Nợ Trời Ba Nghìn Năm

Chương 45: Điều một trăm bốn mươi

“Hết hàng,” Tào Quản Sự nói.

Ông ta nói bằng giọng của người trả lời một câu hỏi mà mình đã trả lời cả nghìn lần: dịu, tiếc nuối, đúng độ. Quạt lông phe phẩy một nhịp. Trên bàn trà trước mặt ông ta là tờ giấy Tri Hạ viết đêm qua, nét chữ nhỏ, chắc, đóng dấu bàn tính của Hạnh Lâm Đường ở cuối, và bên cạnh đặt một túi vải đựng một trăm tám mươi lượng bạc, tám thỏi hai mươi hai lượng rưỡi, không thiếu một đồng.

“Hết hàng,” Mã Phúc nhắc lại, và bút lông trong tay ông ta chuyển động, không nhanh, không chậm. “Ông xác nhận Thông Bảo Thọ Hành hiện không có tồn kho Bạch Sương Diệp để bán cho yêu cầu này?”

“Nhà tôi đã nói nhiều lần, ông Mã.” Tào Quản Sự mỉm cười. “Bạch Sương Diệp đã hết hàng hơn nửa năm. Hết thật. Không giấu.”

“Nửa năm.”

“Nửa năm trở lên.”

“Thưa ông Tào, ông nói hết hàng hay không có tồn kho?”

Cái quạt khựng nửa nhịp, rồi tiếp tục. “Hai điều là một.”

“Không phải trong Quy củ.” Mã Phúc ghi. “Tôi ghi cả hai.”

Phòng khách lầu hai Thông Bảo Thọ Hành hôm nay không có người hầu nào bưng trà. Hắn ngồi cạnh Tri Hạ trên ghế khách, và ngoài hắn, bên trái là ông Liễu, mặc áo tốt nhất, ngồi thẳng người trên chiếc ghế mà Chung Đại Hà đã khiêng ông ấy lên ba bậc cầu thang. Bốn gia nhân áo đen đứng ở góc phòng, mặt vô cảm. Ánh nắng từ cửa sổ hắt lên sàn gỗ bóng, và hắn nhìn thấy trong đó bóng mình, bóng Tri Hạ, và bóng quạt lông đung đưa.

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, rất khẽ. 「Nhịp thở của Tào Quản Sự ổn định. Cơ mặt không đổi. Ông ta tin rằng ông ta đang nói thật vì ông ta đã nói đủ lâu. Tại hạ ghi nhận: đó là dạng nói dối nguy hiểm nhất.」

“Ông Mã,” Tào Quản Sự nói, và giọng ông ta chuyển, thân mật hơn, như hai người đồng nghiệp lâu năm tình cờ gặp trong quán trà. “Mười bảy năm tôi không thấy ông ở phố này. Ông vẫn còn gọt móng tay?”

“Vẫn.”

“Tôi tưởng ông đã mất ở quầy đề tồn.”

“Tôi còn.” Mã Phúc không ngẩng đầu. “Cả quầy cũng còn.”

“Quầy ấy rất kỳ lạ,” Tào Quản Sự nói, cười. “Mười bảy năm không ai ngó, rồi bỗng một tháng có tới hai người nộp tiền.” Quạt lông lại phe phẩy. “Ông có thấy đó là trùng hợp không?”

“Tôi thấy,” Mã Phúc nói, “đó là lúc quầy làm việc.”

Hắn nghe Tri Hạ thở ra rất khẽ, và nhận ra nàng đang cố nhịn cười.

Mã Phúc đặt bút xuống. Ông ta đọc lại biên bản bằng giọng đều đều, từng câu: Ngày ba mươi sáu, giờ Tỵ. Tại Thông Bảo Thọ Hành. Yêu cầu mua mười hai lá Bạch Sương Diệp giá mười lăm lượng mỗi lá, bằng văn bản, kèm đặt cọc đủ. Chủ hàng, qua Tào Quản Sự, trả lời: hết hàng, không có tồn kho, từ nửa năm trở lên. Ông ta nhìn Tào. “Có sai không?”

“Không sai.”

“Ông ký?”

“Tất nhiên.” Tào Quản Sự đón lấy bút, ký bằng nét chữ mềm và phô trương, rồi trả lại với một cái cúi đầu. Ông ta nhìn tờ biên bản, nhìn hắn, và hắn thấy trong ánh mắt ông ta một thoáng thương hại. “Công tử Tạ. Cô Liễu. Thầy Liễu. Tôi xin lỗi vì không giúp được. Tôi thật lòng muốn.”

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói. 「Tại hạ xác nhận. Ông ta thật lòng. Ông ta thật lòng tin điều đó là bình thường.」

Hắn đứng dậy.

“Cảm ơn ông Tào,” hắn nói. “Tôi nhớ lời ông.”

* * *

Lâm Bá Dung nghe xong, im lặng rất lâu.

Phòng làm việc nhỏ sau phòng xử, một cái bàn, một đèn, giá sách cao đến trần. Ông ta đọc biên bản hai lần, rồi đặt xuống, đan hai tay trước mặt, nhìn hắn, rồi nhìn Mã Phúc, rồi nhìn Tri Hạ và ông Liễu, và hắn có cảm giác ông ta đang đo một khoảng cách rất dài.

“Điều một trăm bốn mươi,” Lâm Bá Dung nói.

“Vâng.”

“Ai nhắc ngươi?”

“Tôi tự đọc.”

“Ngươi nói thế lần thứ tư.” Ông ta nhướn mày, rất nhẹ. “Ta bắt đầu nghĩ ngươi có một người thầy không muốn hiện diện.”

Hắn không đáp.

Lâm Bá Dung cầm biên bản lên, đọc lại một dòng, và hắn thấy ngón tay ông ta ngừng ở chữ nửa năm trở lên.

“Điều một trăm bốn mươi cần ba căn cứ,” ông ta nói chậm. “Một, thuốc là thuốc cứu mệnh theo danh mục. Bạch Sương Diệp có trong danh mục. Hai, có yêu cầu mua hợp lệ bằng văn bản, giá niêm yết. Có. Ba, chủ hàng từ chối hoặc nói dối hết hàng trong khi tồn kho vượt chín mươi ngày.” Ông ta đặt biên bản xuống. “Điều ba thì ta không biết.”

“Ông có quyền kiểm kho.”

“Theo điều bốn mươi bảy, ta có quyền chủ động kiểm sổ. Kiểm kho thì cần căn cứ ban đầu hợp lý.” Giọng ông ta không đổi. “Biên bản này là căn cứ ban đầu. Nhưng nếu ta mở kho Thông Bảo mà không có gì, ta sẽ mất ghế trước khi Vu Phó Sứ kịp mở miệng.”

Phòng im.

“Có gì,” hắn nói.

“Ngươi chắc?”

“Bảy mươi mốt lá.”

Lâm Bá Dung ngừng thở.

Hắn nghe tiếng thở ấy ngừng, rõ ràng, như người nghe một nhịp bàn tính rơi sai ô.

“Ai nói?”

“Tôi không thể nói.” Hắn giữ giọng đều. “Người nói chưa an toàn. Nhưng tôi có thể nói rằng bảy mươi mốt lá nằm trong hầm lạnh dưới tầng ba, đóng hộp ngọc, từ mười ba năm. Họ chưa bán quá năm lá một năm.”

Lâm Bá Dung nhìn hắn, rất lâu.

“Ta không hỏi,” ông ta nói. “Ta sẽ không hỏi.” Ông ta đứng dậy, quay ra cửa sổ nhỏ, lưng thẳng như thước. “Mã Phúc.”

“Thưa Trướng Chủ.”

“Mai, giờ Mão, ngươi dẫn bốn thư lại. Kiểm kho Thông Bảo Thọ Hành theo điều bốn mươi bảy và một trăm bốn mươi.” Ông ta ngừng. “Không báo trước.”

Mã Phúc đứng dậy, ôm cái cân đồng, và hắn thấy khóe môi ông ta chuyển động. “Thưa Trướng Chủ. Có một việc.”

“Nói.”

“Hôm nay, trước khi chúng tôi vào, Thu Thọ Sứ ngũ phẩm đã đứng ở cửa hành lang.” Mã Phúc nói đều đều. “Bà ấy nghe hết biên bản. Bà ấy không nói gì. Khi tôi ra, bà ấy hỏi: mai giờ nào?”

Lâm Bá Dung quay phắt lại.

“Tôi nói: chưa biết.” Mã Phúc cúi đầu. “Bà ấy nói: ta sẽ biết.”

* * *

Giờ Mão ngày ba mươi bảy, sương còn đọng trên mái ngói Thông Bảo Thọ Hành.

Sáu người đứng trước cổng đôi nạm đồng: Lâm Bá Dung, Mã Phúc, bốn thư lại mặc áo xanh, và ở phía sau, hắn, Tri Hạ, ông Liễu ngồi ghế có người khiêng. Hai con sư tử đá ngậm bi ở hai bên cổng nhìn xuống họ bằng đôi mắt trống. Hắn nhìn con sư tử bên phải. Viên bi đứng yên.

Còn một người nữa, đứng cách xa nhất, dưới gốc một cây ngân hạnh nhỏ bên kia đường. Hắn không cần nhìn cũng biết ở đó có một khoảng đen mà Quan Số không đọc được.

Lâm Bá Dung gõ cổng ba lần.

Cánh cổng mở ra sau một lúc lâu. Người trẻ ở quầy hôm trước, mặt còn ngái ngủ, đứng trong khe cửa, mắt mở to khi thấy sáu người áo xanh và một đoàn.

“Trướng Phòng Lục Khê,” Lâm Bá Dung nói. “Kiểm kho theo điều bốn mươi bảy và một trăm bốn mươi. Mời Tào Quản Sự.”

Người trẻ ấp úng. Hắn thấy gã quay đầu, gọi ai đó phía sau, và bên trong đại sảnh vang lên tiếng chân chạy nhanh, nhiều, bối rối.

Tào Quản Sự xuất hiện sau chừng một nén hương.

Ông ta mặc áo gấm tím, chưa kịp đội mũ, tóc rối nhẹ phía sau gáy, và khi bước ra giữa đại sảnh, hắn thấy ông ta nhìn từng người một: Lâm Bá Dung, Mã Phúc, bốn thư lại, rồi ông Liễu, Tri Hạ, rồi hắn. Cuối cùng mắt ông ta dừng ở người đàn bà áo đen vừa bước vào cổng, không tiếng, không vội, đứng ở cuối hàng.

Cái quạt lông dừng.

“Thưa Trướng Chủ,” Tào Quản Sự nói, và hắn nghe giọng ông ta, lần đầu tiên, chậm hơn một nhịp. “Hôm qua nhà tôi đã trả lời yêu cầu của Hạnh Lâm Đường. Nhà tôi hết hàng.”

“Ta đến kiểm,” Lâm Bá Dung nói.

“Kiểm?”

“Kho.”

“Kho nhà tôi chứa tơ lụa, thuốc thường, các thứ lặt vặt. Không có…”

“Ông Mã.”

Mã Phúc bước lên, mở một cuộn giấy, đọc to, đều đều, không biểu cảm: “Lệnh kiểm kho số ba nghìn tám trăm bốn mươi, theo điều bốn mươi bảy và một trăm bốn mươi. Chủ kho phải mở mọi gian, mọi hầm, mọi tủ, trong một canh. Cản trở kiểm kho là phạm điều một trăm bốn mươi hai, mức phạt…”

“Tôi hiểu,” Tào Quản Sự nói.

Ông ta nở một nụ cười. Hắn nhìn nụ cười ấy, và lần đầu tiên hắn thấy nó là một vật trang trí treo trên gương mặt của một người đang tính đường lui.

“Xin mời,” ông ta nói. “Nhà tôi không có gì phải giấu.”

* * *

Họ đi từ tầng một lên tầng ba, và từ tầng ba xuống.

Kho tầng một đầy bao gạo, muối, vải thô. Kho tầng hai đầy tơ lụa trong những tủ ngăn kéo cao, mỗi ngăn dán một nhãn đỏ. Mã Phúc mở từng cái, không nhanh, không chậm, bốn thư lại kiểm đếm, ghi vào sổ, đóng dấu. Tào Quản Sự đi cạnh, quạt lông phe phẩy, đôi khi nói một câu: đây là hàng đặt riêng, kia là hàng mới nhập, ông Mã cẩn thận kẻo vỡ. Hắn thấy ông ta nhìn người đàn bà áo đen mỗi khi ông ta nghĩ không ai thấy.

Vệ Ngọc Hành không nói. Bà đi sau cùng, hai tay buông xuôi, nhẫn ngọc đen ở ngón cái trái lóe một tia sáng nhỏ mỗi khi bà qua cửa sổ.

Đến tầng ba, kho thuốc.

Thuốc thường xếp từ sàn lên trần, trong hộp gỗ, lọ sứ, bao giấy dầu. Mùi cam thảo, mùi quế, mùi hoàng kỳ, mùi cũ. Tri Hạ đi sát hắn, và hắn thấy nàng hít vào chậm, nhắm mắt một nhịp, như đang đọc bằng mũi. Ông Liễu ngồi ghế khiêng, mắt nhắm, nhưng ngón tay gõ nhẹ lên tay vịn.

Cuối kho tầng ba có một cánh cửa gỗ thấp, bọc sắt.

“Đây là gì?” Mã Phúc hỏi.

“Hầm,” Tào Quản Sự đáp. “Chứa đồ cũ. Hỏng. Không dùng.”

“Mở.”

“Chìa do ông chủ giữ.”

“Ông chủ ở đâu?”

“Ông chủ ở nơi ông chủ ở.” Nụ cười của Tào Quản Sự không đổi. “Đó là lý do nhà tôi không thể mở.”

Mã Phúc đặt bàn tay lên cánh cửa. Hắn thấy các ngón tay ông ta, những ngón tay chai vì gọt móng, mở ra, rồi ấn xuống, và có một thứ gì đó chuyển qua mặt gỗ, rất nhẹ, như hơi thở đẩy một chiếc lá. Khóa ở phía trong khẽ kêu cạch.

Cánh cửa không mở.

“Khóa ngọc,” Mã Phúc nói, nhìn Lâm Bá Dung. “Phải có chìa hoặc phải phá. Phá thì nửa kho hỏng.”

Lâm Bá Dung nhìn Tào Quản Sự.

“Thưa Trướng Chủ,” Tào nói, giọng mềm. “Nhà tôi không từ chối. Nhà tôi chỉ không có chìa. Trướng Chủ có thể chờ ông chủ…”

“Mở.”

Chỉ một chữ.

Hắn không thấy ai nói. Hắn chỉ thấy cả hành lang đột ngột đông lại, như thể không khí vừa được đổi thành nước. Tào Quản Sự quay phắt đầu, và hắn thấy Vệ Ngọc Hành vẫn đứng cuối hành lang, hai tay buông xuôi, mắt nhìn thẳng vào cánh cửa sắt.

Bà không nhìn Tào. Bà không nhìn ai cả.

“Mở,” bà lặp lại, đều, thấp. “Ta có thể chờ ông chủ của ông. Ta chờ rất giỏi. Nhưng ta đã chờ đủ.”

Hắn thấy mặt Tào Quản Sự đổi sắc, rất nhanh, từ hồng sang tái, và ông ta ngoái lại, nhìn một trong bốn gia nhân áo đen đứng sát tường.

Gã ấy bước lên, tay run, rút từ trong ngực một chiếc chìa bằng ngọc xanh.

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, thật khẽ. 「Tại hạ ghi nhận: một chiếc chìa đã có sẵn trong ngực gã. Ông Tào đã nói dối ba lần trong chưa đầy hai khắc.」

Cánh cửa mở.

* * *

Hầm lạnh sâu bảy bậc đá, và khi hắn bước xuống, hơi lạnh phả vào mặt như một bàn tay.

Phòng nhỏ, vuông, tường đá xám. Dọc ba mặt tường là những giá gỗ đen, và trên mỗi ngăn giá đặt một hộp ngọc trắng, vuông vức, bằng bàn tay. Tất cả đóng chặt. Mỗi hộp dán một mảnh giấy nhỏ ghi ngày.

Mã Phúc đếm. Ông ta đếm thành tiếng, bằng giọng đều đều, với cái chính xác của người đã đếm khế cả đời.

“Một. Hai. Ba.”

Bốn thư lại ghi.

“…Sáu mươi chín. Bảy mươi. Bảy mươi mốt.”

Ông ta dừng. Quay lại Lâm Bá Dung.

“Bảy mươi mốt hộp ngọc. Mỗi hộp một lá, theo nhãn. Lá cũ nhất: năm Vĩnh Ninh hai mươi tám.” Ông ta mở một hộp. Hơi lạnh bốc lên, và trong hộp, trên một lớp rêu trắng, nằm một chiếc lá nhỏ, dài, mỏng, mép cuộn, trắng bạc, phát ra thứ ánh sáng dịu mà hắn đã thấy trong hang Sương Diệp. Mười ba năm, và nó vẫn sáng.

Tri Hạ bước tới, rất chậm. Nàng đưa tay lên mũi, nhắm mắt.

“Mười phần,” nàng nói, giọng run. “Cả bảy mươi mốt, tôi ngửi được. Mười phần.” Nàng mở mắt, và hắn thấy hai hàng nước đã chảy xuống mặt mà nàng không nhận ra. “Họ giữ nó lạnh. Họ giữ nó như giữ vàng.”

Ông Liễu được khiêng xuống bậc cuối cùng. Ông nhìn giá gỗ. Nhìn hộp ngọc. Nhìn từng nhãn giấy nhỏ ghi ngày, năm Vĩnh Ninh hai mươi tám, hai mươi chín, ba mươi. Ông không nói gì. Hắn thấy môi ông mấp máy, rất nhẹ, như đếm.

Ở góc hầm, trên một cái bàn thấp, có một cuốn sổ bọc da.

Lâm Bá Dung nhấc nó lên. Lật trang đầu. Đọc. Ông ta không nói gì trong rất lâu, và hắn thấy ngón tay ông ta, trên trang giấy, đi chậm, chậm, từng dòng.

“Tào Quản Sự,” ông ta nói.

“Thưa Trướng Chủ.” Giọng Tào đã khô.

“Sổ nhập kho. Mỗi hộp ghi ngày nhập, người hái. Năm Vĩnh Ninh hai mươi tám, mười lá. Do Phương Lão Nhị hái. Ghi chú: tử.” Ông ta lật. “Năm hai mươi chín, tám lá. Hoàng Tam. Tử. Năm ba mươi mốt, chín lá, Lý Quý, Trần Thất. Tử cả hai.” Giọng ông ta không đổi, nhưng hắn thấy bàn tay cầm sổ bắt đầu run. “Năm ba mươi lăm, hai mươi bốn lá. Chu Đại Thọ. Tử. Năm ba mươi tám, chín lá. Tống Tiểu Nghĩa.”

Ông ta ngừng.

“Tử,” ông ta đọc. “Mười bảy tuổi.” Ông ta lật thêm một trang. “Năm bốn mươi mốt. Phương Hữu, làm công nhật. Chưa nhập lá nào. Tử.”

Căn hầm đá im đến mức hắn nghe thấy tiếng lá trong hộp chạm vào rêu.

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, và giọng nó trầm hơn bất kỳ lần nào hắn từng nghe. 「Bảy mươi mốt lá. Bảy người chết. Tại hạ ghi nhận. Tại hạ cũng ghi nhận rằng tại hạ không có thông tin để nói thêm.」

Hắn nhớ cái xác dưới chân Vách Sương, người nhỏ con của Thông Bảo, không có Thọ Số, chỉ có một khoảng trống không phải số không. Hắn nhớ viên sỏi trắng hắn đã đặt trên ngực người đó. Hắn đã không biết tên. Giờ hắn biết.

Phương Lão Nhị.

Hoàng Tam.

Lý Quý, Trần Thất.

Chu Đại Thọ.

Tống Tiểu Nghĩa.

Phương Hữu.

Hắn đọc lại bảy cái tên trong đầu, một lần, hai lần. Rồi hắn nhìn sang người đàn bà áo đen.

Vệ Ngọc Hành đã bước xuống hầm. Bà đứng cạnh cầu thang, hai tay buông xuôi, nhìn giá gỗ và hộp ngọc. Gương mặt bà vẫn như đá: sắc, gầy, không tuổi. Nhưng ở thái dương, nơi lọn tóc bạc, hắn thấy một sợi gân nhỏ giật khẽ, một lần.

“Ghi,” bà nói.

Mã Phúc nhấc bút.

“Ghi đầy đủ. Từng tên.” Giọng bà thấp, đều, không có chút âm điệu nào. “Và ghi rằng Thu Thọ Sứ ngũ phẩm Vệ có mặt, chứng kiến, và xác nhận.”

Bà quay đi, bước lên bậc đá đầu tiên, rồi dừng lại. Không ngoái lại.

“Bảy người,” bà nói, như nói với bức tường. “Bảy người trong mười ba năm. Ta tự hỏi,” giọng bà hạ xuống gần như không nghe được, “ta đã ở đâu.”

Bà đi lên, tiếng bước chân nhẹ dần.

Hắn đứng im trong hơi lạnh, nhìn bảy mươi mốt chiếc lá phát sáng, và không biết mình đang giận hay đang khóc, hay chỉ đang đếm.