Tri Hạ lập danh sách hành lý trên ba tờ giấy, mỗi tờ ba mươi dòng, và đến dòng chín mươi nàng vẫn chưa xong.
“Ba mươi hũ cao thuốc nền,” nàng đọc, ngồi giữa gian trước Hạnh Lâm Đường vào chiều ngày sáu mươi tám, bàn tính ngọc nhỏ kẹp giữa hai đầu gối. “Mười hai gói bột bạch chỉ. Hai trăm lá cam thảo. Một cái cân tiểu ly. Một bộ chày cối. Hai mươi quyển sổ, mười cây bút lông, ba nghiên mực.”
“Ba nghiên?” Cao Thạch hỏi. Gã đứng ở cửa với hai cái giỏ tre đeo hai bên vai, trông như một con bò thồ chưa ai nói với nó là sắp đi xa.
“Ba. Một dự phòng, một để vỡ.”
“Còn cái thứ ba?”
“Để tính sai.” Nàng không ngẩng đầu. “Cậu Thạch, cái gùi nâu của anh cân được hai mươi lăm cân. Hai giỏ là năm mươi. Thêm hai bao gạo thì…”
“Tao mang sáu mươi cân từ năm mười lăm tuổi.”
“Thêm bao muối.”
“Muối cũng được.”
“Thêm lò than.”
Cao Thạch nhìn nàng.
“Tôi đùa,” Tri Hạ nói.
“Mày có biết đùa à?”
“Tôi tính nhầm rồi đùa.” Nàng gạch một dòng, viết dòng khác. “Cậu Niên.”
Hắn đang ngồi sau quầy, xếp lại mười lăm cuộn giấy khế vào cái hộp tre nhỏ. Hắn ngẩng lên.
“Cậu mang gì?”
“Tôi?”
“Cậu.”
Hắn nhìn xuống đôi bàn tay mình, rồi nhìn quanh gian tiệm. Hắn có hai bộ áo. Một đôi giày vải mới Tri Hạ nhét vào tay hắn hôm qua, bảo nếu cậu đi chân đất lên Thanh Hà Môn thì tôi cũng không thèm biết cậu. Một con dấu đồng khắc chữ Tín. Một mảnh vải thêu Cám ơn anh. Một túi thơm gấm hồng hạc xiên xẹo. Một sợi chỉ trắng. Một hạt ngọc đen. Một tờ chứng thư. Một mảnh giấy của người đàn bà tóc đen.
“Mấy thứ này,” hắn nói.
“Cậu mang như kho báu.” Tri Hạ lắc đầu. “Một người đi vào môn phái mà mang sáu thứ không ai biết giá. Thế là liều.”
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói. 「Tại hạ đồng ý với cô nương Liễu về tính chất liều. Tại hạ xin nhắc: đa số những vật ấy không phải thứ có giá. Chúng là thứ có nghĩa.」
“Ngươi biết điều đó từ khi nào?”
「Tại hạ tìm thấy khái niệm này khoảng năm mươi ngày trước. Tại hạ không biết nó từ đâu đến.」
Hắn suýt cười.
* * *
Mã Phúc đến vào giờ Thân, một mình, không cân đồng, không áo xanh.
Ông ta mặc một bộ áo vải nâu bình thường, đã giặt đến phai màu, và hắn mất một lúc mới nhận ra: đây là lần đầu hắn thấy ông ta không mặc đồng phục Trướng Lại. Không có bàn tính ngọc trắng ở thắt lưng. Chỉ một cái túi vải nhỏ đeo bên hông, và trong tay một cuốn sổ bọc da đen, dày, cũ.
“Cậu Tạ,” ông ta nói.
“Chú Mã.”
“Ta không vào.” Ông ta đứng ngoài ngưỡng cửa, ngón tay gõ nhẹ lên bìa sổ. “Ta chỉ đưa thứ này.”
Ông ta đưa cuốn sổ qua ngưỡng cửa bằng hai tay.
Hắn nhận. Nó nặng hơn nó trông, bìa da sờn ở các góc, gáy khâu chỉ gai đen. Hắn mở trang đầu.
Chữ viết nhỏ, đều, nét bút của một người đã viết cùng một tay mười bảy năm. Không có đề mục. Chỉ một dòng trên cùng, bằng mực nâu đã phai:
Điều luật cho người không biết chữ. Chép lại năm Vĩnh Ninh hai mươi bốn đến nay. Mã Phúc.
Hắn lật trang. Hàng trăm dòng. Mỗi dòng một điều: số, tóm tắt, một câu ví dụ. Điều 3: Mọi khế phải đăng ký, không đăng ký không có hiệu lực. Ví dụ: Phiếu của Thông Bảo ở Hòe Hạ. Điều 54: Phiếu nợ có ba cách trả lời. Ví dụ: kháng nghị. Điều 88: Chủ nợ không nhận tiền, nộp tại Trướng Phòng. Ví dụ: bà bán rau, ba lượng, thua. Lần sau thì thắng.
Hắn đọc đến dòng thứ ba mươi và không nói được.
“Ta chép,” Mã Phúc nói, “mỗi lần có người đến quầy hỏi điều gì, mà ta không thể trả lời vì quầy là của đề tồn, không phải của hỏi đáp. Ta ghi vào đây. Để nếu một ngày ta được phép nói, ta có sẵn.” Giọng ông ta lờ đờ như thường. “Bốn trăm mười hai điều. Chưa đầy một phần ba tổng số. Nhưng là phần dân hay hỏi.”
“Chú…”
“Đừng nói cảm ơn. Ta không biết trả lời.” Mã Phúc đứng thẳng, tay buông xuôi. “Hôm nay Trướng Chủ Lâm quyết định lập quầy.”
“Quầy nào?”
“Quầy số ba.” Mắt ông ta không rời hắn. “Ở sảnh chính, bên phải cửa, thay cho quầy đề tồn. Biển ghi: Đọc giùm. Miễn phí. Dân không biết chữ đến, ta đọc Quy củ cho họ nghe. Không thu một văn.” Ông ta ngừng. “Ta xin làm người ngồi đó.”
Tri Hạ đã đặt bút xuống.
“Chú đã mười bảy năm ngồi một cái quầy,” nàng nói, khẽ.
“Ta quen rồi.” Mã Phúc nhếch môi, một đường mỏng, thật. “Nhưng lần này có người đến.”
Hắn cầm cuốn sổ trong hai tay, cảm nhận trọng lượng nó, và nghĩ đến mười bảy năm, hai trăm lẻ bốn tháng, mỗi tháng một tờ giấy lương Lâm Bá Dung ký cho một người ngồi trước một cái quầy bụi. Hắn không biết nói gì.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, rất chậm. 「Tại hạ xin ghi nhận. Đây là khế đẹp nhất mà tại hạ từng thấy một bên trao mà không biết bên kia có nhận hay không.」
“Chú Mã,” hắn nói.
“Gì?”
“Cháu mang nó đến Thanh Hà Môn,” hắn nói. “Cháu thêm vào. Từng điều cháu tìm thấy ở đó.” Hắn ngẩng lên. “Khi cháu về, cháu mang nó đến quầy số ba. Cháu đọc cho chú nghe.”
Mã Phúc nhìn hắn rất lâu.
Rồi ông ta cúi đầu, một cái cúi đầu chậm, và hắn nhận ra: ông ta đang giấu mặt.
“Đi đi,” ông ta nói, giọng nhỏ. “Ta không biết ai khác để nói câu ấy với.”
* * *
Tín đến vào canh một, và ông ta không ở lại.
Y đứng ngoài hiên, ngọn đèn bàn tính trong tay, các hạt sáng ấm trong bóng tối. Hắn ra tiễn y đến đầu ngõ, và hai người đi bên nhau, không nói, chân bước trên đá xanh còn ẩm.
“Tôi nhận được thư,” Tín nói, khi họ đến cây ngô đồng nhỏ ở góc phố. “Từ Thiên Trướng Các Nam Hoang Vực. Thu Thọ Sứ ngũ phẩm Vệ đã rời kinh đi Trung Nguyên. Hồ sơ Giáp Tý bảy trăm hai mươi chín bà ấy mang theo.”
“Bà ấy nói bà ấy về kinh.”
“Về kinh, rồi đi tiếp.” Tín mỉm cười, mệt. “Tôi không biết. Tôi chỉ biết tôi được thăng một phẩm.”
“Thăng?”
“Thất phẩm.” Y nhìn ngọn đèn trong tay. “Lương mười hai lượng một tháng. Tôi chưa từng nghĩ. Tôi nghĩ tôi sẽ chết bát phẩm.”
“Mừng cho ngài.”
“Không phải mừng.” Tín lắc đầu. “Tôi sẽ không còn ở Lục Khê. Tôi được điều đi huyện Thanh Thủy. Nơi có Tiền Quý.”
Hắn khựng bước.
“Tiền Quý?”
“Ông ta khai báo.” Giọng Tín thấp xuống. “Ngày ba mươi ba ở Hòe Hạ, ông ta từ chối đóng dấu Phiếu Thông Bảo. Tuần trước ông ta gửi một bản tự thú lên Thiên Trướng Các: ba lần nhận tiền của Hồ Nhị. Ông ta xin được ở lại, làm lại từ đầu.” Y thở ra. “Thiên Trướng Các chấp nhận. Một Trướng Lại biết tự thú đáng giá hơn mười Trướng Lại im lặng.”
“Và ngài sẽ giám sát ông ta.”
“Tôi sẽ giám sát hai trăm Trướng Lại.” Tín cười khẽ. “Cậu biết tôi nghĩ gì không? Tôi nghĩ: một năm trước tôi còn không dám hỏi lương.”
Hắn không đáp.
Y đứng đó dưới cây ngô đồng, tóc chải gọn, áo đen sạch, ngọn đèn trên tay, và hắn nhận ra: Tín đã già hơn một năm trong một tuần, và trẻ hơn mười năm trong cùng khoảng ấy.
“Tạ công tử.”
“Ngài đừng gọi tôi thế nữa.”
“Vậy… Tạ Niên.” Tín thử gọi, rồi bật cười. “Nghe lạ.” Y giơ tay, và hắn thấy y đặt lòng bàn tay lên ngực mình, nơi trái tim. “Ngày mồng chín tháng chín năm Vĩnh Ninh bốn mươi bốn, tôi sẽ đến. Đúng giờ Tý. Tôi đọc những gì tôi phải đọc.”
“Tôi biết.”
“Nhưng tôi nghĩ,” y nói, rất nhỏ, “đến lúc đó cậu sẽ có một cách khác.”
Y cúi đầu, và đi, tiếng lách cách nhỏ dần trong đêm.
* * *
Bà Quế đã xếp gói hành lý của hắn từ chiều.
Hắn nhìn nó nằm ngay ngắn trên giường rạ gác xép, một cái bọc vải xanh sẫm buộc bốn góc: hai bộ áo, đôi giày vải, một cái chăn mỏng, một nắm gạo, một lọ muối, một gói bánh nướng. Bên trong, hắn biết, còn một thứ nữa, nhỏ, bọc giấy dầu, mà bà bảo đừng mở cho đến khi lên đến cổng.
Hắn ngồi xuống bên nó, và nhìn ra ô cửa sổ nhỏ.
Phố Đông Hạnh dưới ánh trăng khuyết. Mái ngói xám, cây hạnh trơ lá, hàng đèn lồng đỏ lắc lư. Đâu đó xa, một tiếng chó sủa. Hơn hai tháng trước, hắn còn là một thằng nhóc bán thuốc ở Hòe Hạ, chưa từng ngủ dưới mái ngói. Hôm nay hắn có một nơi, có người gọi hắn bằng tên, có một bát mì nằm đâu đó trong ngăn đựng muối.
Mười chín bát.
Hắn đã ăn mười bảy.
Có tiếng gõ nhẹ ở cửa sau.
Hắn nghiêng đầu. Chủ Bạ không nói gì, nhưng hắn thấy nó im bất thường, và hắn xuống thang, chậm, từng bậc, ra bếp, nhón chân qua sân nhỏ có cái giếng đá và cây hạnh lùn, đến cánh cửa gỗ nhỏ thông ra hẻm sau.
Hắn mở.
Tào Quản Sự đứng ngoài, một mình.
Áo gấm tím đã đổi sang áo vải xám bình thường, không quạt lông, không nhẫn ngọc, tóc rối nhẹ. Mặt ông ta dưới ánh trăng nhợt nhạt và già đi nhiều, và trong tay ông ta, ôm sát ngực, là một cái phong bì giấy dày màu vàng nhạt, buộc bằng sợi dây đỏ.
“Công tử,” Tào Quản Sự nói. Giọng ông ta nhỏ, khô, không còn mềm. “Tôi không ở đây.”
“Ông không ở đây.”
“Không ai thấy tôi.” Ông ta nuốt khan. “Tôi không phản chủ. Tôi mười hai năm cho ông chủ ăn ở. Tôi biết ông chủ là người thế nào. Ông ấy trả công đúng. Ông ấy chưa từng đánh tôi.” Ông ta ngừng. “Nhưng cái đêm ông ấy đứng nhìn Hồ Nhị quỳ, tôi đứng sau cột, tôi nhớ…” Giọng ông ta nghẹn. “Tôi nhớ một người đã quỳ như thế, năm tôi mười sáu.”
Hắn không động.
“Quạt tôi dừng ba lần,” ông ta nói, với một nụ cười méo. “Tôi không biết tại sao tôi nói điều đó với cậu.” Ông ta đưa phong bì qua ngưỡng cửa. “Đây.”
Hắn không nhận.
“Cái gì?”
“Bản chép.” Tào Quản Sự đặt phong bì vào tay hắn, ép ngón tay hắn khép lại. “Phụ lục khế vay Thanh Hà Môn. Mã số B. Không đăng ký Trướng Phòng. Ông chủ giữ riêng trong ngăn thứ bảy dưới hầm lạnh. Tôi chép năm ngoái, lúc ông ấy ngủ.”
Hắn nín thở.
“Tôi không đọc,” ông ta nói nhanh. “Tôi không biết chữ trong ấy. Ông chủ viết bằng mật tự riêng, tôi chỉ chép hình. Tôi không biết nó nói gì.” Ông ta nhìn thẳng hắn. “Tôi chỉ biết khi Ngô chấp sự lên Lục Khê tháng trước, ông chủ đã cười. Một nụ cười tôi chưa thấy lần nào.”
“Tại sao ông…”
“Vì tôi có một cô con gái,” Tào Quản Sự nói. “Mười hai tuổi. Giống cô bé Tử Lan. Cô bé ấy cũng bị hàn phế.” Ông ta lùi nửa bước vào bóng tối. “Đấu giá hôm ấy, tôi đứng sau cột. Tôi nghe Lâm Bá Dung đọc bảy cái tên. Tôi nghĩ: nếu con tôi nằm trong danh sách ấy thì sao.”
Hắn nhìn ông ta.
“Tôi vẫn là người của ông chủ,” Tào Quản Sự nói. “Ngày mai tôi vẫn phe phẩy quạt. Tôi vẫn gọi cô Liễu là cô Liễu, gọi cậu là công tử. Tôi vẫn nói thế gian vận hành như vậy.” Ông ta mỉm cười, lần cuối, mỏng. “Nhưng đêm nay tôi muốn có một đêm tôi không nói điều đó.”
Ông ta quay đi. Bóng ông ta hòa vào bóng hẻm, và hắn nghe tiếng bước chân nhỏ dần, không vội, không do dự.
Hắn đứng đó rất lâu, phong bì trong tay.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, thật khẽ. 「Tại hạ ghi nhận: đây là khế ngầm thứ năm trong sáu mươi tám ngày. Không ai ký. Không ai ghi. Nhưng tại hạ ước tính giá trị nó cao nhất trong năm khế.」 Một nhịp. 「Tại hạ cũng ghi nhận: tại hạ không muốn mở nó ở đây.」
“Ngươi sợ?”
「Tại hạ muốn đọc nó khi đã có khế gốc bên cạnh.」
Hắn nhét phong bì vào túi áo, trên ngực, cạnh hạt ngọc đen.
Rồi hắn quay vào bếp.
Ở bậc cửa, bà Quế đang đứng, lưng còng, tóc bạc xõa, hai tay đặt trước bụng. Bà nhìn hắn một lúc lâu, rồi nhìn ra phía hẻm sau, nơi bóng tối đã nuốt người đàn ông áo xám.
“Thằng béo có người tốt,” bà nói.
“Dạ.”
“Người tốt không đỡ được nó.” Bà quay vào. “Ngủ đi. Mai dậy sớm.”