Nợ Trời Ba Nghìn Năm

Chương 37: Chín mươi ngày cuối

Tiêu Bốn ăn bốn bát cháo trước khi nói được một câu trọn vẹn.

Bà Quế đứng cạnh bếp, tay cầm muôi, nhìn anh ta húp từng ngụm như nhìn đứa con đi lạc được dẫn về, và cứ mỗi khi bát cạn thì bà múc đầy, không hỏi, không nói. Gian trước của Hạnh Lâm Đường vắng khách vì Tri Hạ đã treo bảng nghỉ nửa ngày, lần đầu tiên trong mười ba năm, theo lời nàng. Ngoài cửa sổ, hoàng hôn nhuộm đỏ phố Đông Hạnh. Chung Đại Hà ngồi ở bậc cửa, gặm một củ khoai nướng, mắt dõi theo từng bước chân người qua ngõ.

“Chân anh,” bà Quế nói, “ai quấn?”

“Vợ tôi.” Chú Bốn ngẩng lên, râu dính hạt cháo. “Tôi đi ba ngày. Đêm thứ hai qua Miếu Một Đêm, nghe sói hú, tôi leo lên xà nhà ngủ.” Anh ta cười, một nụ cười méo. “Bà biết không? Con đầu đàn nó ngó tôi từ dưới. Nó không hú nữa. Nó chỉ ngó. Như thể…”

“Như thể nó nhớ mặt,” bà nói.

“Như thể nó nhớ mặt thằng Niên, và tôi đi cùng mùi.” Chú Bốn nuốt xuống. “Tôi chưa từng sợ gì như thế.”

Hắn ngồi đối diện. Tay anh ta đặt trên bàn run nhè nhẹ, những ngón tay đen cháy nắng, móng nứt, và bên cạnh bát cháo, trong một mảnh vải bẩn, là thứ anh ta mang theo từ thôn.

Một tờ giấy.

Hắn mở ra.

* * *

Giấy vàng mịn, tốt hơn mọi tờ giấy ở Hòe Hạ Thôn cộng lại. Đầu giấy in dấu đỏ hình hai con sư tử ngậm bi. Chữ nhỏ, đều, của một người viết thuê quen việc. Tiêu đề ở giữa, to bằng đốt ngón tay:

*Phiếu Ứng Thọ Mùa Đông — năm Vĩnh Ninh 41*

Hắn đọc. Tri Hạ đã ngồi xuống bên phải, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên mép bàn, và ở bên trái, đột nhiên không biết từ lúc nào, ông Liễu đã chống gậy lần ra, đứng sau lưng họ, thở chậm.

Điều 1. Bên A (Thông Bảo Thọ Hành) ứng cho mỗi hộ ký phiếu (Bên B) ba lượng bạc, trả bằng bạc trắng, giao ngay khi ký.

Điều 2. Hạn hoàn trả: sáu mươi ngày kể từ ngày ký. Lãi ba mươi sáu phần trăm mỗi niên, tính kép, cộng phí công chứng mười phần trăm.

Điều 3. Bảo đảm: Bên B thế chấp chín mươi ngày cuối cùng của thọ nguyên bản thân. Nếu quá hạn không hoàn trả bằng bạc, Bên A có quyền thu chín mươi ngày ấy theo giá thu mua niêm yết ngày thanh toán.

Điều 4. Thôn trưởng Hòe Hạ (Mạc Lão Tứ) đứng bảo lãnh liên đới cho toàn bộ các hộ ký phiếu trong thôn. Một hộ vi phạm, thọ nguyên của thôn trưởng và của mọi hộ còn lại phải cùng gánh phần thiếu.

Điều 5. Phiếu có hiệu lực kể từ ngày đăng ký tại Trướng Phòng có thẩm quyền.

Hắn đọc điều ba lần thứ hai.

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, thấp. 「Tại hạ tính. Ba lượng là ba nghìn văn. Lãi ba mươi sáu phần trăm trong sáu mươi ngày khoảng một trăm bảy mươi bảy văn. Phí mười phần trăm là ba trăm văn. Tổng ba nghìn bốn trăm bảy mươi bảy văn. Chia cho ba mươi ba văn một ngày ra khoảng một trăm lẻ năm ngày. Chín mươi ngày thế chấp không đủ, thiếu mười lăm ngày.」

Hắn lặp lại cho Tri Hạ.

“Một trăm lẻ năm ngày,” nàng nói nhanh. “Họ ứng ba lượng, thu một trăm lẻ năm ngày của người sống. Bán lại ba trăm hai mươi văn một ngày là ba mươi ba lượng sáu tiền. Cho một khoản vay ba lượng.”

“Hạn là sáu mươi ngày,” hắn nói. “Ký bây giờ thì đến hạn đúng giữa mùa đông.”

“Hai tháng đó họ làm gì cũng không đủ bạc trả,” ông Liễu nói. Ông thở khẽ. “Không gặt, không đào, không hái. Ba lượng cho một nhà năm miệng ăn, ăn đến hết đông là xong. Không còn đồng nào mà trả.”

Chú Bốn gật, tay siết lại thành quả đấm.

“Hồ Nhị đến thôn ngày hai mươi lăm,” anh ta nói. “Có hai người đi cùng, một cầm sổ, một cầm cân. Họ ngồi dưới gốc hòe, mở túi bạc. Mỗi hộ ký, nhận ba lượng. Hồ Nhị nói: Bạc là bạc. Trả sau. Rồi bảo, hộ nào không ký thì Thông Bảo ngưng mua lúa mì, ngưng cho đoàn muối lên thôn.” Anh ta nuốt khan. “Hai mươi bảy hộ ký trong ba ngày. Lão Tứ không ký, nhưng lão bị bắt ký điều bốn. Họ đứng quanh lão.”

“Ông ấy ký?”

“Lão cầm bút, tay run như cái lá.” Chú Bốn nhìn xuống. “Lão ký xong thì ngồi bệt xuống đất, không nói gì cả ngày.”

Bà Quế đặt muôi xuống. Rất nhẹ. Không ai nghe tiếng.

“Anh ký chưa?” bà hỏi.

“Chưa.” Chú Bốn ngẩng đầu. “Tôi nói tôi phải hỏi tiểu Niên. Hồ Nhị cười, bảo thằng nhóc ấy đang bận ở Lục Khê. Hắn bảo tôi không ký thì mua lúa của tôi giá nửa. Tôi vẫn không ký.” Giọng anh ta nhỏ đi. “Đêm hôm đó vợ tôi ôm con khóc, nói chúng ta chết đói cũng được, miễn đừng bán ngày cho họ. Tôi bỏ nhà đi trong đêm.”

“Vợ anh và con?”

“Ở trong hầm khoai, dưới gốc hòe. Lão Tứ cho giữ. Hồ Nhị không biết hầm ấy.”

Hắn nhìn anh ta một lúc lâu. Trên đầu chú Bốn hiện lên con số, bình thường, đều, giảm dần theo ngày:

【Thọ Số: 14.583 ngày】

Hắn thở ra, nhẹ nhõm đến mức tự thấy xấu hổ. Anh ta chưa bán. Anh ta chưa mất gì.

“Còn bao nhiêu hộ chưa ký?” hắn hỏi.

“Ba mươi mốt.” Chú Bốn lấy một mảnh vải khác trong ngực, mở ra: những dấu tay nguệch ngoạc, ba mươi mốt cái, bằng than. “Tôi hỏi từng nhà. Họ chưa ký, vì họ chờ. Họ chờ tôi đi hỏi.”

“Hỏi ai?”

“Hỏi cậu, Niên.” Anh ta nhìn thẳng hắn. “Cả thôn nghe chuyện cậu đọc khế hôm Trùng Cửu. Họ nói thằng nhóc ấy đọc ra cái bẫy mà lão Hồ Nhị còn chưa kịp đọc.”

Hắn không trả lời. Ngực hắn nặng như đá.

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói. 「Tại hạ ghi nhận: ba mươi mốt dấu tay là ba mươi mốt lời hỏi.」

* * *

“Điều năm,” ông Liễu nói.

Cả bàn quay lại.

Ông đứng sau lưng họ, một tay chống gậy, một tay đặt lên tờ giấy. Ông không đọc điều ba. Ông không đọc điều bốn. Ông chỉ vào dòng cuối cùng, dòng ngắn nhất, nhạt như bị cố tình viết nhỏ hơn.

Điều 5. Phiếu có hiệu lực kể từ ngày đăng ký tại Trướng Phòng có thẩm quyền.

“Chưa đăng ký,” ông nói.

“Cha?” Tri Hạ ngẩng lên.

“Phiếu này chưa đăng ký.” Ông Liễu thở dài, nhưng lần này nó không nặng. “Họ thu chữ ký trước, đăng ký sau. Vì thế họ cần Trướng Lại đi cùng, đóng dấu ngay tại thôn, một lượt, để không ai kịp phản. Hồ Nhị không đến thôn lần này để thu bạc. Hắn đến thu chữ ký. Lần đến sau mới là lần có dấu.”

“Chú Bốn,” hắn quay sang. “Hồ Nhị có nói bao giờ quay lại?”

Chú Bốn nghĩ. Anh ta đếm trên đầu ngón tay, môi mấp máy. “Hắn bảo với lão Tứ: mười ngày, tính từ hôm hắn đến. Mười ngày nữa hắn mang Trướng Lại từ huyện thành tới, đóng dấu cho cả thôn một lượt, trong một buổi sáng.”

Hồ Nhị đến thôn ngày hai mươi lăm. Hắn cộng nhẩm.

「Ngày ba mươi lăm,」 Chủ Bạ nói. 「Hôm nay là ngày hai mươi chín. Còn sáu ngày.」

“Đường đi hai ngày hai đêm bằng xe bò,” Chung Đại Hà nói từ bậc cửa, không quay lại. “Nếu mày chịu được lắc.”

Hắn không đáp. Hắn đang nhìn điều ba. Chín mươi ngày cuối cùng của thọ nguyên. Thế chấp. Một tài sản cụ thể.

Một cái gì đó chạy qua đầu hắn. Nhanh. Rồi ở lại.

“Điều một trăm chín mươi tám,” hắn nói.

Cả bàn im bặt.

* * *

“Khế đăng ký trước được ưu tiên thanh toán từ tài sản của con nợ,” hắn đọc to, từ trí nhớ, từng chữ. “Khế đăng ký sau chỉ được thanh toán từ phần còn dư.”

“Phần còn dư của cái gì?” Tri Hạ nói, nhưng đôi mắt nàng đã sáng lên, nhanh, như người đã nhìn thấy đáp án trước khi câu hỏi kết thúc.

“Của tài sản bị thế chấp.” Hắn nhìn tờ phiếu, nhìn điều ba, nhìn hai chữ in nhỏ. Chín mươi ngày cuối cùng. “Thông Bảo thế chấp một thứ rất cụ thể: chín mươi ngày cuối của thọ nguyên. Không phải ‘một phần thọ nguyên’. Không phải ‘chín mươi ngày bất kỳ’. Chín mươi ngày cuối.”

“Một lát cắt,” ông Liễu nói.

“Một lát cắt. Chín mươi ngày cuối của mỗi người ở Hòe Hạ Thôn.” Hắn ngẩng lên. “Nếu có một khế khác, đăng ký trước, thế chấp đúng lát cắt ấy cho một việc khác…”

“Thì khế của Thông Bảo đến sau,” Tri Hạ nói, “sẽ không còn gì để thanh toán từ lát cắt ấy.” Nàng đứng bật dậy, ghế đổ ra sau. “Phần còn dư của một cái đã bị thế chấp trọn là không.”

Chú Bốn nhìn từ người này sang người khác, mặt ngơ ngác. “Cô nói gì thế?”

“Nói rằng,” Tri Hạ nói, và nàng cười, một nụ cười hiểm mà hắn chưa thấy bao giờ, nhọn như đầu bút lông, “Thông Bảo ứng ba lượng cho mỗi hộ, mà thứ họ nhận làm bảo đảm đã có người khác cầm trước. Tiền thì đã giao. Bảo đảm thì thành giấy lộn.”

“Lão Hồ Nhị sẽ hiểu chứ?” bà Quế hỏi.

“Hắn có hiểu hay không,” hắn nói, “Trướng Lại của hắn sẽ hiểu. Đóng dấu cho một khế mà thế chấp đã bị người khác cầm trước… Trướng Lại sẽ từ chối. Hắn không dám đóng dấu trái luật trước mặt cả thôn.”

“Hắn dám đóng ở Lục Khê, mà không dám đóng ở thôn,” Tri Hạ nói. “Ở Lục Khê có Tào. Ở thôn, không ai.”

Hắn nhìn ông Liễu. Ông cũng nhìn hắn, và lần đầu tiên, hắn thấy trong đôi mắt đục ấy một thứ ánh sáng của người nhìn học trò làm đúng bài.

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, và giọng nó, hắn nghe rõ, không còn kiềm được vẻ phấn khởi. 「Tại hạ xin ghi nhận: đây là lần đầu tiên chủ sổ sử dụng điều một trăm chín mươi tám. Tại hạ xin đề nghị lưu thành tiền lệ.」

* * *

Lâm Bá Dung tiếp họ vào giờ Tuất, ở phòng làm việc riêng sau phòng xử, một gian nhỏ chỉ có một bàn, một đèn, một giá sách đóng cao đến trần.

Ông ta nghe hết. Ông ta không ngắt. Khi hắn nói xong, ông ta hỏi ba câu: Khế bao tiêu dược thảo gồm những điều khoản nào? Mỗi hộ ký hay thôn trưởng ký thay? Hạnh Lâm Đường chịu trách nhiệm gì khi vi phạm?

Hắn trả lời hai câu đầu bằng những gì bốn người đã soạn trong một canh. Câu thứ ba hắn trả lời lâu nhất.

“Hạnh Lâm Đường,” hắn nói, “nếu không mua thảo dược theo giá đã định, hoặc ngừng mua giữa chừng, phải trả mỗi hộ ba lượng bạc và hoàn lại chín mươi ngày cuối cùng đã thế chấp.”

“Nghĩa là Hạnh Lâm Đường cũng ràng buộc.” Lâm Bá Dung nhìn hắn. “Không chỉ ràng buộc dân.”

“Thưa vâng.”

“Tại sao?”

“Vì,” hắn nói, chọn từng chữ, “nếu khế chỉ trói một bên, nó là bẫy. Tôi đã đọc nhiều bẫy trong những ngày qua.”

Lâm Bá Dung im lặng. Ngón tay ông ta gõ nhẹ mặt bàn, một tiếng, hai tiếng. Rồi ông ta mở ngăn kéo, lấy ra một con dấu nhỏ bằng ngọc xanh, đặt xuống cạnh nghiên mực.

“Mỗi hộ phải ký trước mặt Trướng Lại,” ông ta nói. “Không ủy quyền, không ký thay. Trướng Lại ghi, Trướng Lại đóng dấu đăng ký tại chỗ. Ngày nào đóng dấu, ngày ấy là ngày đăng ký.” Ông ta nhìn thẳng hắn. “Ta không thể cử Trướng Lại đi nếu không ai yêu cầu. Cậu yêu cầu?”

“Yêu cầu.”

“Phí đi đường ba lượng một ngày, người yêu cầu trả.”

“Trả.”

“Ta cử Mã Phúc.” Ông ta gõ ngón tay lần nữa. “Ông ta chưa ra khỏi Lục Khê mười hai năm. Ông ta sẽ phàn nàn. Đừng để ý.”

Hắn cúi đầu, một cái cúi đầu thật. Ông ta gật nhẹ, đứng dậy, quay mặt ra cửa sổ nhỏ, nơi bóng tối đã ngập kín quảng trường.

“Tạ Niên.”

“Vâng.”

“Ta đã làm Trướng Chủ hai mươi hai năm,” ông ta nói, không quay đầu. “Đây là lần đầu tiên ta thấy một người dùng luật để cứu người ngoài khế của mình.” Ông ta dừng. “Đừng đắc ý. Người dùng luật để cứu người luôn chết sớm hơn người dùng luật để thu người.”

“Tôi biết.”

“Tốt.” Giọng ông ta khô. “Đi đi.”

* * *

Họ khởi hành ngay sáng hôm sau, ngày ba mươi, trước giờ Mão.

Mã Phúc đến sớm nhất, mặc áo xanh thẫm, đeo cân đồng và bàn tính ngọc trắng, mang theo một túi giấy khế mới, một hộp mực, ba cây bút. Ông ta nhìn con lừa Hai Mươi như nhìn một sinh vật chưa từng gặp, rồi nhìn sang hắn, mặt lờ đờ.

“Ta không biết cưỡi,” ông ta nói.

“Có xe bò ạ,” Chung Đại Hà đáp, từ trên chiếc xe thứ nhất của đoàn.

“Xe bò lắc.”

“Lắc,” Chung Đại Hà đồng ý. “Nhưng chú không phải cưỡi.”

Mã Phúc nhìn cỗ xe, nhìn con bò, nhìn trời. “Thế thì ta chịu.”

Chung Đại Hà phá lên cười, tiếng cười sang sảng làm con lừa Hai Mươi giật mình hí lên. Tri Hạ đứng ở cửa tiệm, hai tay nắm chặt nhau trước ngực, không nói gì. Bà Quế đứng cạnh, cái hộp đen ôm trong tay áo, mắt hướng theo hắn.

Hắn bước lại gần bà.

“Bà,” hắn nói. “Cháu đi mấy ngày.”

“Đi.”

“Bà…”

“Ăn rồi chưa?”

“Rồi.”

“Cầm cái này.” Bà đẩy vào tay hắn một gói bánh, vải bọc còn nóng. “Mày về, bà muốn thấy mày béo hơn.” Rồi bà đặt bàn tay lên má hắn, ráp, ấm, nhẹ như lần đầu tiên hắn nhớ. “Và đừng đốt.”

Hắn không đáp. Bà Quế nhìn thẳng vào mắt hắn, không chớp.

“Đừng đốt,” bà nhắc.

“Cháu sẽ cố.”

“Cố là thế nào?”

“Là…” Hắn không nói hết.

Bà Quế thở ra, rất nhẹ, buông tay. “Đi đi,” bà nói. “Đứa nào đốt một ngày thì nhớ ngày đó là của ai.”

Hắn leo lên lưng con lừa Hai Mươi. Tri Hạ bước ra khỏi cửa tiệm, vài bước, dừng lại giữa đường, và nói một câu mà hắn nghe mãi sau này:

“Tôi giữ tiệm. Cậu giữ thôn. Đừng để tôi phải đi tìm cậu.”

Hắn gật. Con lừa rời đi.