Nợ Trời Ba Nghìn Năm

Chương 31: Cuốn sách của thầy Liễu

Cái rương nằm dưới giường ông Liễu hai mươi năm, và đến tận đêm ấy Tri Hạ mới biết nó có khóa.

“Cha giấu nó ở đâu cũng được,” nàng nói, giọng nhỏ nhưng không giấu nổi cơn giận, “nhưng sao cha không giấu cái khóa cho kỹ hơn? Con quét nhà cho cha mười mấy năm mà tưởng đó là cái rương đựng chăn.”

“Chăn thì đựng chăn,” ông Liễu đáp, tựa lưng vào gối, mắt nhắm. “Còn dưới chăn là sách. Bảo vệ một thứ bằng cách làm cho nó nhàm chán là cách rẻ nhất.”

Đã quá giờ Hợi. Ngọn đèn dầu trong gian trong cùng cháy lép bép, hắt bóng ba người lên vách như ba con cờ nằm sai ô. Bà Quế ngồi dưới chân giường, hai tay ôm đầu gối, mắt nhắm hờ, và Tạ Niên đoán bà đang giả vờ ngủ để khỏi phải nghe cuộc cãi nhau của người khác. Chung Đại Hà đã về khách điếm từ lâu, mang theo nửa đĩa bánh đậu xanh và lời hứa sáng sớm sẽ quay lại.

Trên chiếu giữa phòng là thứ mà Tri Hạ tìm được sau một canh lục tủ: một cuốn Quy củ tóm lược dày bằng ba ngón tay, giấy ố vàng, của loại sách dạy việc cho Trướng Lại tập sự. Cuốn mà hắn đã đọc đến thuộc mấy hôm trước. Hai trăm điều chọn lọc, đủ để biết đường vào tòa nhà đá xám và chưa đủ để biết đường ra.

“Điều chín,” Tri Hạ đọc lại, ngón tay gõ lên trang giấy. “Điều mười hai. Cả hai đều ở trong khế của Thông Bảo, và cả hai đều hợp pháp. Tôi tìm một điều cho phép trả sớm, một điều cho phép nộp tiền khi chủ nợ không nhận. Cuốn này không có.”

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói. 「Tại hạ đã đối chiếu hai trăm điều trong cuốn này với nhu cầu của chủ sổ. Kết quả: không có điều nào giải quyết được điều chín. Tại hạ xin nói rõ, tại hạ chỉ đọc được những gì chủ sổ đặt trước mắt.」

“Nghĩa là có thể nó nằm ở chỗ khác.”

「Tại hạ không có thông tin. Tại hạ chỉ có quy trình: khi thiếu dữ liệu, đi tìm dữ liệu.」

Hắn nhìn sang ông Liễu. Ông vẫn nhắm mắt, nhưng môi ông mấp máy như người đang đếm.

“Thầy,” hắn nói.

“Ừ.”

“Thầy biết điều nào chứ?”

Ông Liễu mở mắt. Con mắt ông đục, nhưng khi nhìn thẳng thì không còn đục nữa, như mặt giếng cạn lúc có ánh đèn rọi vào.

“Điều tám mươi tám,” ông nói. “Đề tồn.”

Căn phòng im đến mức hắn nghe được tiếng dầu chảy trong bấc.

* * *

Ông kể, bằng giọng chậm của người đã nói điều này nhiều lần trong đầu và chưa một lần thành tiếng.

Hồi còn trẻ, trước khi mở Hạnh Lâm Đường, ông Liễu từng ngồi mười hai năm ở bậc thềm Trướng Phòng Lục Khê. Không phải làm Trướng Lại. Ông ngồi ở chiếc ghế dài sát tường, cái ghế của những người được điều bảy mươi hai cho phép: người đọc giùm. Dân nghèo, người mù chữ, bà góa ký khế cho con, ai cần một người đọc to từng điều khoản để biết mình sắp ký gì thì trả ông năm văn một khế. Mười hai năm, mấy nghìn tờ.

“Năm văn,” ông nói, cười khô. “Tiền không đủ mua một tô mì. Nhưng người ta còn nhớ mặt ta ba chục năm sau.”

Điều đó, hắn hiểu. Hắn đã thấy trong mắt người xếp hàng trước tiệm.

“Ta học Quy củ ở đó,” ông tiếp. “Không phải cuốn tóm lược. Bản đầy đủ, một nghìn hai trăm điều, ba quyển, có chú giải của mấy đời Trướng Chủ. Ta chép lại bằng tay, chỗ nào không hiểu thì hỏi, chỗ nào hiểu rồi thì ghi lề. Mười hai năm.” Ông ngừng ho, một cơn ho nhẹ, ngắn, không còn khò khè như trước vì vẫn còn dư vị của lá trắng. “Rồi một mùa thu, ta đọc khế cho một ông già bán củi. Khế của Thông Bảo, hồi Thông Bảo còn là một sạp thọ nhỏ ở đầu chợ. Ta chỉ ra một điều khoản bẫy, ngay trước mặt thư lại của họ.”

“Rồi sao?” Tri Hạ hỏi.

“Ông già bán củi không ký.” Ông Liễu nhìn lên trần. “Mùa đông năm ấy, mọi nhà bán thuốc trong thành đột nhiên không bán thuốc cho tiệm của ta nữa. Không ai nói vì sao. Chỉ là hết hàng. Hết hàng ở tất cả các nhà một lúc.”

Tri Hạ mở miệng. Rồi ngậm lại.

“Ta sống,” ông nói. “Ta đi hái thuốc tự lấy, lên Thanh Lĩnh, mất ba mùa. Và ta rút ra một điều.” Ông nhìn con gái. “Quyền thế không ghét người biết luật. Nó ghét người biết luật mà không biết im.”

“Cha dạy con đọc chữ, dạy con gảy bàn tính,” Tri Hạ nói, giọng khàn đi. “Nhưng cha chưa bao giờ dạy con đọc luật.”

“Vì ta muốn con bán thuốc, không muốn con thành kẻ bị bán.” Ông thở ra. “Ta đã sai. Ta thấy rồi. Hôm nay ta mới thấy.”

Không ai đáp. Dưới chân giường, bà Quế khẽ cựa mình, mở một con mắt, nhìn ông Liễu rồi lại nhắm.

“Chìa khóa,” ông nói. “Trong bùa hộ mệnh ta đeo ở cổ. Con gỡ ra.”

* * *

Cái rương mở ra với tiếng kêu của gỗ già.

Ba quyển sách bọc vải dầu nằm xếp ngay ngắn dưới lớp chăn mốc. Bìa lụa xanh sờn, gáy khâu chỉ gai, mỗi quyển dày bằng cả bàn tay. Tri Hạ nhấc quyển thứ nhất lên bằng hai tay như bế một đứa trẻ sơ sinh, đặt xuống chiếu, và hắn thấy mu bàn tay nàng run.

Trang đầu ghi bằng nét chữ già, ngay ngắn: *Quy củ Thu Thọ — toàn bản — chép lại năm Vĩnh Ninh hai mươi tám.* Mép giấy chi chít chữ nhỏ bằng mực nâu, thêm vào, gạch đi, thêm vào lại.

“Điều tám mươi tám ở quyển hai,” ông Liễu nói. “Lật lên.”

Nàng lật. Giấy sột soạt.

Hắn đứng sau lưng nàng, cúi xuống, và đọc cùng. Điều tám mươi tám nằm giữa trang, dưới một đoạn mực đậm.

Điều 88 (Đề tồn). Khi một khoản nợ đã đến hạn, hoặc đã đủ điều kiện hoàn trả, mà chủ nợ không nhận hoặc từ chối nhận, con nợ có quyền nộp đủ số tại Trướng Phòng nơi đăng ký khế. Kể từ ngày Trướng Phòng nhận tiền, lãi ngừng tính, mọi điều khoản thu hồi, cưỡng chế, phạt trễ hạn đình chỉ, chờ Trướng Chủ xét tính hợp lệ của việc nộp. Nếu hợp lệ, khoản nợ coi như đã thanh toán kể từ ngày nộp.

Tri Hạ nín thở.

“Đủ rồi,” nàng nói. “Nó đây. Nó là đúng thứ chúng ta cần. Chủ nợ không nhận, con nợ nộp tại Trướng Phòng, lãi ngừng, mọi điều thu hồi đình chỉ. Điều mười hai…”

“Đọc tiếp,” ông Liễu nói.

Giọng ông không cao. Nhưng nàng ngừng.

Hắn đã thấy. Dưới đoạn mực đậm, ngay sát lề, một dòng chữ nhỏ hơn, thụt vào hai ô, mực nhạt hơn, như người viết cố tình để nó nằm trong bóng của đoạn trên.

Khoản 2. Điều này không áp dụng nếu khế có điều khoản cấm hoàn trả trước hạn, hoặc quy định hoàn trả chỉ khi có văn bản chấp thuận của chủ nợ, và điều khoản ấy đã được Trướng Phòng công chứng.

Cả phòng im.

Tri Hạ không nói gì. Nàng đọc lại khoản hai, một lần, hai lần. Hắn thấy cổ nàng chuyển động khi nuốt khan.

“Điều chín,” hắn nói thay nàng.

“Điều chín,” ông Liễu nhắc, nhẹ như lời tiễn. “Tào quản sự đâu phải đọc sai. Cái lão béo ấy đọc đúng cả hai chiều, từ điều khoản trong khế đến khoản trong Quy củ. Khế được công chứng. Điều chín nằm trong khoản hai.” Ông nhắm mắt. “Ta xin lỗi. Ta nên nói sớm hơn.”

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, rất khẽ. 「Tại hạ xin ghi nhận: Lưu Thông Bảo không phải kẻ đoán mò. Gã soạn khế bằng cách đọc cả điều luật lẫn ngoại lệ. Gã đã đóng cái cửa này trước khi chúng ta biết nó tồn tại.」

Hắn đặt tay lên mép trang, và ngón tay hắn lạnh.

Ba nghìn hai trăm mười ba niên. Chưa kịp bàn đến ba nghìn, hắn đã thấy mình có thể thua ở bốn mươi lượng.

* * *

“Chưa hết,” bà Quế nói.

Cả ba quay lại. Bà đã ngồi thẳng dậy lúc nào không ai thấy, hai bàn tay đặt trên đầu gối, mắt mở, tỉnh và sắc như hồi ở hầm khoai.

“Bà không biết chữ,” bà nói, “nhưng bà biết nhìn người. Lão Liễu, ông còn một câu chưa nói.”

Ông Liễu mở mắt, nhìn bà một lúc, rồi cười, tiếng cười rất mệt.

“Bà đỡ,” ông nói, “bà nhìn rõ hơn con gái tôi.”

“Con gái ông ngốc vì nó giận,” bà đáp, thẳng. “Nói đi.”

Ông Liễu chỉ vào cuốn sách trước mặt Tri Hạ. “Điều tám mươi chín là lãi ngừng. Điều chín mươi bàn về thủ tục nộp tiền. Điều chín mươi mốt.”

Nàng lật. Điều chín mươi mốt nằm ở trang kế, ngắn, chỉ ba dòng.

Điều 91. Điều khoản chấp thuận không được dùng làm công cụ chiếm đoạt tài sản thế chấp. Chủ nợ từ chối chấp thuận hoàn trả với mục đích thu hồi thế chấp thì khoản 2 điều 88 không áp dụng.

“Đây rồi!” Tri Hạ bật ra, và lần này hắn thấy mắt nàng sáng lên, như người vừa tìm thấy hạt bàn tính cuối cùng đặt đúng chỗ. “Điều khoản chấp thuận không được dùng để chiếm đoạt thế chấp. Thông Bảo từ chối nhận bốn mươi lượng để thu hồi Hạnh Lâm Đường. Chúng ta chứng minh được. Tào đã nói trước mặt chúng ta, ông ta đã…”

“Đọc lề,” ông Liễu nói.

Nàng khựng lại.

Ở lề trang, sát điều chín mươi mốt, có một dòng chữ viết bằng mực đỏ. Nét chữ cũng của ông Liễu, nhưng nhỏ, dồn nén, như người ghi vội. Hắn cúi sát để đọc.

Sửa bởi Thông tư Vĩnh Ninh 33 — chưa đọc.

Tri Hạ ngồi bất động.

“Quy củ không chết,” ông Liễu nói, nhìn trần nhà. “Nhưng nó đổi. Mỗi vài năm, Trướng Sứ Ty ở Đại Tề Kinh gửi xuống một bản thông tư, sửa điều này, thêm điều kia. Thư lại chép vào bản của họ. Dân ngoài kia không ai biết, trừ khi có người đọc giùm.” Ông ngừng. “Ta thôi đọc giùm từ năm Vĩnh Ninh hai mươi tám. Cuốn này dừng ở năm đó. Thông tư năm ba mươi ba, ta chưa từng thấy.”

“Tám năm,” hắn nói.

“Tám năm.” Ông Liễu cười nhạt. “Trong tám năm, người ta có thể sửa một điều luật thành đúng thứ mà họ cần, và dân nghèo không bao giờ biết.”

「Chủ sổ,」 Chủ Bạ nói, thấp. 「Tại hạ không thể phân biệt giữa trường hợp ‘thông tư sửa cho tốt hơn’ và trường hợp ‘thông tư sửa để vô hiệu điều chín mươi mốt’. Tại hạ cần văn bản. Tại hạ khuyến nghị: không lập luận dựa trên điều chưa đọc.」

“Thư khố,” hắn nói.

Tri Hạ ngẩng lên. “Gì?”

“Trướng Phòng có một phòng đọc cho dân. Thư lại ở cổng đã nói hôm ta đến nhận giấy triệu tập.” Hắn nhớ cái phòng lạnh, trần thấp, những dãy giá gỗ. “Năm mươi văn một ngày. Bản mới nhất, kèm mọi thông tư.”

“Bao giờ mở cửa?”

“Giờ Thìn.”

Tri Hạ nhìn ra cửa sổ giấy. Ngoài kia trời tối đặc, không trăng. Nàng thở ra một hơi dài, rồi dùng cả hai tay vỗ lên má mình, một tiếng bốp đủ để cả phòng giật mình.

“Cô làm gì thế?” hắn hỏi.

“Tỉnh táo.” Nàng quay sang, mắt đỏ nhưng thẳng. “Cậu cần ngủ bao nhiêu?”

“Một canh.”

“Một canh.” Nàng lẩm bẩm, như đang ghi vào sổ. “Rồi giờ Mão, cậu và tôi mang đủ tiền vào thư khố. Tôi đọc phần thông tư, cậu đọc điều tám mươi tám đến chín mươi lăm bản mới. Bốn mắt, hai bản, đối chiếu.”

“Còn gì nữa?”

“Còn…” Nàng ngừng, và hắn thấy nàng nhìn cha mình, rồi nhìn ba quyển sách bọc vải. “Còn một việc.”

“Việc gì?”

“Cha.” Nàng quỳ xuống bên giường, nắm bàn tay gầy của ông. “Cha có thể dạy con những gì cha biết. Nếu có thể, từ ngày mai.”

Ông Liễu nhìn con gái rất lâu. Rồi bàn tay kia của ông, bàn tay vẫn còn run, đặt lên mái tóc nàng, vụng về như người lần đầu vuốt một con mèo hoang.

“Ngày mai,” ông nói. “Đêm nay ngủ trước đi.”

* * *

Bà Quế nấu cháo.

Không ai nhờ. Bà đứng dậy lúc canh ba, đi thẳng vào bếp, và khi hắn bước theo thì bà đã đặt nồi lên bếp, tay thoăn thoắt đãi gạo như thể đây là nhà bà từ bốn mươi năm. Ngọn lửa đỏ hắt lên mặt bà, in từng nếp nhăn.

“Bà ngủ đi,” hắn nói.

“Ăn đi rồi nói.”

“Nhưng…”

“Tao già, tao ngủ ít. Mày trẻ, mày ngủ nhiều mà không chịu ngủ.” Bà khuấy nồi cháo trắng, hơi nóng bốc lên che gần hết khuôn mặt. “Mày đọc luật cả buổi tối. Mày có hiểu hết không?”

“Hiểu được một nửa.”

“Một nửa là đủ để sợ.” Bà múc cháo vào bát sứ, đặt một nhúm muối lên, đẩy về phía hắn. “Cái lão Thông Bảo ấy, hồi đó nó khóc. Tao còn nhớ nó khóc.” Bà ngừng. “Nhưng người ta khóc một lần rồi cả đời không khóc nữa. Mày nhớ cái đó.”

Hắn cầm bát cháo. Nó nóng, gạo nhừ, hạt gạo vỡ trong miệng.

“Bà,” hắn nói, “nếu cháu thua?”

“Thua cái gì?”

“Thua ở bốn mươi lượng. Thua cái tiệm này. Thua cả ông Liễu.” Hắn không dám nhìn bà. “Rồi sau đó thua ở ba nghìn hai trăm mười ba niên. Cháu không muốn…”

Bà Quế đặt muôi xuống.

Bà quay lại. Trong ánh lửa bếp, mắt bà đỏ, nhưng giọng không run.

“Tao đã già sáu mươi tám,” bà nói. “Có hai việc tao biết chắc. Một là người nào cũng thua một lần. Hai là, người ta thua lúc nào cũng được, chỉ cần đừng thua khi chưa đọc hết.” Bà đưa tay, gõ nhẹ lên trán hắn bằng một đầu ngón tay. “Mày còn ba quyển chưa đọc. Ăn cháo đi.”

Hắn ăn.

Ngoài cửa sổ nhỏ của bếp, trời vẫn tối, nhưng ở phía đông, rất mờ, rất xa, đã có một vệt xám như đáy chén sắp được rửa. Chủ Bạ im lặng đã lâu. Hắn tưởng nó ngủ, dù biết một tiểu linh không ngủ. Rồi nó nói, nhỏ, gần như chỉ để mình nghe.

「Chủ sổ. Tại hạ có một nhận xét ngoài chức trách.」

“Nói đi.”

「Người đàn bà nấu cháo kia vừa nói điều mà tại hạ không có trong bất kỳ quy trình nào. Tại hạ ghi lại: đừng thua khi chưa đọc hết. Tại hạ thấy đó là một nguyên tắc kế toán rất tốt.」

Hắn suýt sặc cháo.

Bà Quế quay lại, nghi hoặc. “Nó nói gì?”

“Nó khen bà.”

“Thì nó biết điều.” Bà gật gù, rồi cầm muôi lên, múc thêm một thìa cháo vào bát hắn mà hắn chưa kịp từ chối. “Ăn nữa đi. Trời sáng rồi.”