“Cậu chậm một ngày,” Tri Hạ nói.
Nàng đứng ở ngưỡng cửa Hạnh Lâm Đường, hai tay khoanh trước ngực, vệt mực ở cằm đã đổi từ phía trái sang phía phải, dấu hiệu của một ngày dài bị bàn tính và bút lông hành hạ. Hoàng hôn đổ xuống phố Đông Hạnh, nhuộm đỏ đầu tóc nàng và những cành hạnh khô, và hắn dắt con ngựa của Chung Đại Hà đi bộ qua đoạn cuối con phố vì chân hắn không còn tin vào yên.
“Hạc giấy bay hai ngày,” hắn nói. “Tôi đã đi một ngày rưỡi.”
“Tôi tính ra một ngày.”
“Đường dê.”
“Tôi biết.” Nàng không nhúc nhích. “Chung Đại Hà gửi bồ câu hôm qua. Tôi biết cậu đi đường nào, tôi biết ông Mã đã cưỡi ngựa, tôi biết cậu cho một đứa bé ba mươi ngày.”
Hắn khựng bước.
“Ba mươi ngày,” Tri Hạ lặp lại. Giọng nàng đều, không cao, và hắn nhận ra cái giọng ấy: giọng nàng dùng với Tào Quản Sự. “Chuyển Thọ, phí ba mươi phần trăm, cậu mất ba mươi, bé nhận hai mươi mốt, hoàn trả ba năm không lãi.” Nàng thở ra, chậm. “Cậu có biết ba mươi ngày của cậu đáng bao nhiêu không?”
“Tôi biết.”
“Một trăm hai mươi tám lượng, nếu phải mua lại bằng lá của Bạch gia.” Nàng buông tay, bước hẳn ra ngưỡng cửa. “Một trăm hai mươi tám lượng, cậu đem cho một đứa trẻ bảy tuổi mà không hỏi ai.”
“Cô nghe tin từ…”
“Từ khế Hợp Tác của chúng ta.” Nàng giơ cổ tay phải, nơi chẳng có gì, nhưng hắn biết nàng nhớ. “Điều hai: mọi quyết định tài chính ảnh hưởng đến thọ nguyên của cậu phải bàn với tôi. Tôi không có quyền cấm. Tôi có quyền được hỏi.”
Hắn mở miệng.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, rất nhanh. 「Tại hạ xác nhận điều hai của khế số một. Chủ sổ vi phạm không phải về nội dung. Chủ sổ vi phạm về thủ tục. Không có phản phệ vì chủ sổ không có cách nào hỏi trong đêm đó. Tại hạ đã tính.」
“Ngươi biết từ trước?”
「Tại hạ biết.」 Một nhịp. 「Tại hạ không báo. Tại hạ cho rằng đó là lần chủ sổ cần quyết định một mình.」
Hắn quay lại Tri Hạ.
“Tôi không có cách nào hỏi cô,” hắn nói. “Đứa bé sẽ chết trước khi hạc bay tới.”
“Tôi biết.” Giọng nàng lần đầu lỏng ra. “Tôi chỉ muốn nói rằng tôi biết. Rằng tôi sẽ không bao giờ cấm cậu làm điều ấy.” Nàng nhìn xuống bậc cửa. “Nhưng lần sau, nếu có thời gian, hãy hỏi trước. Dù tôi biết câu trả lời.”
“Câu trả lời là gì?”
Nàng ngẩng lên. Mắt tròn đen sáng, lần đầu hắn thấy chúng ươn ướt.
“Là ‘làm đi’,” nàng nói. “Nhưng cậu vẫn phải hỏi.”
Hắn không biết nói gì, nên hắn làm điều duy nhất hắn có thể: gật. Rồi hắn bước tới và đặt tay lên vai nàng, nhanh, vụng về, như lần đầu hắn thử vỗ vai ai. Nàng cứng người một nhịp. Rồi nàng thở ra, và đặt trán tựa vào vai hắn, chỉ một khoảnh khắc ngắn đủ để hắn nghe thấy mùi cam thảo và mực.
“Cậu hôi mùi ngựa,” nàng nói, giọng nghèn nghẹt.
“Tôi biết.”
“Đi tắm. Bà cậu đang nấu cơm.”
* * *
Bà Quế nhìn hắn từ đầu đến chân như nhìn một con gà được bán.
“Béo chưa?” bà hỏi.
“Chưa.”
“Tối nay ăn hai bát.”
“Dạ.”
“Cái gì ở chân mày?”
“Không có gì.”
“Mày nói dối.” Bà cúi xuống, nhấc ống quần hắn lên. Vết sẹo cũ ở bắp chân phải còn đỏ, nhưng đã khép. Bà nhìn nó một lúc, rồi buông xuống. “Sói à.”
“Dạ.”
“Mày thả thịt khô cho nó chưa?”
“Rồi.”
“Tốt.” Bà đứng thẳng, lưng còng, mắt sắc hơn lúc ở hầm khoai nhiều. “Đi ăn.”
Ông Liễu ngồi dậy ở gian trong, mặc áo mới, tóc chải gọn, và con số trên đầu ông đứng đều:
【Thọ Số: 406 ngày】
“Tri Hạ cho cha uống sáng nay,” ông nói, khi thấy hắn nhìn. “Một lá. Ta đã nói rồi. Ta tự cho ta uống, Tri Hạ chỉ đưa chén.”
“Tào có đến không?”
“Đến.” Ông nhếch môi. “Mang theo một Trướng Lại mới, trẻ, ghi chép rất kỹ. Cân hai lần. Bốn trăm lẻ sáu. Tào nhìn cái cân như nhìn một con nợ chạy trốn.” Ông cười, khẽ, thích thú. “Lão ấy bảo: ông Liễu uống thuốc rất đúng lúc. Ta bảo: tôi là thầy thuốc, tôi uống thuốc đúng bệnh.”
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, thấp. 「Tại hạ ghi nhận: thầy Liễu vừa dùng chính lập luận của mình hai lần. Tại hạ khuyến nghị đây là một cách phòng thủ có tính nhất quán.」
Hắn nhắc lại. Ông Liễu cười, tiếng cười nhẹ như giấy.
* * *
Bữa cơm tối có bốn người và một ngọn đèn.
Hắn kể. Chậm, từng việc, không bỏ chi tiết: Hồ Nhị, Tiền Quý, điều sáu mươi mốt, năm mươi tám dấu, cái giếng, Triệu Thảo, hầm khoai, Khuất Phi. Hắn không kể sợi bạc. Hắn sẽ kể sau.
Tri Hạ nghe, tay cầm đũa không ăn, đôi mắt mở to khi hắn nói đến điều một trăm chín mươi tám, hai lần đưa tay lên miệng khi hắn nói đến Mã Phúc. Ông Liễu nghe với cái nhìn của người đang xem một vở kịch mà hắn là diễn viên, và bà Quế ăn, nhìn hắn, ăn, nhìn hắn.
Khi hắn nói đến đèo Hai Tảng, đến Cao Thạch, đến con số bảy mươi mốt, bà Quế đặt đũa xuống.
“Bảy mươi mốt,” bà nhắc lại.
“Vâng.”
“Mười ba năm.”
“Dạ.”
Bà không nói gì. Nhưng hắn thấy ông Liễu đã ngừng cười.
Ông ngồi im, hai bàn tay đặt trên chăn, nhìn xuống. Khi ông mở miệng, giọng ông rất nhỏ, như tiếng ai đó nói chuyện trong một căn phòng khác.
“Mười ba năm trước,” ông nói, “vợ ta mất.”
Tri Hạ ngẩng phắt lên.
“Cha không bao giờ nói,” nàng thì thầm.
“Vì cha không biết nói.” Ông nhìn con gái, rồi nhìn hắn. “Phế khô. Giống bà Quế, giống ta. Con còn nhỏ, bốn tuổi. Khi ấy ta còn lá của người đàn bà qua đường, nhưng ta đã hứa chia cho người nghèo, hai mươi mốt lá mỗi năm, và ta giữ lời. Vợ ta cần nhiều hơn phần ta chia.” Giọng ông khàn đi. “Ta đến Thông Bảo, hỏi mua thêm. Lão Tào bảo hết hàng. Ta bảo: tôi trả gấp đôi. Lão bảo: thật sự hết. Ta đã nghĩ thế gian hết hàng thật.”
Không ai nói.
“Mười ba năm,” ông nói. “Bảy mươi mốt lá. Ta đã giữ lời với một người đàn bà, và ta mất vợ vì thế.” Ông ngẩng đầu, và hắn thấy hai hàng nước chảy xuống rãnh nhăn trên má ông, không tiếng. “Nàng chết vào đêm thứ ba.”
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, rất khẽ, rất chậm. 「Tại hạ ghi nhận. Tại hạ không có thông tin để thêm.」
Tri Hạ đã đứng dậy từ lúc nào hắn không nhìn thấy. Nàng đi vòng qua bàn, quỳ xuống cạnh giường cha, nắm lấy bàn tay đang run, và hắn thấy nàng không khóc. Nàng chỉ cúi đầu, trán chạm vào mu bàn tay ông, thật lâu.
Rồi nàng ngẩng lên, nhìn hắn bằng đôi mắt khô.
“Điều một trăm bốn mươi,” nàng nói.
“Phải.”
“Cần yêu cầu mua hợp lệ bằng văn bản, giá niêm yết.” Giọng nàng đều như lưỡi dao. “Tôi sẽ viết. Mười hai lá, giá mười lăm lượng mỗi lá.”
“Mười hai?”
“Thầy thuốc cần dự trữ,” nàng nói. “Cha tôi. Bà Quế. Mười người nữa ở phố này đang nằm.” Nàng nuốt khan. “Và Thông Bảo sẽ nói hết hàng.”
Cả bàn nhìn nàng.
“Ông ta sẽ nói,” nàng nhắc. “Ông ta đã nói mười ba năm. Ông ta sẽ không biết nói điều khác.”
* * *
Tín đến vào canh hai.
Hắn đang ngồi một mình trên bậc cửa sau, nhìn khoảng sân nhỏ có một cái giếng đá và một cây hạnh lùn, thì nghe tiếng bước chân chậm và đều, và mùi dầu đèn bàn tính. Hắn không quay đầu.
“Tạ công tử,” Đoàn Hữu Tín nói.
Y đứng ở góc sân, áo đen sạch hơn lần cuối hắn gặp, tóc chải gọn, râu cạo nhẵn. Ngọn đèn bàn tính trong tay y sáng hơn thường lệ, hạt nào cũng lấp lánh. Và trong tay kia, y cầm một cái túi vải nhỏ, không phải túi bạc, mà một túi giấy bọc vải dầu.
“Đêm khuya,” Tín nói. “Tôi xin lỗi.”
“Không sao.”
“Tôi đã định đến sáng.” Y mỉm cười, một nụ cười mà hắn chưa thấy bao giờ: nhẹ, không mệt, không lo. “Nhưng tôi không ngủ được.”
“Vì sao?”
Y bước tới ngồi xuống bậc cửa, cách hắn một khoảng, đặt đèn bàn tính xuống đất, các hạt khẽ lách cách. Y mở túi vải dầu, lấy ra một tờ giấy, trải trên đầu gối.
“Ba năm,” Tín nói. “Ba mươi sáu tháng. Tám lượng mỗi tháng. Hai trăm tám mươi tám lượng.” Y chạm đầu ngón tay lên tờ giấy. “Hôm qua, Trướng Chủ Lâm gọi tôi vào. Có một người ngồi sau ông ấy. Bà ấy không nói gì. Ông Lâm đọc: Theo lệnh Thu Thọ Sứ ngũ phẩm Vệ, chi trả toàn bộ lương Thu Thọ Sứ Đoàn Hữu Tín từ ngày hai mươi tháng bảy năm Vĩnh Ninh ba mươi tám đến nay, từ quỹ Trướng Phòng Lục Khê.” Y ngừng. “Rồi ông ấy đếm bạc. Trước mặt tôi.”
Hắn nhìn y.
“Hai trăm tám mươi tám lượng,” Tín nói. “Tôi đếm lại. Đúng từng đồng.”
“Tôi mừng cho ngài.”
“Công tử không hỏi vì sao ba năm tôi không được lĩnh.”
“Ngài không nói.”
“Tôi không biết.” Y nhìn ngọn đèn. “Tôi hỏi ông Lâm, hỏi ba lần mỗi năm, trong ba năm. Ông Lâm bảo: quỹ thiếu, Tín. Chờ. Tôi chờ. Tôi nghĩ mình phải chờ, vì đó là quy củ: Thu Thọ Sứ không đòi lương, Thu Thọ Sứ chờ cấp.” Y cười khẽ. “Hôm qua tôi hỏi ông Lâm: quỹ thiếu từ bao giờ? Ông ấy im rất lâu. Rồi ông ấy nói một điều tôi chưa từng nghe.”
“Gì?”
“Ông ấy nói: Từ khi mỗi tháng quỹ chuyển mười phần trăm cho Phó Sứ.”
Hắn không động đậy.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói. 「Tại hạ ghi nhận. Tại hạ khuyến nghị nghe tiếp.」
“Mười phần trăm,” Tín nói, “của mọi khoản công chứng thu ở Lục Khê. Chuyển lên Trướng Sứ Ty, Phó Sứ phụ trách quỹ. Tám năm nay. Từ năm Vĩnh Ninh ba mươi ba.” Y nhìn hắn. “Tức là từ thông tư.”
Gió thổi qua sân nhỏ, mang theo mùi lá hạnh khô.
“Ông Lâm không nói thẳng. Ông ấy nói: Phó Sứ họ Vu. Rồi ông ấy nhìn người đàn bà ngồi sau. Bà ấy chỉ gật.” Tín nuốt khan. “Tôi đã nghĩ lương tôi thiếu vì tôi là Thu Thọ Sứ bát phẩm hèn mọn. Hóa ra nó thiếu vì mười phần trăm của hai trăm quận gom vào một cái túi.”
Hắn nhìn ngọn đèn nhỏ giữa hai người, các hạt khẽ lung linh.
“Ngài định làm gì?” hắn hỏi.
“Tôi?” Tín bật cười, một tiếng cười gần như nhẹ nhõm. “Tôi không làm gì. Tôi là Thu Thọ Sứ bát phẩm. Tôi chờ.” Y cuộn tờ giấy, nhét lại vào túi. “Nhưng tôi mang cho công tử cái này.”
Y rút từ túi ra một vật nhỏ, đặt lên bậc đá giữa họ.
Một con dấu bằng đồng, to bằng ngón tay cái, khắc một chữ Tín.
“Đây là gì?”
“Dấu riêng của tôi. Không phải con dấu công vụ.” Y đẩy nó về phía hắn. “Công tử nhớ tôi từng nói: ba điều ngoài quy củ. Tôi đã nói ba điều. Tôi còn nợ công tử một điều.” Y nhìn thẳng hắn. “Nếu có một ngày công tử cần một Thu Thọ Sứ bát phẩm làm chứng, không phải bằng chức vụ, mà bằng tên, thì đóng dấu này. Tôi sẽ đến.”
Hắn nhìn con dấu.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, rất chậm. 「Tại hạ ghi nhận: đây là một khế ngầm khác. Không ai ký. Không ai ghi. Nhưng có người trả bằng ngày.」
“Ngài sẽ mất chức,” hắn nói.
“Tôi đã suýt mất ba năm lương.” Tín mỉm cười. “Tôi nghĩ mình hiểu giá của những thứ này.”
Hắn nhặt con dấu lên. Nó nhẹ, ấm, như vừa được nắm trong tay người khác.
“Tôi nhận,” hắn nói.
Tín gật, đứng dậy, nhấc đèn, và hắn thấy y cúi đầu một cái cúi chào lần này khác hẳn những lần trước, không máy móc, không đúng độ, mà chậm, thật, của một người đàn ông chào một người ngang hàng.
“Còn một việc nữa,” y nói, đã quay đi. “Hôm nay tôi thấy bà ấy cho gọi hồ sơ từ kinh. Hồ sơ cá nhân của Phó Sứ Vu Văn Khải, ba mươi năm.” Y dừng. “Tôi chưa từng thấy Thu Thọ Sứ ngũ phẩm đòi hồ sơ của một Phó Sứ.”
“Bà ấy muốn gì?”
“Tôi không biết.” Giọng Tín rất thấp. “Nhưng tôi nghĩ, công tử, bà ấy không đến Lục Khê chỉ vì tôi.”
Y đi. Tiếng lách cách của ngọn đèn nhỏ dần trong đêm.
Hắn ngồi đó rất lâu, tay nắm chặt con dấu đồng, nhìn bầu trời đầy sao mùa đông, và nghe Chủ Bạ nói khẽ, như một người nói với chính mình:
「Tại hạ ghi nhận: đây là lần thứ ba trong ba mươi lăm ngày, chủ sổ nhận được thứ không đòi mà được cho.」 Một nhịp. 「Tại hạ không biết nên coi đó là một khoản có hay một khoản nợ.」
“Cả hai,” hắn đáp.