Thư khố của Trướng Phòng Lục Khê có mùi giấy ẩm và mùi người ta đã đợi quá lâu.
Nó nằm ở tầng hầm bên hông tòa nhà, xuống bảy bậc đá, qua một cánh cửa gỗ thấp phải cúi đầu mới vào được. Bên trong là một gian dài, trần vòm, hai hàng giá gỗ chạy dọc đến tận cuối, trên giá xếp những cuộn giấy và những quyển sách bọc vải có dán nhãn bằng thẻ tre. Ở giữa đặt vài cái bàn dài. Một cái bàn đang có người: ông già tóc trắng, mắt kính dày, ngồi gật gù trước một quyển sổ mở.
“Năm mươi văn một người một ngày,” người thư lại trẻ ở quầy đón khách nói mà không ngẩng lên. “Không được mang bút mực vào. Không được chép nguyên văn quá ba điều. Muốn chép nhiều hơn thì trả thêm.”
“Chép nguyên văn quá ba điều thì trả bao nhiêu?” Tri Hạ hỏi.
“Mười văn một điều.”
“Một điều chín mươi mốt thành ba điều nếu tôi tách ba khoản.”
Người thư lại ngẩng lên, nhìn nàng, rồi nhìn cái bàn tính ngọc nhỏ mà nàng không đeo ở thắt lưng nhưng cầm trên tay từ nãy. “Cô có học ở đây à?”
“Cha tôi từng.”
“Thế thì cô biết rồi,” gã nói, và nhận hai trăm văn, đưa hai thẻ tre. “Bàn số ba. Đọc xong thì trả sách đúng chỗ. Đừng làm rách.”
Họ ngồi xuống bàn số ba vào lúc tiếng chuông giờ Thìn vừa dứt.
* * *
Quy củ bản mới dày gấp rưỡi bản cũ. Không phải vì có thêm điều, mà vì có thêm lớp. Mỗi điều đã sửa kèm theo một tờ giấy mỏng ghim vào lề, ghi số thông tư, năm ban hành, tên người ký, và đôi khi một dòng giải thích bằng nét chữ nhỏ như muỗi.
Điều tám mươi tám còn nguyên văn. Hắn đọc ba lần, rồi nhìn sang Tri Hạ, thấy nàng gật.
“Điều chín mươi mốt,” nàng thì thầm.
Hắn lật. Tờ giấy mỏng ghim ở lề dày hơn mọi tờ khác. Chữ đen, ngay ngắn, nét bút của một người viết lâu năm quen việc, chữ nào cũng đúng một độ.
Thông tư Vĩnh Ninh 33, điều 4. Bổ sung khoản 2 vào điều 91:
Con nợ viện dẫn điều này phải chứng minh mục đích chiếm đoạt thế chấp của chủ nợ bằng một trong ba căn cứ: (a) văn bản do chủ nợ hoặc người đại diện ký; (b) lời khai của ít nhất hai người không có tên trong khế và không thuộc quan hệ thân thuộc của con nợ; (c) tiền lệ: ít nhất ba vụ trong vòng năm năm, ghi trong sổ đăng ký chấp thuận của chính chủ nợ, trong đó chủ nợ từ chối hoàn trả trước hạn rồi thu hồi hoặc mua lại tài sản thế chấp.
Ký: Trướng Sứ Ty, Phó Sứ Vu Văn Khải.
Tri Hạ cắn bút. Nàng không có bút, nên nàng cắn đầu ngón trỏ, và hắn thấy một vệt đỏ hằn lên đốt tay.
“Ba căn cứ,” nàng nói khẽ. “Văn bản thì không có, Tào đâu ngu. Hai người ngoài khế…”
“Tôi và cô đều có tên trong khế. Chung Đại Hà không có mặt hôm ấy. Tín cũng không.”
“Còn tiền lệ.”
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, và giọng nó, hắn nhận ra, khác. Nó nhanh hơn một chút, như người kế toán ngửi thấy mùi sổ sách. 「Căn cứ thứ ba. Sổ đăng ký chấp thuận của chính chủ nợ. Đây không phải tài liệu mật. Tại hạ nhớ thư lại ở cổng nói: sổ đăng ký Thọ Khế mở cho người dân tra cứu, thu phí.」
“Ngươi nhớ?”
「Tại hạ nghe. Tại hạ không quên điều tại hạ nghe.」
Hắn quay sang Tri Hạ. Nàng đã ngẩng lên, cái nhìn của nàng chiếu thẳng vào hắn như một cái cân.
“Ba vụ trong năm năm,” nàng nói. “Thông Bảo Thọ Hành hoạt động hơn hai mươi năm. Số khế nó ký mỗi năm…”
“Hàng trăm.”
“Hàng trăm.” Nàng đóng quyển sách lại bằng hai tay, nhẹ như đóng nắp quan tài của một nỗi sợ. “Ba vụ. Chỉ cần ba.”
* * *
Họ nộp tiền đề tồn vào lúc gần trưa.
Quầy đề tồn nằm ở góc xa nhất của đại sảnh, sau một cột đá lớn che hết ánh sáng, đến mức Tri Hạ phải đi qua hai lần mới tìm thấy. Quầy trống, bụi phủ mặt gỗ thành một lớp mỏng. Người Trướng Lại ngồi sau quầy là một ông già mập, mắt lờ đờ, đang gọt móng tay bằng một con dao nhỏ.
“Nộp gì?” ông ta hỏi.
“Đề tồn,” Tri Hạ nói. “Điều tám mươi tám.”
Con dao dừng lại.
“Bao lâu rồi chưa ai nộp đề tồn?” hắn hỏi.
Trướng Lại nhìn hắn, rồi nhìn Tri Hạ, rồi nhìn lên trần như người cần tính nhẩm. “Sáu năm,” ông ta đáp, và hắn thấy một điều gì đó chuyển động trong khuôn mặt lờ đờ ấy, một thứ không phải thù địch, mà là sự ngạc nhiên mệt mỏi của người đã đợi quá lâu để có việc làm. “Sáu năm, bảy tháng. Lần trước là một bà bán rau nộp ba lượng cho một ông chủ tiệm gạo. Ông ta thắng.”
“Ông ấy thắng?”
“Bà ấy ký khế cho vay mà không đọc.” Ông ta lắc đầu. “Cô nộp bao nhiêu?”
“Bốn mươi lượng.”
Ông ta lấy ra một cái cân lớn bằng đồng, đặt xuống. Tri Hạ mở túi vải, đặt từng thỏi một lên đĩa cân. Tám thỏi năm lượng, vuông vức, mỗi thỏi in dấu của xưởng đúc Lục Khê. Ông ta cân hai lần, ghi vào sổ, đóng một con dấu đỏ lên tờ biên nhận, rồi đẩy tờ giấy qua mặt quầy.
“Biên nhận tạm,” ông ta nói. “Hiệu lực do Trướng Chủ xét.”
“Khi nào Trướng Chủ xét?”
“Khi nào Trướng Chủ rảnh.” Ông ta liếc ra sau lưng hai người. “Hoặc khi nào có người cần xét.”
Hắn quay lại.
Tào Quản Sự đang đứng ở giữa đại sảnh, áo gấm tím, quạt lông, ba nhẫn ngọc sáng loáng. Ông ta không đi một mình. Hai bên là hai người đàn ông áo xanh đeo bàn tính ngọc trắng, Trướng Lại, mặt họ trắng bệch vô cảm, và sau lưng là một thanh niên gầy ôm một cặp hồ sơ dày.
“Chào buổi trưa,” Tào Quản Sự nói, nụ cười đầy đặn. “Cô Liễu. Tạ công tử. Ta nghe tin hai vị ghé Trướng Phòng, nên mạo muội xuống đón.”
“Ông nghe từ ai?” Tri Hạ hỏi.
“Từ tai.” Ông ta khép quạt. “Lục Khê nhỏ lắm, cô Liễu. Cái gì đi vào cổng này đều có người mách trước khi đến cửa.”
* * *
Phòng xử hôm nay đông hơn.
Lâm Bá Dung ngồi sau chiếc bàn gỗ sồi dài, áo xanh thẫm viền chỉ bạc, bàn tính ngọc ở thắt lưng không động đậy. Trước mặt ông ta là tờ biên nhận đề tồn, cạnh đó là cuộn khế số Ất Sửu ba trăm mười tám mà Tào Quản Sự đã đặt xuống. Hai bên bàn, hai Trướng Lại đứng nghiêm. Phía sau Tào là người thanh niên gầy, tay ôm hồ sơ như ôm một đứa bé.
Bên này bàn là hắn và Tri Hạ. Chỉ hai người.
“Việc hôm nay,” Lâm Bá Dung nói, “là đề tồn theo điều tám mươi tám, nộp bốn mươi lượng cho khế Ất Sửu ba trăm mười tám. Bên cho vay có mặt. Bên cho vay có ý kiến?”
“Thưa Trướng Chủ,” Tào Quản Sự cúi người, giọng mềm như dầu. “Nhà tôi không từ chối nhận tiền. Nhà tôi chỉ nhắc rằng khế này có điều chín: hoàn trả chỉ vào ngày đáo hạn, hoặc vào ngày khác nếu có văn bản chấp thuận. Điều khoản đã công chứng tại chính phòng này. Theo khoản hai điều tám mươi tám, đề tồn không áp dụng.” Ông ta mỉm cười. “Cô Liễu có lòng, nhưng xin thứ lỗi, bốn mươi lượng ấy nộp nhầm chỗ.”
“Nộp đúng chỗ,” Tri Hạ nói, giọng nàng nhỏ nhưng không run. “Điều chín mươi mốt…”
“Cô Liễu viện dẫn điều chín mươi mốt?”
“Vâng.”
“Thế thì cô Liễu có đọc thông tư Vĩnh Ninh ba mươi ba?”
“Có,” hắn nói.
Tào Quản Sự nhìn hắn. Ánh mắt ông ta, hắn thấy, thay đổi nhẹ, như người đi trên cầu ván nghe tiếng gỗ lạ dưới chân.
“Vậy công tử hẳn biết,” ông ta nói chậm, “muốn viện điều chín mươi mốt phải có căn cứ. Văn bản? Nhà tôi chưa viết một chữ nào. Nhân chứng? Công tử và cô Liễu đều có tên trong hồ sơ hoặc trong quan hệ. Còn tiền lệ…” Ông ta cười thật. “Tiền lệ trong sổ của nhà tôi. Công tử muốn tra sổ nhà tôi?”
Phòng im.
“Nhà tôi không giấu sổ,” Tào Quản Sự nói thêm, dịu dàng. “Sổ đăng ký chấp thuận mở cho dân tra. Một lượng bạc một ngày. Công tử cứ tra. Hai mươi năm, mấy nghìn khế.” Ông ta nghiêng đầu. “Tra bao lâu thì công tử xong?”
“Ba ngày,” hắn nói.
Cái quạt lông ngừng lại.
“Ba ngày?”
“Phiên xét đặt vào ngày nào, thưa Trướng Chủ?”
Lâm Bá Dung chưa đáp ngay. Ông ta nhìn hắn, rồi nhìn Tri Hạ, rồi nhìn tờ biên nhận. Ngón trỏ của ông ta gõ nhẹ lên mặt bàn, một tiếng, hai tiếng, như đếm.
“Ta nhận tiền,” ông ta nói. “Ta chưa nhận hiệu lực. Hai điều ấy khác nhau.”
“Thưa Trướng Chủ…” Tào mở miệng.
“Ta chưa nói xong.” Giọng Lâm Bá Dung không cao, nhưng cả phòng nghe như có một cái kim rơi. “Điều tám mươi tám nói: kể từ ngày Trướng Phòng nhận tiền, mọi điều khoản thu hồi đình chỉ, chờ Trướng Chủ xét tính hợp lệ của việc nộp. Ta đã nhận tiền. Điều khoản thu hồi tạm đình chỉ.” Ông ta liếc Tào. “Tuy nhiên, nếu việc nộp bị xét là không hợp lệ, nó vô hiệu từ ngày nộp. Mọi điều khoản được khôi phục như chưa bị đình chỉ. Ông Tào hiểu không?”
“Hiểu rõ, thưa Trướng Chủ.”
“Nghĩa là nếu trong lúc chờ phiên xét, thế chấp của khế này xuống dưới ngưỡng điều mười hai, và phiên xét bác đề tồn…”
“Điều mười hai coi như đã hiệu lực từ lúc đó,” Tào Quản Sự nói, và nụ cười ông ta nở trọn. “Đúng như tôi nghĩ.”
Hắn thấy Tri Hạ nắm chặt hai tay trong tay áo.
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói rất nhanh, 「Tại hạ tính: Liễu Đức Văn hiện 401 ngày. Ngưỡng 400 chạm vào ngày hai mươi bảy, qua ngưỡng ngày hai mươi tám. Phiên xét nếu đặt ngày hai mươi chín, Tào sẽ có hai ngày khoảng trống để chứng minh thế chấp xuống dưới 400.」
“Phiên xét,” hắn nói to, “đặt vào ngày nào, thưa Trướng Chủ?”
“Ngày hai mươi chín, giờ Tỵ,” Lâm Bá Dung đáp. “Chứng cứ đệ trình trước giờ Tỵ. Sau giờ Tỵ ta không nhận thêm tờ giấy nào.”
Ông ta đứng dậy, kết thúc phiên bằng một cái cúi đầu đúng độ. Tào Quản Sự cúi đầu đáp lễ. Khi hai bên bước ra, ông ta chậm lại một nhịp, đủ để đi ngang qua hắn trong hành lang đá.
“Công tử,” ông ta nói, rất khẽ, và giọng ấm đến mức nghe như lời chúc. “Đến ngày hai mươi tám, lão Liễu còn là của tôi.”
Hắn không đáp.
“Tôi sẽ đến tận tiệm, cùng Trướng Lại, cùng cái cân của Trướng Phòng,” ông ta nói. “Công bằng tuyệt đối. Không ai nói tôi lạm quyền.” Ông ta mỉm cười, quạt lông gõ nhẹ vào vai hắn một cái, nhẹ như hạt bụi. “Rồi chúng ta xem phiên xét còn gì để xét.”
Ông ta bỏ đi. Mùi trầm hương trên áo gấm tím lưu lại một lúc.
* * *
Họ ra khỏi tòa nhà, đứng trên bậc thềm đá, và Tri Hạ không nói gì cho đến khi qua khỏi hàng cột.
“Hai ngày khoảng trống,” nàng nói. “Chủ Bạ tính đúng.”
“Ừ.”
“Cậu nói ba ngày với Tào.” Nàng quay lại, nhìn hắn bằng cái nhìn của người cân hàng. “Cậu nói ba ngày để tra sổ hai mươi năm.”
“Ừ.”
“Cậu có biết hai mươi năm là bao nhiêu khế không?”
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, rất đều. 「Tại hạ có thể trả lời. Sổ đăng ký chấp thuận của Thông Bảo Thọ Hành hai mươi năm, ước tính ba nghìn đến bốn nghìn dòng.」
“Bốn nghìn dòng,” Tri Hạ nói. “Ba ngày. Hai người. Một lượng một ngày.”
“Hai người, mỗi người một lượng một ngày,” hắn sửa. “Sáu lượng. Ta trả được.”
“Tiền thì trả được. Còn mắt?”
「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, 「tại hạ nghe, tại hạ nhớ, tại hạ không quên. Cô nương Liễu đọc nhanh hơn chủ sổ. Hai người đọc, một sổ ghi, một bảng đối chiếu. Tại hạ ước tính khả thi.」
Tri Hạ nhìn xuống bàn tính ngọc nhỏ trong tay. Rồi nàng ngẩng lên, và khóe môi nàng cong thành một đường rất mỏng, vừa đủ để vệt mực chưa phai ở cằm dịch chuyển.
“Bốn nghìn dòng,” nàng nói. “Mỗi dòng phải đọc, phải ghi, phải so với ba dòng khác. Cậu biết đó là gì không?”
“Là gì?”
“Là việc mà cha tôi dặn tôi đừng bao giờ làm.” Nàng đã quay đi, bước xuống bậc thềm, tay thọc trong tay áo, giọng nói vọng lại qua vai. “Tôi sẽ làm nó.”
Hắn nhìn theo, rồi ngẩng nhìn trời trưa, xanh và cao, chiếu thẳng xuống quảng trường đá. Hắn chợt nhận ra mình đã không thở từ lúc ra khỏi phòng xử. Hắn hít vào, thật sâu.
Ngày hai mươi sáu.
Ngày hai mươi chín, giờ Tỵ.
Hai ngày để sống sót qua giữa.
Chủ Bạ không nói gì. Nhưng ở lòng bàn tay trái hắn, dưới lớp băng mỏng, ấn đỏ khẽ nóng lên một nhịp, nhẹ như nhịp thở của một người đang đếm cùng hắn.