Tiếng xích xe đạp rỉ sét cọ vào líp nghe lạo xạo trên con dốc thoai thoải dẫn về khu tập thể ngành giáo dục. Đỗ Mai Chi đạp thốc từng vòng, hai bắp chân mỏi nhừ, lồng ngực phập phồng sau lớp áo khoác đồng phục cài kín cổ. Gió biển chiều muộn mang theo vị mằn mặn phả rát hai bên gò má, nhưng điều khiến da thịt cô lạnh buốt lại là con số điện tử trên mặt chiếc đồng hồ đeo tay kim loại nhỏ xíu: năm giờ mười lăm phút.
Muộn mười lăm phút so với giờ giới nghiêm bất thành văn mà mẹ đã thiết lập suốt mười một năm qua.
Chi chống chân trước cánh cổng sắt sơn màu xanh rêu tróc lở, tim đập thình thịch như gõ trống trong lồng ngực. Bên trong khoảng sân nhỏ rợp bóng cây hoàng lan, chiếc xe máy Honda Cub màu mận chín của mẹ đã dựng ngay ngắn ở góc thềm, chân chống phụ gạt chuẩn xác vào đúng vệt sơn đỏ đánh dấu trên nền gạch tàu. Đèn phòng khách bật sáng trưng, thứ ánh sáng trắng lạnh lẽo từ bóng tuýp neon hắt qua khung cửa kính mờ, đổ dài một vệt thê lương xuống bậc tam cấp.
Chi hít một hơi thật sâu, cố nén cơn run rẩy nơi đầu ngón tay trỏ vẫn còn quấn lớp băng gạc trắng mà Nam đã dán cho chiều hôm qua, rồi khẽ khàng dắt xe vào góc sân.
“Vào rửa tay rồi ăn cơm.”
Giọng bà Thanh Thư cất lên từ gian bếp, đều đều, phẳng lặng như mặt hồ mùa đông không một gợn sóng, nhưng lại mang theo sức nặng ngàn cân khiến bước chân Chi khựng lại giữa bậu cửa.
Bà Thư ngồi ở đầu bàn ăn, trên người vẫn còn nguyên bộ áo dài lụa màu tím than nghiêm trang của một giáo viên dạy Toán trường chuyên danh tiếng. Mái tóc vấn cao gọn gàng không một sợi vương, sống mũi thẳng và đôi mắt sắc lẹm sau cặp kính gọng kim loại ánh lên sự mệt mỏi pha lẫn lạnh lùng. Trên mâm cơm tròn bằng nhôm chỉ có ba món đơn sơ: một bát canh rau ngót nấu thịt băm đã nguội ngắt, đĩa cá bống kho tiêu keo lại quánh đặc và một bát cà pháo muối nén.
Không gian trong căn nhà im ắng đến rợn người, chỉ có tiếng kim giây của chiếc đồng hồ quả lắc trên tường buông từng nhịp tích tắc, tích tắc khô khốc.
Chi rụt rè kéo ghế ngồi xuống phía đối diện, hai bàn tay luống cuống đặt lên đùi: “Dạ... con chào mẹ. Chiều nay lớp con có tiết tự chọn tan muộn một chút...”
“Trường Hải Triều tan tiết năm lúc bốn giờ ba mươi lăm phút.” Bà Thư ngắt lời, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ bóng loáng, nhịp điệu tàn nhẫn như tiếng búa gõ trong phiên tòa. “Từ trường về đến nhà nếu đạp xe bình thường mất đúng mười lăm phút. Con về muộn hai mươi lăm phút. Đừng tập thói dối trá trước mặt mẹ.”
Chi cúi gằm mặt, cắn chặt môi dưới đến mức nếm được vị tanh ngọt nhàn nhạt. Cô không dám biện bạch, cũng không thể nói rằng mình vừa trải qua một buổi chiều kỳ lạ trên căn gác mái ngập bụi cùng một nam sinh cá biệt, nơi cô đã dán những mảnh giấy nhớ vàng rực lên khắp vách tường ẩm mốc để cùng cậu lập dàn ý bài văn phân tích thơ.
Bà Thư cầm đũa xới cơm vào bát cho Chi, động tác dứt khoát đến mức cơ học. Chiếc bát sứ đặt xuống trước mặt cô kêu một tiếng cạch chói tai.
“Hôm nay cô Nga dạy Lý bên trường con gọi điện cho mẹ.” Giọng bà Thư chùng xuống, nhưng từng âm tiết như mũi kim tẩm độc đâm thẳng vào màng nhĩ Chi. “Cô ấy bảo con gái mẹ – đứa từng đứng đầu bảng tuyển sinh đầu vào khối chuyên Văn – sáng nay lên bảng kiểm tra miệng không viết nổi một định luật thấu kính cơ bản. Cả lớp nhìn vào, bạn bè xì xào. Con có biết lúc nghe điện thoại, mẹ đang ngồi trong phòng hội đồng trường Chu Văn An không?”
Chi co rúm người lại, ngực nghẹn ứ. Lời giải thích về những vòng mài kính, về công thức thấu kính hội tụ mà Nam đã kiên nhẫn giảng giải cho cô vào chiều hôm qua nghẽn lại nơi cuống họng, vỡ vụn thành những mảnh đắng ngắt. Sáng nay khi bị gọi lên bảng bất ngờ, ánh mắt soi mói của Lan Khuê và những tiếng cười khúc khích dưới lớp đã khiến đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng.
“Lan Khuê nó vừa đạt giải Nhất cuộc thi hùng biện tiếng Anh cấp trường đấy.” Bà Thư tiếp tục, giọng nói ráo hoảnh, ánh mắt quét qua khuôn mặt trắng bệch của con gái đầy thất vọng. “Mẹ nó vừa khoe trên nhóm giáo viên chiều nay. Cùng một lứa tuổi, cùng học một trường, người ta thì rạng danh bố mẹ, còn con thì để người ta gọi điện mắng vốn về tận nhà. Mẹ hy sinh cả tuổi xuân, từ bỏ việc đi học thạc sĩ ở Hà Nội để ở lại cái đất miền Trung này chăm bẵm con từng li từng tí, đổi lại là một bài thi Lý hai điểm rưỡi và một bài thi Văn bị cô giáo phê là rỗng tuếch?”
Bà Thư buông đũa, tiếng va chạm kim loại trên mặt đĩa lạnh tanh.
“Ăn nhanh rồi lên phòng học. Đêm nay mẹ sẽ ngồi giám sát con làm hết mười lăm trang đề cương phương trình dao động điều hòa. Không làm xong thì đừng nghĩ đến chuyện ngủ. Tuần sau mẹ sẽ nộp đơn xin chuyển con sang lớp thường. Đừng bôi tro trát trấu vào mặt mẹ ở cái lớp chọn đó nữa.”
Bà Thư đứng dậy, tà áo dài lụa sột soạt lướt qua người Chi, để lại luồng không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.
Chi ngồi trơ trọi bên mâm cơm. Từng hạt cơm khô khốc trôi qua cổ họng như những viên sỏi sắc nhọn cào rách niêm mạc. Nước mắt không trào ra được, chúng ứ nghẹn lại nơi hốc mắt, nóng rẫy và buốt nhức. Ngón tay trỏ bị thương khẽ nhói lên. Chi nhìn chăm chú vào vệt băng keo cá nhân trên tay mình. Dưới lớp gạc đó là vết rách do phôi kính thiên văn cứa phải từ chiều hôm trước, là nơi hơi ấm từ những ngón tay thô ráp của Nam từng truyền qua, là nơi nhen nhóm một chút niềm tin le lói rằng cô không phải là một kẻ vô dụng.
Nhưng trong căn nhà này, niềm tin ấy lập tức bị dập tắt không thương tiếc. Bốn bức tường sơn vôi trắng toát, những kệ sách ngay ngắn xếp đầy bằng khen lồng khung kính mạ vàng, những tập giáo án dày cộp của mẹ... tất cả hợp thành một chiếc lồng kính khổng lồ hút cạn dưỡng khí, bóp nghẹt từng nhịp thở của tuổi mười bảy.
Chi không nuốt nổi miếng cơm thứ hai. Đặt bát xuống, cô lặng lẽ dọn dẹp mâm cơm, rửa sạch từng chiếc bát đĩa dưới vòi nước lạnh buốt rồi bước lên căn phòng gác hai của mình.
Trên bàn học, xấp đề cương photo lem nhem mực đen nằm trơ trọi dưới ánh đèn bàn chói lóa. Bên cạnh là cuốn sổ tay bìa cứng đóng dấu đỏ của các kỳ thi học sinh giỏi các năm – những chiến tích mà mẹ luôn bắt cô phải mang ra ngắm nhìn mỗi ngày để “nhớ lấy trách nhiệm”.
Cơn hoảng loạn quen thuộc lại bắt đầu trườn lên từ lồng ngực. Bàn tay Chi run rẩy mất kiểm soát. Những con số, những ký hiệu tích phân và quang hình trên trang giấy bỗng chốc nhảy múa, nhòe nhoẹt, biến thành những đôi mắt phán xét trừng trừng nhìn cô. Tiếng bước chân mẹ đi lại dưới tầng một vang lên đều đặn, như tiếng gông cùm siết chặt dần vào cổ chân.
Chi ôm lấy đầu, lồng ngực co thắt dữ dội. Cô cảm giác như mình đang chìm dần xuống đáy biển sâu, nơi áp suất đè nát buồng phổi, bóng tối bủa vây bốn phía và không một tia sáng nào có thể xuyên thấu.
Mình phải ra ngoài. Nếu ở lại đây thêm một giây nào nữa, mình sẽ chết ngạt mất.
Ý nghĩ ấy lóe lên như một bản năng sinh tồn hoang dại. Chi nhìn sang khung cửa sổ phòng ngủ hướng ra con hẻm nhỏ phía sau nhà. Cây bàng già xòe tán lá rộng sát ban công, nơi ngày bé cô từng trốn mẹ leo xuống mỗi khi bị phạt quỳ gối bên giá sách.
Không kịp nghĩ đến hậu quả, Chi với lấy chiếc áo khoác gió mỏng, xỏ vội đôi giày vải cũ rồi lách người qua cánh cửa sổ. Những nhánh bàng xào xạc cọ vào da thịt, lá khô rơi lả tả xuống mặt ngõ vắng. Đôi chân cô chạm đất không một tiếng động. Chi cắm đầu chạy, không dám ngoái đầu nhìn lại ô cửa sổ phòng khách vẫn sáng trưng ánh đèn tuýp trắng.
*
Gió biển Đà Nẵng về đêm thốc thẳng vào mặt, mang theo hơi lạnh buốt và mùi mặn mòi nồng nàn của dải cát duyên hải.
Bờ kè biển Ph*m V*n Đ*ng trải dài hun hút trong bóng tối. Những khối bê tông chắn sóng bốn chân hình dấu cộng xếp chồng lên nhau ngổn ngang, bọt sóng trắng xóa đập vào vách đá gầm vang từng đợt rền rĩ như tiếng thở dài của đại dương. Đêm nay trời quang mây lạ kỳ, vòm trời nhung đen thăm thẳm trải rộng không cùng tận, lấp lánh muôn ngàn đốm sáng xa xăm mà ánh đèn vàng vọt của dãy đèn cao áp ven đường không thể nào lấn át nổi.
Chi ngồi sụp xuống một mỏm đá phẳng trên bờ kè, hai tay ôm chặt lấy đầu gối, cả người run lên bần bật. Cô th* d*c, từng luồng hơi lạnh phả ra trắng mờ trong đêm.
Cô đã chạy một mạch từ khu tập thể ra đến đây, đôi giày vải ướt sũng cát mịn và nước biển. Sự ngột ngạt tạm thời bị gió biển thổi bạt đi, nhưng nỗi cô độc lại ùa về lấp đầy khoảng trống. Chi nhìn ra biển đen ngút ngàn trước mặt, nơi đường chân trời hòa lẫn vào bóng đêm vô tận. Cô tự hỏi nếu mình biến mất, nếu ngày mai trên bảng xếp hạng thi đua của trường Hải Triều không còn cái tên Đỗ Mai Chi, liệu có ai thực sự đau lòng? Hay mẹ chỉ thấy xấu hổ vì một sản phẩm giáo dục hoàn mỹ đã xuất hiện vết nứt không thể hàn gắn?
Két... rột rột... cọt kẹt...
Một chuỗi âm thanh kim loại khô khốc, quen thuộc đến kỳ quặc bỗng vang lên từ phía sau lưng, xé toạc tiếng sóng biển rì rào.
Chi giật mình quay phắt lại, đưa tay quệt vội giọt nước mắt chưa kịp khô trên mi.
Dưới ánh đèn đường vàng vọt cách đó mươi mét, một chiếc xe đạp khung nam cũ kỹ đang lóc cóc lăn bánh trên vỉa hè lát đá. Người đạp xe cao lêu nghêu, mặc chiếc áo phông đen cộc tay phong phanh giữa gió lạnh, ống quần bên thấp bên cao. Sau gác-ba-ga chiếc xe chằng một khối kim loại dài bọc trong lớp bao tải dứa, còn trên ghi-đông treo lủng lẳng một túi ni-lông màu đỏ bốc khói nghi ngút.
Hoàng Nhật Nam.
Cậu bóp phanh, chiếc phanh cao su mòn vẹt rít lên một tiếng chói tai rồi dừng khựng lại ngay mép bờ kè. Nam chống một chân xuống đất, nghiêng đầu nhìn Chi đang ngồi co ro trên mỏm đá như một chú chim sẻ ướt lông.
“Ủa? Bà cô chuyên Văn trốn trại à?” Nam nhướng mày, giọng nói trầm khàn cất lên, thản nhiên như thể việc gặp cô ở bờ biển lúc gần chín giờ đêm là chuyện bình thường nhất trần đời.
Chi ngơ ngác nhìn cậu, đôi mắt sau cặp kính cận tròn mở to hết cỡ: “Sao... sao cậu lại ở đây?”
“Đường này của nhà cậu mở à?” Nam nhếch môi cười nửa miệng, gạt chân chống xe rồi tháo chiếc túi ni-lông trên ghi-đông xuống. “Gió biển lộng thế này, ngồi đấy tính hóa đá thành tượng Hòn Vọng Phu hay gì?”
Cậu sải bước dài qua những hốc đá lởm chởm, tiến lại gần chỗ Chi rồi thản nhiên ngồi phịch xuống bên cạnh. Mùi mồ hôi thoảng mùi kim loại, mùi dầu máy và một mùi thơm nồng nàn ngây ngất lập tức xua tan cái lạnh buốt của gió biển.
Nam chìa chiếc túi ni-lông ra trước mặt cô: “Cầm lấy. Xôi gà bà Bé đầu ngõ trường mình đấy. Tớ vừa đạp xe sang tận đường Nguyễn Chí Thanh mua xong. Vẫn còn nóng hổi.”
Chi nhìn hai gói xôi bọc trong lá chuối xanh mướt, bên ngoài quấn một lớp giấy báo cũ kỹ. Hơi ấm từ gói xôi phả vào lòng bàn tay cô, ấm áp đến mức khiến đầu ngón tay đang tê cóng của cô run lên.
“Cậu... chưa ăn tối à?” Chi ngập ngừng hỏi, giọng khàn đặc vì gió lạnh.
“Ăn rồi thì mua hai gói làm gì cho chật xe?” Nam xé lớp lá chuối của gói xôi trên tay mình, để lộ phần xôi nếp vàng óng hạt mẩy, rắc đầy hành phi thơm nức và những thớ thịt gà xé đậm đà. “Nhìn cái mặt cậu là biết cơm chiều nuốt không trôi rồi. Mau ăn đi, nguội ngắt là cứng như đá đấy.”
Chi nhìn Nam. Dưới ánh sáng mờ ảo của bóng đèn cao áp hắt từ xa và ánh sao đêm lung linh trên mặt vịnh, sườn mặt nghiêng của cậu hiện lên góc cạnh, rắn rỏi. Thái dương cậu vẫn còn một vệt xước mờ từ vụ xô xát hôm trước, nhưng khóe mắt lại tràn đầy sự bình thản, tự do tự tại – thứ tự do mà Chi khao khát đến cháy bỏng suốt những năm tháng tuổi thơ.
Chi bóc gói xôi của mình. Miếng xôi đầu tiên chạm vào đầu lưỡi, dẻo thơm, ấm nóng và đậm đà hương vị bình dân. Khác hẳn với bữa cơm lạnh lẽo đầy áp lực ở nhà, miếng xôi này khiến lồng ngực cô như có một ngọn lửa nhỏ nhen nhóm, sưởi ấm những góc khuất tăm tối đang đóng băng.
“Ngon không?” Nam vừa nhai vừa hỏi, mắt nhìn thẳng ra ngọn hải đăng Tiên Sa đang chớp nháy từng nhịp xa xa ngoài mũi bán đảo Sơn Trà.
“Ngon lắm...” Chi khẽ đáp, cúi đầu giấu đi nụ cười hiếm hoi. “Cảm ơn cậu.”
“Ăn xong thì phụ tớ một tay.” Nam hất cằm về phía chiếc xe đạp. “Tớ vừa mượn được mấy khớp nối kim loại của thằng Khoa, lắp tạm cái khung đỡ bằng gỗ thông xem tiêu cự nó xoay thế nào. Trên gác xép vướng mái tôn, góc nhìn hẹp tịt. Ra đây thoáng đãng mới căn chỉnh được.”
Hai người im lặng ăn hết gói xôi giữa tiếng sóng gầm gào. Không ai hỏi thêm câu nào, nhưng khoảng lặng giữa họ không hề có sự gượng gạo hay ngột ngạt. Đó là sự im lặng của hai kẻ cùng chung một vết thương, cùng tìm thấy ở nhau một góc an toàn để cởi bỏ lớp phòng bị gai góc.Ăn xong, Nam phủi tay vào gấu quần, đứng dậy bước ra xe gỡ khối đồ đạc xuống. Chi vội vàng bước theo, giúp cậu giữ chiếc giá ba chân bằng kim loại và gỗ đã được tiện gọt cẩn thận. Đó là một hệ thống khung đỡ thô sơ nhưng cực kỳ chuẩn xác: một ống thép hình trụ tròn dài chừng một mét hai, phía trên gắn ngàm xoay và giá đỡ thị kính bằng đồng thau sáng bóng.
Nhìn thấy Chi tò mò ngó vào lòng ống thép, Nam vừa siết ốc vừa giải thích:
“Phôi kính mới mà hai đứa mình mài thô hôm qua vẫn còn nhám đục như kính phun cát, còn phải mài tinh qua mấy cỡ bột mịn rồi mới đánh bóng tráng bạc phản xạ được. Tớ đang lắp tạm một tấm gương cầu phản xạ cũ của ông nội vào đây để thử nghiệm độ cân bằng của khung đỡ và căn chỉnh tiêu cự cho thị kính trước đã.”
Nam đặt chiếc giá ba chân vững chãi lên một mặt phẳng bê tông kiên cố của bờ kè. Cậu cẩn thận điều chỉnh ống kính vào ngàm xoay, siết chặt từng chiếc ốc vít bằng những ngón tay chai sạn đầy vết xước. Động tác của cậu thuần thục, tỉ mỉ và say mê đến mức Chi không thể rời mắt.
“Này...” Chi bỗng lên tiếng, giọng nói lẫn vào tiếng sóng vỗ rì rào.
“Gì thế?” Nam vẫn không ngẩng đầu lên, tay đang dùng chiếc cờ-lê nhỏ siết lại chốt định vị góc nghiêng.
“Cậu... có bao giờ thấy kinh tởm chính bản thân mình chưa?”
Ngón tay Nam khựng lại một nhịp trên thân ốc kim loại. Cậu từ từ buông cờ-lê, quay người lại nhìn thẳng vào Chi.
Gió biển thổi tung mái tóc đen dài của cô gái nhỏ, những lọn tóc bay lòa xòa qua gọng kính cận tròn. Đôi vai mảnh khảnh của Chi run lên nhè nhẹ dưới làn áo khoác mỏng, đôi mắt đượm buồn nhìn xoáy vào khoảng không đen đặc ngoài khơi xa.
“Sao lại hỏi thế?” Nam hỏi, giọng cậu hạ thấp xuống, dịu dàng một cách lạ lùng.
Chi siết chặt hai bàn tay vào nhau, móng tay bấm sâu vào lòng bàn tay đau điếng: “Năm lớp chín... tớ từng đạt giải Nhất kỳ thi Học sinh Giỏi Văn cấp thành phố. Cậu biết không, cả trường Chu Văn An ăn mừng, mẹ tớ mở tiệc mời cả tổ bộ môn đến nhà, ai cũng khen tớ là thần đồng, là niềm tự hào của ngành giáo dục...”
Chi nghẹn lại, một nụ cười cay đắng hiện lên trên khóe môi: “Nhưng không một ai biết... bài văn đó không có lấy một chữ nào là của tớ cả.”
Nam không ngắt lời, chỉ đứng yên lặng tựa lưng vào mép khung đỡ thiên văn, đôi mắt đen láy chăm chú lắng nghe cô.
“Trước kỳ thi một tháng, mẹ tớ bắt tớ học thuộc lòng mười hai bài văn mẫu do chính mẹ và các giáo viên cốt cán biên soạn.” Nước mắt Chi bắt đầu trào ra, từng giọt lăn dài trên gò má trắng xanh, nhỏ xuống bờ đá lạnh ngắt. “Từng dấu câu, từng phép tu từ, từng cách đặt vấn đề mở bài... tớ đều phải chép đi chép lại hàng trăm lần cho đến khi thuộc làu như một con vẹt. Đề thi năm đó ra đúng vào bài mẹ đã chuẩn bị. Tớ ngồi trong phòng thi, tay thoăn thoắt viết như một cỗ máy được lập trình sẵn. Tớ không cần suy nghĩ, không cần cảm xúc. Tớ chỉ là một cái máy in chữ của mẹ.”
Chi hít một hơi run rẩy, giọng nói vỡ òa ra trong sự uất nghẹn kìm nén suốt hai năm ròng: “Đêm hôm nhận giải thưởng trở về, nhìn tấm bằng khen đỏ chót lồng trong khung kính vàng trên bàn học, tớ cảm thấy buồn nôn. Tớ kinh tởm từng câu, từng chữ hoa mỹ rỗng tuếch mà mình đã viết ra. Tớ khóa trái cửa phòng tắm, xé nát bài thi phôtô thành từng mảnh vụn rồi vứt vào bồn cầu xả nước. Tớ đã khóc suốt đêm đó vì nhận ra mình chỉ là một kẻ lừa đảo, một con rối mạo danh sự tài giỏi để thỏa mãn lòng kiêu hãnh của mẹ...”
Chi đưa hai tay ôm lấy mặt, những giọt nước mắt nóng hổi thấm đẫm qua kẽ tay. Đó là bí mật đen tối nhất, là vết nhơ mà cô chôn chặt tận đáy lòng, không dám hé răng với bất kỳ ai, kể cả cô Hoàng Yến. Cô sợ người ta sẽ nhìn cô bằng ánh mắt khinh miệt, sợ người ta sẽ l*t tr*n chiếc mặt nạ “học sinh giỏi gương mẫu” mà cô đang phải gồng mình đeo lên mỗi ngày.
Không gian xung quanh chỉ còn lại tiếng gầm vang của sóng biển và tiếng gió rít qua những khe đá.
Chi chuẩn bị tinh thần cho một sự im lặng ái ngại, hoặc một lời khuyên sáo rỗng thường thấy của người đời. Nhưng không.
Một bàn tay ấm áp bỗng đặt l*n đ*nh đầu cô, nhẹ nhàng xoa xoa mái tóc rối.
Chi ngỡ ngàng ngẩng đầu lên qua làn nước mắt nhòe nhoẹt.
Nam đứng đó, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười hiền lành mà cô chưa từng thấy trước đây. Trong đôi mắt sáng như sao của cậu không có một chút phán xét, không có sự mỉa mai, chỉ có một sự thấu hiểu sâu sắc đến nghẹn ngào.
“Thế thì đã sao?” Nam cất tiếng, giọng điệu nhẹ tênh như thể cô vừa kể một câu chuyện cười. “Xé là đúng. Giữ lại cái thứ rác rưởi dối trá ấy làm gì cho chật nhà.”
Chi sững sờ: “Cậu... cậu không thấy tớ đáng khinh à? Tớ đã cướp đi giải thưởng của những người viết bằng cảm xúc thật của họ...”
“Cậu bị ép buộc, chứ cậu không chủ mưu.” Nam thu tay về, thọc sâu vào túi quần, ánh mắt hướng lên vòm trời đêm sâu thẳm. “Cậu biết xé nó đi, tức là lương tâm cậu còn sống. Cậu biết ghê tởm sự giả tạo, tức là ngòi bút của cậu vẫn còn sự thuần khiết. Những kẻ đáng khinh là những kẻ biết mình đang viết dối mà vẫn hãnh diện cầm tiền thưởng đi khoe khoang khắp nơi kìa.”
Nam quay sang nhìn Chi, ánh mắt thẳng thắn và kiên định: “Bố mẹ tớ ly hôn năm tớ học lớp chín. Ngày ra tòa, họ thuê hai luật sư giỏi nhất thành phố, tranh nhau từng mét vuông đất, từng chiếc xe máy, từng cuốn sổ tiết kiệm. Nhưng khi quan tòa hỏi về quyền nuôi tớ, cả hai người đều dùng những từ ngữ đẹp đẽ nhất, cao thượng nhất về ‘tương lai của con trẻ’, về ‘môi trường giáo dục tốt nhất’ để... đùn đẩy tớ cho ông nội.”
Nam cười khẩy, một nụ cười chua chát nhưng ngạo nghễ: “Họ nói họ yêu thương tớ, nhưng không ai muốn gánh một thằng nhóc đang tuổi ẩm ương làm cản trở cuộc sống mới của họ. Từ ngày đó, tớ thề là tớ sẽ không bao giờ tin vào những lời văn hoa bóng bẩy nữa. Tớ thích những thứ như sắt thép, thấu kính, đinh ốc... Chúng nó cong là cong, thẳng là thẳng. Kính mài chưa chuẩn thì hình ảnh nhòe, lắp lệch một li là không gom được sáng. Tự nhiên không biết nói dối.”
Chi lặng người đi. Lần đầu tiên, cô nhìn thấy vết thương sâu hoắm ẩn sau vẻ bất cần, ngỗ ngược của chàng trai lớp Lý. Hai đứa trẻ tuổi mười bảy, một đứa bị giam lỏng trong sự kỳ vọng độc đoán, một đứa bị bỏ rơi giữa những toan tính lạnh lùng của người lớn, đang đứng cạnh nhau bên bờ biển đêm, dùng chính những mảnh vỡ tâm hồn mình để sưởi ấm cho nhau.
“Lại đây.” Nam bỗng vẫy tay, bước đến bên cạnh ống kính thiên văn.
Chi chớp chớp mắt, bước lại gần: “Làm gì thế?”
“Chữa mắt cho cậu.” Nam cười, tay thoăn thoắt xoay nhẹ núm vặn vi chỉnh tiêu cự của thị kính, hướng nòng súng quang học chếch một góc bốn mươi lăm độ về phía bầu trời phương Bắc. “Ghé mắt vào đây xem.”
Chi ngập ngừng cúi người xuống, đặt mắt vào miệng ống thị kính bằng đồng thau mát lạnh.
Ban đầu chỉ là một khoảng tối mờ mịt. Nhưng rồi, khi Nam cẩn thận xoay chiếc vòng đồng thêm nửa vòng ren, cả một vũ trụ kỳ vĩ bỗng bừng sáng trước võng mạc của Chi.
Nhờ tấm gương phản xạ của người ông đã được căn cự ly chuẩn xác, giữa bóng đêm thăm thẳm của không gian, bảy đốm sáng rực rỡ hiện lên rõ mồn một, kết nối với nhau thành hình một chiếc gáo khổng lồ tỏa ra ánh sáng xanh bạc thuần khiết, lấp lánh như những viên kim cương thượng hạng được đính trên tấm vải nhung của màn đêm.
“Chùm sao Bắc Đẩu đấy.” Giọng Nam trầm ấm vang lên bên tai cô, hòa cùng tiếng gió biển rì rào. “Bảy ngôi sao của chòm Đại Hùng. Cậu có biết ánh sáng từ ngôi sao sáng nhất trong số chúng – sao Thiên Xu – đã mất bao lâu để bay đến được mắt cậu không?”
Chi lắc đầu, hơi thở dồn dập vì ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thoát tục của vũ trụ.
“Hơn một trăm hai mươi năm ánh sáng.” Nam khẽ nói. “Nghĩa là chùm tia sáng mà cậu đang nhìn thấy lúc này đã rời khỏi bề mặt ngôi sao đó từ thời vua Thành Thái, từ lúc cụ cố của chúng ta còn chưa sinh ra. Nó đã bay cô độc qua hàng triệu triệu cây số trong khoảng không vũ trụ lạnh lẽo, tối tăm và chân không tuyệt đối, vượt qua không biết bao nhiêu bão từ và bụi vũ trụ, chỉ để đêm nay... rơi vào đáy mắt cậu.”
Nam đứng sát bên cạnh Chi, một tay cậu vịn vào thân ống kính kim loại để giữ thăng bằng trước những cơn gió biển giật từng cơn. Khoảng cách giữa hai người gần đến mức Chi có thể ngửi thấy mùi hương xà phòng thơm nhè nhẹ trên cổ áo cậu, cảm nhận được hơi ấm vững chãi tỏa ra từ bờ vai rộng của chàng trai lớp 11 Lý.
“Vật lý có một thứ gọi là định luật khúc xạ ánh sáng.” Nam tiếp tục, giọng nói của cậu lúc này không còn vẻ cộc cằn thường ngày, mà tràn ngập chất thơ mộc mạc của một kẻ say mê những vì tinh tú. “Khi một chùm ánh sáng trắng truyền qua một lăng kính thủy tinh, nó không bao giờ đi thẳng. Nó bắt buộc phải bị bẻ gãy. Tốc độ của nó bị chậm lại, phương truyền của nó bị bẻ cong.”
Chi vẫn ghé mắt nhìn vào thị kính, chăm chú lắng nghe từng lời của cậu như nuốt lấy từng giọt nước mát giữa sa mạc.
“Nhưng cậu biết điều kỳ diệu nhất là gì không?” Nam khẽ nghiêng đầu nhìn cô. “Chính vì bị bẻ gãy, chính vì bị khúc xạ qua các góc cạnh gồ ghề của lăng kính, mà chùm ánh sáng trắng đơn điệu ban đầu mới tách ra thành bảy sắc cầu vồng rực rỡ. Đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím... Một quang phổ lộng lẫy mà nếu cứ đi thẳng trong môi trường phẳng lặng, nó sẽ vĩnh viễn không bao giờ bộc lộ ra được.”
Nam dừng lại một chút, ánh mắt cậu ấm áp rọi thẳng vào khuôn mặt đẫm lệ của Chi:
“Những tổn thương của cậu, những kỳ vọng cay nghiệt của mẹ cậu, cả bài thi Văn bị xé nát năm lớp chín hay bài kiểm tra hai điểm rưỡi vừa rồi... tất cả chúng chỉ là những lăng kính khúc xạ mà cuộc đời này ném vào đường đi của cậu thôi, Chi à. Chúng làm cậu đau, chúng bẻ cong cậu, chúng làm cậu chệch hướng... nhưng chúng không thể dập tắt được ánh sáng bên trong cậu.”
Nam siết nhẹ tay trên thân ống kính: “Không có khúc xạ, sẽ không có quang phổ. Cậu không cần phải trở thành một đường thẳng tắp theo ý mẹ cậu. Cứ để bản thân bị bẻ gãy một chút, để rồi từ những vết rạn nứt đó, cậu sẽ phát ra thứ ánh sáng rực rỡ của riêng mình. Ngòi bút của cậu cũng thế. Đừng viết những thứ người ta muốn đọc. Hãy viết về những khúc xạ mà chính trái tim cậu đã trải qua.”
Từng lời, từng chữ của Nam như những tia sáng ấm áp, xuyên qua lớp vỏ bọc tự ti, sợ hãi và mặc cảm tội lỗi mà Chi đã tự giam cầm mình suốt bao năm qua. Lần đầu tiên trong đời, có một người không đòi hỏi cô phải hoàn hảo, không bắt cô phải đứng đầu bảng xếp hạng, không biến cô thành niềm hãnh diện của bất kỳ ai. Người đó đứng đây, giữa bờ biển đêm lộng gió, chỉ cho cô thấy vẻ đẹp của những vết xước, vẻ đẹp của sự không hoàn hảo và giá trị của việc dám sống thật với chính mình.
Một cảm xúc ấm nóng, mãnh liệt trào dâng từ đáy tim, nghẹn ứ nơi cổ họng rồi vỡ òa ra nơi khóe mi.
Chi rời mắt khỏi thị kính, ngẩng đầu lên nhìn Nam.
Dưới ánh sáng bàng bạc của ngàn vạn vì sao trên bầu trời đêm Đà Nẵng, khuôn mặt Nam hiện lên rõ ràng hơn bao giờ hết. Đôi mắt cậu trong veo, kiên định và bao dung như chính đại dương bao la ngoài kia.
Chi muốn nói một điều gì đó, muốn nói lời cảm ơn, muốn nói rằng cậu đã cứu rỗi linh hồn cô khỏi vực thẳm ngột ngạt của buổi tối hôm nay, nhưng đôi môi cô chỉ run rẩy mà không thốt nên lời.
Một giọt nước mắt – giọt nước mắt kìm nén suốt bao năm tháng nhọc nhằn, tủi nhục và sợ hãi – khẽ tách khỏi bờ mi cong của Chi, chầm chậm rơi xuống.
Giọt nước trong veo, ấm nóng ấy không rơi vào thớ đá bê tông lạnh lẽo, mà khẽ khàng đáp xuống mu bàn tay thô ráp, đầy vết chai sạn của Nam – nơi những ngón tay dài của cậu vẫn đang kiên nhẫn giữ chặt lấy thân ống kính thiên văn để che chắn cho cô trước những cơn gió lộng từ biển khơi.
Dưới ánh sao mờ, Chi thấy bàn tay Nam khẽ khựng lại. Cậu không rút tay về, những ngón tay dài vẫn kiên nhẫn giữ chặt ống kính, im lặng đón nhận giọt nước mắt ấm nóng của cô đang thấm dần qua lớp da thô ráp đầy vết xước. Đôi mắt cậu nhìn cô, không né tránh, không dao động, chỉ có sự dịu dàng và che chở lặng thầm như bức tường thành vững chãi nhất trên thế gian.
Gió biển đêm thổi qua rặng phi lao xa xa, mang theo tiếng sóng vỗ rì rào ngàn năm không dứt vào vách đá bờ kè. Giữa không gian bao la của đất trời duyên hải, dưới vòm sao Bắc Đẩu đã vượt hơn trăm năm ánh sáng để hội tụ tại nơi này, lần đầu tiên trong suốt mười bảy năm cuộc đời, Đỗ Mai Chi cảm thấy trái tim đầy rẫy những vết thương của mình được lắng nghe một cách trọn vẹn và dịu dàng đến thế.