Ngày bốn mươi mốt: ba mươi sáu chữ ký.
Hắn đếm chúng ngay trên bậc cửa Hạnh Lâm Đường lúc hoàng hôn, trải ba mươi bản thỉnh nguyện lên chiếu, mỗi bản một người đi gõ cửa, mỗi người một mảnh than để điểm chỉ cho những ai không biết chữ. Ba mươi sáu chữ ký, và trong đó mười hai là của chính những người nằm trong sổ ông Liễu. Hắn nhìn chúng, những dấu tay nguệch ngoạc đen như vết mực, những cái tên xiêu vẹo chữ được học vội, và nghe Chủ Bạ nói, rất khẽ:
「Chủ sổ. Còn tám ngày. Còn chín trăm sáu mươi bốn.」
“Ngươi đừng đọc số nữa.”
「Tại hạ không đọc. Tại hạ ghi.」
Phía sau, trong gian trước, Tri Hạ đang làm một việc nàng làm rất lâu mà chưa bao giờ làm đúng như thế: bán thuốc không tính giá.
* * *
Bốn lá cuối cùng đi vào bốn gia đình đúng như nàng đã nghĩ trong đêm.
Một bà góa bán gạo Đinh Thị, phổi đã khò khè ba năm, nằm trên một cái giường rạ ở hẻm Thủy Giác, nơi mùi ẩm và mùi mắm quện lấy nhau. Một đứa bé chín tuổi con anh thợ rèn Quách Lão Nhị, người có cái lò bị mua lại giá ba mươi hai lượng. Một cô thợ giặt trẻ mới sinh con, băng huyết, số ngày giảm từng khắc. Và một ông già gầy như bộ xương, ngồi dựa tường trong một túp lều ngoài bờ suối, tên Tống.
Hắn nhận ra tên ấy khi Tri Hạ đọc bệnh án to lên trước giường.
“Tống Lão Thật,” nàng đọc. “Sáu mươi hai tuổi. Phế khô. Có một người con trai.”
“Có.” Giọng ông già khàn, nhỏ như tiếng gió. “Có. Nó tên Nghĩa.”
Không ai nói.
Hắn thấy Tri Hạ khựng trong một nhịp rất ngắn, nhìn xuống tờ giấy, rồi nhìn hắn. Hắn gật.
“Ông Tống,” nàng nói, chậm, đặt tờ giấy xuống và quỳ trên nền đất lạnh, ngang tầm mắt ông. “Ông có biết lá này từ đâu ra không?”
Ông già nhìn nàng. Đôi mắt ông trũng sâu, vàng như sáp, nhưng trong đó có một thứ ánh sáng hắn đã thấy ở Triệu Tam, ở Mạc Lão Tứ: ánh sáng của người đã nín thở suốt nhiều năm.
“Biết,” ông nói.
“Ai nói với ông?”
“Cả phố.” Ông ho, một cơn ho nặng, gập người. “Họ nói ngày hôm qua. Họ nói thằng Nghĩa… họ nói nó mang xuống.” Ông cười, một nụ cười không có răng. “Nó chưa bao giờ mang gì xuống cho tôi.”
Tri Hạ nín thở.
“Mười bảy tuổi,” ông Tống nói. “Nó đi hái thuốc thuê. Nó bảo: cha, con kiếm được ba lượng. Nó không nói cho tôi biết là ở Vách Sương.” Ông ngẩng đầu. “Lá này, cô nói là của nó mang xuống?”
“Nó thuộc cùng bảy mươi mốt lá,” Tri Hạ nói, giọng nàng nhỏ đi. “Tôi không biết lá nào.”
Ông Tống nhìn chiếc hộp ngọc trên tay nàng, chiếc lá trắng bạc nằm trên rêu, phát sáng dịu. Ông nhìn nó rất lâu. Hắn thấy bàn tay ông, gầy như móng chim, đưa lên, ngập ngừng, dừng cách chiếc lá một gang.
“Tôi có phải trả không?” ông hỏi.
“Không.”
“Cô vừa nói Khế Cứu Chữa…”
“Với ông thì không.” Nàng nhìn thẳng. “Tôi đã bàn với Tạ Niên. Ông không phải trả.”
“Tại sao?”
“Vì con ông đã trả rồi.”
Ông Tống không nói gì. Ông ngồi im, đôi bàn tay run, môi mím lại. Một giọt nước chảy xuống hõm má, rơi vào áo, không tiếng. Rồi ông cúi đầu, rất sâu, hơn bất cứ cái cúi đầu nào hắn từng thấy ở Lục Khê, và hắn nghe ông thì thầm:
“Nghĩa ơi.”
Tri Hạ bóp lá vào chén nước ấm, tay nàng run. Ông Tống uống. Hắn nhìn lên đầu ông.
【Thọ Số: 140 ngày】
【Thọ Số: 147 ngày】
【Thọ Số: 160 ngày】
【Thọ Số: 5.800 ngày】
Ông Tống ngẩng lên, thở ra. Hơi thở dài, sâu, không có tiếng khò khè.
“Cha mày,” ông nói với khoảng không trước mặt, “sống lâu hơn tưởng.”
* * *
Bà Quế bắt đầu đi vào ngày bốn mươi hai.
Hắn đi theo, cách ba bước, mang giỏ đựng bản thỉnh nguyện và mảnh than điểm chỉ. Bà đi rất chậm, chống gậy, lưng còng, áo nâu cũ, và theo sau bà, thành hai hàng lệch, là ba mươi người của sổ ông Liễu: đàn bà bế con, ông già, anh thợ rèn Quách Lão Nhị với đứa nhỏ nắm ống quần, cô thợ giặt trẻ vừa ngồi dậy được, mặt còn xanh.
Phố Nam Thị trước, vì dài nhất.
Bà dừng trước cửa nhà đầu tiên, một tiệm bán dầu nhỏ, gõ ba tiếng bằng đầu gậy. Một người đàn bà béo, khoảng ba mươi tuổi, tay còn dính dầu, ra mở. Chị ta nhìn bà, nhìn đoàn người đằng sau, nhíu mày.
“Bà tìm ai?”
“Bà tìm con.” Bà Quế nói, rất bình thản. “Con tên Lục Thị phải không? Tháng giêng năm Vĩnh Ninh mười một, nhà họ Lục ở làng Thanh Thủy. Mẹ con tên Hồ.”
Người đàn bà đứng chết lặng.
“Bà…”
“Bà đỡ con.” Bà Quế dựa vào gậy. “Đêm mưa. Mẹ con đẻ khó, con ra chân trước. Bà đỡ một canh rưỡi. Bà không lấy tiền vì nhà con nghèo.” Bà ngừng. “Giờ con có tiệm. Tốt.”
Người đàn bà đưa hai tay lên miệng.
“Bà là…”
“Bà Quế.” Bà cười, khô. “Bà đến nhờ con một chữ ký.”
Người đàn bà ký.
Hắn nhìn mảnh giấy, chữ viết run rẩy, tên Lục Thị Hồng, và nhận ra nàng khóc khi ký, nước mắt rơi xuống tờ giấy, làm nhòe nét cuối. Nàng ngẩng lên, nói điều gì đó với bà mà hắn không nghe được, bà gật, vỗ vai nàng, và đoàn người đi tiếp.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, thấp. 「Tại hạ ghi nhận: bà Quế không cần đọc thỉnh nguyện. Bà không giải thích điều khoản. Bà chỉ nhắc rằng bà đã đỡ họ.」 Một nhịp. 「Tại hạ ước tính hiệu quả gấp bảy lần cách giải thích của cô nương Liễu.」
“Tri Hạ không nghe được ngươi nói thế.”
「Tại hạ biết. Nên tại hạ nói với chủ sổ.」
Ngày bốn mươi hai kết thúc với một trăm bốn mươi ba chữ ký.
* * *
Ngày bốn mươi ba: ba trăm mười.
Ngày bốn mươi bốn: bốn trăm tám mươi.
Ngày bốn mươi lăm: sáu trăm hai mươi, và Thông Bảo bắt đầu phản ứng.
Hắn thấy chúng đầu tiên ở phố Thủy Giác, vào buổi chiều. Không có ai quát, không có ai đánh. Chỉ là hai người đàn ông áo đen đi dọc phố, chậm, cách đoàn bà Quế chừng mười bước, và cứ đến mỗi cửa nhà bà vừa rời, họ dừng lại, gõ nhẹ, mỉm cười, đưa cho người mở cửa một gói giấy nhỏ.
Hắn bước lại gần khi họ đi khỏi.
“Họ cho cái gì?” hắn hỏi người đàn bà vừa nhận.
Chị ta lúng túng, giữ gói giấy ra sau lưng. Rồi chị ta thở ra, mở nó.
Bên trong là một chiếc bánh bao nhân đậu, còn ấm, và một mảnh giấy nhỏ: Cảm ơn bà đã quan tâm đến đại sự Lục Khê. Xin đừng vì lòng tốt mà ký tên vào điều mình chưa hiểu. Thông Bảo Thọ Hành.
Hắn đọc hai lần. Rồi hắn nhìn chiếc bánh bao.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, rất chậm. 「Đây không phải đe dọa. Đây không phải mua chuộc. Đây là lời nhắc lịch sự. Tại hạ đánh giá: nguy hiểm hơn cả hai.」
“Họ không ép.”
「Không.」 Một nhịp. 「Họ gieo một nghi ngờ. Nghi ngờ rẻ hơn bạc.」
Hắn thấy chị đàn bà nhìn chiếc bánh bao, nhìn gói giấy, nhìn mảnh than trên tay hắn. Chị ta thì thầm: “Họ nói ký vào là bị Trướng Sứ Ty ghi vào sổ nợ.”
“Ai nói?”
“Cả phố.”
Hắn không đáp. Hắn nhìn về cuối phố, nơi bà Quế đang đứng dựa vào gậy, nhỏ bé trong ánh chiều, nghe một ông thợ rèn nói gì đó với bàn tay run. Bà quay đầu, và dù cách hơn hai chục bước, hắn thấy ánh mắt bà. Không hoảng, không giận. Bà chỉ nhìn hắn, khẽ gật, rồi quay lại.
Đi tiếp.
Ngày bốn mươi lăm kết thúc với sáu trăm hai mươi lăm. Ngày bốn mươi sáu chỉ thêm tám mươi.
* * *
Ngày bốn mươi bảy là ngày tệ nhất.
Hắn nhận ra từ sáng, khi đoàn bà Quế đến phố Bắc Thị và thấy năm cửa nhà đóng im, không ai ra, dù bên trong có tiếng trẻ khóc. Họ gõ lần hai. Không ai. Họ gõ lần ba. Một người đàn ông hé cửa, mặt xám, nói qua khe: Đừng đến. Làm ơn. Rồi đóng.
Bảy trăm hai mươi tám. Rồi bảy trăm ba mươi. Rồi đứng im.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói. 「Tại hạ tính lại. Còn hai ngày. Còn hai trăm bảy mươi. Tốc độ hiện tại, hai mươi mốt chữ ký một ngày. Không đủ.」
“Ta biết.”
「Tại hạ ước tính xác suất: mười chín phần trăm.」
Hắn không đáp.
Bà Quế ngồi xuống bậc thềm một nhà đóng cửa, thở dốc. Lần đầu tiên hắn thấy bà thở dốc. Cây gậy nằm ngang trên đầu gối, tay bà run, và hắn chạy đến, quỳ xuống, đặt tay lên cổ tay gầy.
“Bà…”
“Bà không sao.” Bà gạt tay hắn. “Bà chỉ nghỉ.” Bà nhìn xuống đường. “Họ sợ.”
“Con biết.”
“Họ không đáng bị mắng.” Giọng bà khàn. “Sợ là điều tự nhiên. Bà cũng sợ, nhiều lần.”
“Bà sợ gì?”
“Sợ mày chết.” Bà nhìn thẳng hắn, đôi mắt đục sắc như dao. “Mỗi đêm. Từ hôm mày đi hái lá về, vai trật.”
Hắn không biết nói gì.
“Bà sợ mày chết, bà vẫn đứng dậy nấu cháo,” bà nói. “Đó là cách. Không có cách khác.” Bà đứng dậy, chống gậy. “Đi.”
“Đi đâu?”
“Mấy nhà bên kia cầu đá.”
* * *
Bên kia cầu đá, một bà cụ tóc bạc phơ đứng chờ.
Hắn nhận ra ngay. Hắn đã thấy bà cụ này trên quảng trường, ngày đấu giá, nghe Lâm Bá Dung đọc tên và nấc lên giữa đám đông. Bà cụ ngồi trên một chiếc ghế gỗ nhỏ trước cửa một căn nhà nhỏ, trong lòng ôm một cái bọc vải.
“Phương thị,” bà Quế nói. “Chồng bà là Phương Lão Nhị.”
“Phải.” Bà cụ không đứng dậy. “Bà Quế. Tôi nghe nói bà đi gõ cửa.”
“Phải.”
“Tôi chờ bà.” Bà cụ nhìn lên, đôi mắt ướt nhưng ráo. “Mấy hôm nay tôi nghĩ. Chúng đưa tôi năm trăm lượng.”
Hắn nín thở.
“Thông Bảo.” Giọng bà cụ rất bình tĩnh. “Hôm qua. Một thằng gia nhân áo đen mang rương đến. Năm trăm lượng, bạc trắng. Hắn bảo: ông chủ nhà tôi nợ bà một khoản.” Bà cụ cười, khô như lá. “Mười ba năm tôi sống bằng giặt đồ. Năm trăm lượng là tiền tôi giặt một nghìn năm.”
“Bà nhận?”
“Nhận.” Bà cụ nhìn bà Quế. “Tôi nhận. Đó là tiền, và tôi nghèo.” Bà vỗ nhẹ lên cái bọc vải. “Nhưng hắn nói thêm: ông chủ tôi mong bà không ký những thứ không liên quan đến bà.”
“Và bà?”
“Tôi nói với hắn,” bà cụ nói, và hắn nghe trong giọng bà một thứ gì đó đột ngột cứng lại, như một cây gậy bị gập, “Tiền là tiền. Chữ ký là chữ ký. Ông chủ ngươi biết tách hai cột. Tôi cũng biết.”
Bà Quế nhìn bà cụ rất lâu.
“Đưa tôi giấy,” Phương thị nói.
Hắn đưa bản thỉnh nguyện. Bà cụ lấy ngón cái chấm vào mảnh than, ấn xuống cuối trang, rất mạnh, rất chậm, để lại một dấu đen to và sâu, và hắn thấy bà nhắm mắt khi ấn.
“Chồng tôi tên Phương Lão Nhị,” bà nói. “Mười ba năm trước ông ấy đi hái lá cho Thông Bảo. Ông ấy bảo: được ba lượng rưỡi. Tôi không biết là ở Vách Sương.” Bà mở mắt. “Ông ta chết, ông ta chưa bao giờ ký giấy. Chữ này,” bà gõ vào tờ giấy, “là chữ ký đầu tiên của nhà tôi.”
Rồi bà cụ đứng dậy, chậm, chống tay vào vai người thanh niên đứng sau, và hắn thấy ở khắp con hẻm phía sau lưng bà, những cánh cửa đóng im lần lượt hé ra, từng cái một. Một cái. Hai cái. Mười cái.
“Bảy gia đình,” bà cụ nói, quay lại nhìn họ. “Chúng ta được năm trăm lượng. Ai cầm bạc thì cầm. Nhưng ai cầm bạc, hãy nhớ: bạc đó là giá của một cái mạng, không phải giá của một cái tên.”
Cửa mở. Rồi những cánh cửa khác.
Ngày bốn mươi bảy kết thúc với bảy trăm chín mươi.
* * *
Ngày bốn mươi tám: chín trăm mười bốn.
Ngày bốn mươi chín: chín trăm tám mươi bảy.
Hắn đếm trong gian trước Hạnh Lâm Đường lúc giờ Tuất, ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp, ba mươi bản thỉnh nguyện trải kín mặt bàn, mực than đen lẫm trên giấy vàng. Tri Hạ ngồi cạnh, bàn tính ngọc nhỏ trong tay, ngón trỏ chạy trên hạt đen ngắn, nhanh, đều. Ông Liễu đã ngủ. Bà Quế ngủ trước cả ông, ngay trên chiếc ghế trong bếp, đầu tựa vào tường, cây gậy rơi nằm cạnh chân.
“Chín trăm tám mươi bảy,” Tri Hạ nói.
“Còn mười ba.”
“Còn một ngày.”
“Còn mười ba.”
Họ nhìn nhau. Nàng không cười, không khóc, nhưng hắn thấy nàng cắn đầu ngón tay trỏ, vệt đỏ hằn lên đốt tay.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, rất khẽ. 「Tại hạ tính lần cuối. Còn một ngày, mười ba chữ ký. Với tốc độ trung bình bốn mươi hai chữ ký một ngày trong ba ngày qua, xác suất đạt một nghìn là chín mươi hai phần trăm.」
“Chín mươi hai.”
「Tại hạ không thích con số này.」 Một nhịp. 「Tại hạ nghĩ nó còn ẩn một điều chưa tính.」
“Điều gì?”
「Tại hạ chưa biết.」
Cửa tiệm bị gõ.
Không phải ba tiếng chậm. Không phải hai tiếng nhẹ. Là một chuỗi gõ gấp, rối, như người thở không ra hơi.
Tri Hạ rút chốt.
Chú Bốn đứng ngoài, quần áo lấm bùn đỏ, mặt cháy nắng, tóc rối như tổ chim, hai tay ôm một cái bọc vải to bằng nửa người. Phía sau anh ta, trong bóng tối ngoài đèn, hắn thấy ít nhất hai chục người đứng xếp hàng, đàn ông đàn bà, mang gậy, mang đuốc, mang cả trẻ nhỏ ngủ gục trên vai, và ở cuối hàng, to lớn như một tảng đá, Chung Đại Hà.
“Tiểu Niên,” chú Bốn thở hổn hển. “Tôi… tôi mang…”
Anh ta đặt cái bọc xuống bàn, giữa các bản thỉnh nguyện. Cái bọc rơi xuống nặng, tiếng vải sột soạt, và khi anh ta mở nó ra, hắn thấy bên trong là hàng chồng giấy, giấy vàng thô, mảnh nào cũng đầy dấu tay đen.
“Hòe Hạ,” chú Bốn nói. “Năm mươi tám hộ. Tất cả. Mạc Lão Tứ ký đầu. Ông ấy bảo: đi, đi nhanh.” Anh ta thở ra, và hắn thấy hai hàng nước mắt chảy xuống má lấm bùn. “Rồi dọc đường cát, mấy thôn nghe tin. Thanh Thủy, Đồng Môn, Liễu Tiền, Ba Giếng. Họ nghe nói Hạnh Lâm Đường.” Anh ta nuốt khan. “Họ nghe nói cậu.”
Tri Hạ đã lật cuộn giấy. Hắn thấy ngón tay nàng run khi đếm.
“Hai trăm bốn mươi hai,” nàng nói.
“Hai trăm…” Hắn không dứt được câu.
“Hộ khẩu thuộc quận Lục Khê.” Tri Hạ nhìn lên, mắt tròn đen mở lớn. “Cậu có hiểu không? Tất cả đều thuộc quận Lục Khê. Điều ba trăm bảy mươi hai nói hộ dân trong quận, không nói trong thành.”
Chung Đại Hà bước vào qua ngưỡng cửa, cúi đầu nhẹ vì xà thấp, và đứng đó, vai rộng, râu rậm, nhìn họ với cái nhìn của người vừa đi hai ngày hai đêm mà không ăn.
“Tao đi buôn hai mươi năm,” ông ta nói, “chưa bao giờ chở một xe giấy.”
Hắn bật cười. Một tiếng cười ngắn, khản, rách, không ngờ.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói. 「Tổng cộng: chín trăm tám mươi bảy cộng hai trăm bốn mươi hai là một nghìn hai trăm hai mươi chín. Xác suất đạt một nghìn: tại hạ…」 Nó ngừng. 「Tại hạ không tính. Tại hạ muốn nghe chủ sổ cười thêm một lần.」
Hắn cười.
Ngoài cửa, trong bóng tối, tiếng cây hạnh khô rì rào dưới gió, và xa xa, ở đâu đó trên các mái ngói Lục Khê, một con chim ăn đêm kêu một tiếng, rất dài, rồi im.
Còn một ngày.