gặp hắn ít nhất ba lần!” Đình Phong siết chặt hai tay, lồng ngực phập phồng kích động: “Nửa năm trước, khi ta còn ở Lại bộ phụ trách việc thanh tra khảo khóa, A Phúc là kẻ luôn theo sau kiệu của Trịnh Khải. Mỗi lần Trịnh Khải đến Lại bộ Thư các lấy công văn mật, chính tên A Phúc này là kẻ bưng tráp, giữ sổ. Gương mặt trán hẹp gò má cao này, cùng với nốt ruồi chết tiệt nơi đuôi mắt trái kia… Dù hắn có hóa thành tro bụi ta cũng tuyệt đối không nhận lầm!”
Chàng quay sang nhìn Mai Chi, trong ánh mắt tràn ngập sự thán phục tột cùng: “Nàng… nàng thật sự đã làm cho một người chết câm lặng phải hiện hình tố cáo tội ác! Kỳ thuật này của nàng, nếu truyền ra ngoài, toàn bộ ngỗ tác trong thiên hạ đều phải quỳ gối bái phục!”
Mai Chi khẽ lắc đầu, nụ cười thoáng nét mệt mỏi nhưng thanh thản: “Đây không phải kỳ thuật, mà là khoa học chứng cứ. Người chết không thể cất lời, nhưng xương cốt của họ chính là nhân chứng trung thực nhất.”
Nàng chỉ vào bức tượng sáp và mảnh giấy dầu đặt bên cạnh: “Giờ đây chúng ta đã có đủ: Thứ nhất, thủ cấp được phục nguyên diện mạo trùng khớp hoàn toàn với gia bộc A Phúc của Trịnh Khải. Thứ hai, đốt sống cổ C4 có vết chém dứt khoát từ phía sau, khớp với vết cắt trên thi thể không đầu dưới đầm lầy Tây thành. Thứ ba, dị tật can xương lệch mười độ ở cẳng tay trái khớp hoàn toàn với vết thương cũ của A Phúc khi bị ngã ngựa năm ngoái. Và thứ tư, mảnh giấy dầu mang mật ấn Lại bộ cùng thủ bút của Trịnh Khải giấu trong kẽ móng tay hắn.”
Đình Phong tiếp lời, giọng đanh thép tựa nghìn cân: “Động cơ sát nhân đã hoàn toàn sáng tỏ! Chiếc ghế Tri phủ Thuận Hóa là món béo bở mà vô số quan lại thèm khát. Trịnh Khải đã nhận một vạn lượng vàng hối lộ để sắp đặt chiếc ghế này. A Phúc chính là kẻ trực tiếp thay mặt công tử họ Trịnh nhận rương vàng và giữ sổ sách hối lộ ngầm. Sau khi phi vụ hoàn tất, để diệt khẩu và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho chiếc ghế Thượng thư của cha hắn trước kỳ khảo khóa, Trịnh Khải đã lừa A Phúc đến căn nhà hoang ở phường Yên Thái, hạ độc Huyễn Cốt Tán rồi chặt đầu phân xác!”
“Và để che đậy vụ mất tích của A Phúc,” Mai Chi nói tiếp, ánh mắt sắc như dao: “Bọn chúng câu kết với Tri huyện Phan Cao và Đề hình Tống Dực, ném xác hắn xuống đầm lầy Tây thành, rồi nhân tiện bức cung góa phụ Lê thị nhận tội giết nhân tình, vừa tạo thành tích phá án thần tốc để dâng lên Thượng thư Trịnh Bá Tùng, vừa khép lại vụ án vĩnh viễn trong bóng tối!”
Hai người nhìn nhau. Từng mắt xích của vụ đại án oan khiên chấn động kinh thành Thăng Long, kéo dài suốt mười mấy ngày qua, nay đã được xâu chuỗi lại thành một đường dây tội ác hoàn chỉnh, rành mạch và không một kẽ hở!
“Trời đã sáng rồi.” Đình Phong ngước nhìn lên trần mật thất.
Dù ở sâu dưới lòng đất, họ vẫn có thể cảm nhận được màn đêm đã tan biến, tiếng chuông sớm của kinh thành báo hiệu giờ Mão đã điểm. Cơn mưa giông dữ dội đêm qua đã tạnh, để lại bầu không khí trong lành nhưng lạnh lẽo đặc trưng của mùa thu Thăng Long.
“Giờ Thìn sáng nay, ta sẽ mang chiếc đầu lâu phục nguyên này cùng toàn bộ chứng cứ xông thẳng vào sảnh đường Đô Sát Viện,” Đình Phong dõng dạc nói, phong thái uy nghiêm của một vị Giám sát Ngự sử bừng sáng trên gương mặt tuấn lãng: “Ta sẽ ép Tả Đô Ngự sử Nguyễn Bá Liêm phải hủy bỏ lệnh giam lỏng đối với ta, lập tức ký công văn triệu tập Trịnh Khải và giải cứu phụ thân nàng ra khỏi hầm đá Thọ Xương!”
Mai Chi gật đầu. Nàng toan mở lời dặn chàng thêm một số chi tiết pháp y cần lưu ý khi đối chất, thì đột nhiên—
Cộc! Cộc cộc! Cộc!
Một chuỗi tiếng gõ cửa gấp gáp, ngắt quãng theo quy luật “ba dài hai ngắn” vang lên từ phiến đá xanh dẫn vào mật thất!
Đình Phong lập tức biến sắc, tay phải đặt ngay lên chuôi kiếm: “Là ám hiệu của thân tín do ta cài cắm bên ngoài.”
Chàng bước nhanh tới mép cửa, bấm vào mấu đá. Phiến đá xanh từ từ trượt mở.
Một gã thanh niên mặc y phục gia đinh màu chàm, toàn thân ướt sũng bùn đất, ngực áo phập phồng dữ dội như vừa chạy thục mạng qua mười mấy con phố, lảo đảo ngã nhào vào trong mật thất.
“Chủ tử! Nguy to rồi!” Gã gia đinh vừa th* d*c vừa kêu lên, giọng lạc đi vì kinh hoàng: “Trịnh phủ… Trịnh phủ đã ra tay trước một bước rồi!”
Đình Phong vội đỡ lấy gã, trầm giọng quát: “Bình tĩnh! Thạch Thất, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Bên ngoài có biến động gì?”
Gã gia đinh tên Thạch Thất cố nuốt một ngụm nước bọt, run rẩy móc từ trong ngực áo ra một tờ giấy bản khổ lớn còn ướt nước mưa, trải vội lên bậc đá:
“Vừa sáng sớm nay, ngay khi cổng thành vừa mở, Trịnh Khải đã sai gia nhân mang hàng trăm tờ cáo thị có đóng dấu đỏ của nha môn Phủ Phụng Thiên dán khắp Ba Mươi Sáu Phố Phường, từ cửa Đông, cửa Nam cho đến các bến đò, chợ búa!”
Mai Chi bước nhanh tới, cúi đầu nhìn vào tờ cáo thị.
Trên nền giấy bản vàng úa, những dòng chữ mực đen đậm nét đập vào mắt nàng như những tia chớp:
“PHỦ PHỤNG THIÊN CÁO THỊ: Gia nhân A Phúc, tuổi hăm lăm, trán hẹp gò má cao, có nốt ruồi đen ở đuôi mắt trái, vốn là gia bộc phụ trách khố phòng của Lại bộ Thượng thư phủ. Đêm ngày mười lăm tháng bảy vừa qua, lợi dụng lúc chủ nhân dự tiệc, A Phúc đã to gan cạy khóa khố phòng, trộm đi năm ngàn lượng bạc trắng công quỹ rồi bỏ trốn khỏi kinh thành. Nay Phủ Phụng Thiên phát lệnh truy nã toàn quốc. Kẻ nào bắt được A Phúc nộp cho quan phủ, hoặc báo tin xác thực để bắt giữ, Trịnh phủ xin hậu tạ năm trăm lượng bạc ròng! Kẻ nào dám chứa chấp dung túng, đồng tội trộm cắp công quỹ, xử trảm quyết không tha!”
Bên dưới tờ cáo thị là dấu triện đỏ chói của Tri phủ Phụng Thiên, ký ngày hôm nay!
Đình Phong đọc xong, sắc mặt chàng tái mét, sau đó chuyển sang đỏ bừng vì phẫn nộ cùng cực: “Bỉ ổi! Vô liêm sỉ đến tột cùng!”
Mai Chi đứng chôn chân tại chỗ, ngón tay nàng vô thức bấu chặt vào mép bàn đá lạnh ngắt.
Một đòn phản kích tàn độc và thâm hiểm đến rợn người của Trịnh gia!
Bằng một tờ cáo thị trộm bạc bỏ trốn, Trịnh Khải đã tạo ra một bằng chứng ngoại phạm hoàn hảo: Hắn công khai thừa nhận A Phúc còn sống và vừa mới bỏ trốn khỏi kinh thành vào đêm ngày mười lăm!
Nếu bây giờ Đình Phong và Mai Chi đem thi thể dưới đầm lầy Tây thành ra công đường đối chất, Trịnh gia hoàn toàn có thể trơ tráo lật ngược thế cờ: Chúng sẽ khẳng định thi thể không đầu dưới đầm lầy (được phát hiện trước đó) tuyệt đối không thể là A Phúc! Còn nếu Mai Chi chứng minh được đó chính là A Phúc, bọn chúng sẽ đổ vấy rằng A Phúc trên đường ôm năm ngàn lượng bạc bỏ trốn đã bị giang hồ đạo tặc giết người cướp của phi tang, hoàn toàn không liên quan gì đến Trịnh phủ!
Hơn thế nữa, tờ cáo thị này đã biến A Phúc thành một tên tội phạm trộm cắp công quỹ đang bị truy nã. Mọi lời khai, mọi di vật hay bút tích của một tên tội phạm đang đào tẩu đều sẽ bị coi là vô giá trị trước công đường phong kiến!
“Thời hạn mười ngày hoãn trảm chỉ còn lại bảy ngày…” Mai Chi lẩm bẩm, ánh mắt nàng nhìn vào bức tượng sáp A Phúc trên bàn đá, ngọn lửa công lý nơi đáy mắt bùng cháy dữ dội hơn bao giờ hết giữa trùng trùng cạm bẫy: “Trịnh Bá Tùng… Trịnh Khải… Các ngươi tưởng rằng dùng một tờ giấy lộn là có thể bẻ cong được xương cốt của sự thật hay sao?”