Ra khỏi bệnh viện, Khổng Đa Lị quét mã thuê ngay một chiếc xe đạp công cộng, quay lại trường sớm để trực ca tự học buổi tối.
Hiện tại cô đang phụ trách khối 9, chỉ còn hơn một tháng nữa là học sinh bước vào kỳ thi chuyển cấp.
Từ ngày nhận khối 9 và được bổ nhiệm làm giáo viên chủ nhiệm, áp lực nghề nghiệp của cô đã bị đẩy lên đến đỉnh điểm.
Thực ra ngay từ hồi dạy khối 8, cô đã ngày càng cảm thấy đuối sức trong việc giảng dạy và nhận ra vốn kiến thức của mình còn mỏng. Bởi lẽ, những điểm yếu này sẽ dần bộc lộ qua quá trình tự thiết kế bài giảng, chủ trì các tiết thao giảng và cả qua thứ hạng thành tích môn học cô phụ trách so với toàn khối.
Trong kỳ thi cuối kỳ I năm lớp 8, thành tích môn Ngữ văn do cô phụ trách đứng bét bảng từ dưới lên ở vị trí thứ hai trong tổng số mười lăm lớp toàn khối. Sau khi có bảng xếp hạng, thầy phó hiệu trưởng đã gọi riêng từng giáo viên lên nói chuyện. Bốn giờ sáng đêm hôm đó, cô tỉnh giấc. Không phải thức dậy theo thói quen hay do đồng hồ báo thức, mà cô bị đánh thức bởi một cơn đau sinh lý âm ỉ lan ra từ bụng dưới. Cơn đau không dữ dội, thậm chí khá yếu ớt, nếu là ban ngày chắc chắn có thể dễ dàng phớt lờ. Nhưng đây lại là bốn giờ sáng, khoảng thời gian đáng lẽ các cơ quan nội tạng trong cơ thể đang ở trạng thái thư giãn và tự phục hồi tốt nhất.
Cô nhận ra sự không hài lòng của ban giám hiệu bắt nguồn từ việc cô đã có năm năm tuổi nghề.
Thời đại học, cô theo học ngành sư phạm ở Lan Châu. Sau khi tốt nghiệp cử nhân, cô đi dạy ở đó năm năm. Trở về từ Lan Châu được một năm, cô mới xin vào làm tại trường trung học cơ sở trực thuộc quận này. Đã dạy Ngữ văn ở đây suốt ba học kỳ, nhưng trình độ giảng dạy lẫn thành tích môn học mà cô thể hiện lại có thứ hạng không mấy lý tưởng so với toàn khối.
Sau cuộc nói chuyện với phó hiệu trưởng, và sau ba đêm liền bị đánh thức bởi cơn đau bụng kinh âm ỉ, phản ứng bản năng của cô chính là: bản thân phải nỗ lực hơn người khác.
Trong suốt kỳ nghỉ đông năm lớp 8, gần như ngày nào cô cũng giam mình trong phòng nghiên cứu giáo trình học kỳ mới, nghe giảng trực tuyến, ghi chép nhận xét tiết học, đồng thời kết hợp phương pháp giảng dạy của các giáo viên giỏi để tối ưu hóa phương pháp của riêng mình. Cô chuẩn bị kỹ lưỡng kiến thức cho từng bài, sau đó tự quay hình lại lúc mình đứng lớp. Quay xong, cô xem đi xem lại để mổ xẻ, đánh giá: xem đã nhấn mạnh được trọng tâm và phần khó chưa, nội dung bài giảng có khô khan không, nếu mình là học sinh thì liệu có đủ kiên nhẫn nghe hết và tiếp thu hiệu quả hay không? Ngoài ra, cô còn xem xét không gian mở rộng của bài học, tỉ mỉ điều chỉnh từng nhịp điệu và giọng điệu khi giảng bài.
Giọng điệu, cách làm chủ nhịp độ và phong thái đứng lớp luôn là điều khiến cô chưa hài lòng. Cô từng dạy các tiết thao giảng, từng phân tích video mình giảng bài và nhận thấy trạng thái cảm xúc của bản thân chưa đủ thả lỏng, cả người trông vẫn có phần gượng gạo, căng thẳng.
Các đồng nghiệp nhận xét rằng mạch bài giảng của cô khá rõ ràng: từ khả năng sắp xếp bố cục, khái quát nội dung tác phẩm, chắt lọc thông tin trọng tâm, cho đến việc bình giảng từ hay ý đẹp, phân tích hình tượng nhân vật hay đúc kết chủ đề đều được truyền đạt tới nơi tới chốn…
Hướng giảng bài không sai, nền tảng lý luận sư phạm cũng xem như vững chắc.
Nhưng Khổng Đa Lị lại vô cùng nản lòng, tại sao thành tích của học sinh mãi không thấy tiến bộ rõ rệt?
Kể từ sau lần bị phó hiệu trưởng gọi lên nhắc nhở, từ học kỳ II năm lớp 8 cho đến học kỳ II năm lớp 9 hiện tại, mất chưa đầy ba học kỳ, Khổng Đa Lị đã kéo thành tích môn Văn của hai lớp mình phụ trách từ vị trí áp chót lên hạng 6 và hạng 9. Toàn khối có mười lăm lớp, trong đó gồm hai lớp chọn, ba lớp thực nghiệm và mười lớp đại trà.
Suốt ba học kỳ này, Chủ nhật tuần nào Khổng Đa Lị cũng dậy từ năm giờ sáng.
Rửa mặt xong là cô ngồi soạn giáo án. Từ năm giờ đến mười giờ sáng, cô dành trọn năm tiếng để phác thảo xong khung bài giảng Văn cho cả tuần kế tiếp.
Đây là khoảng thời gian liền mạch hoàn toàn thuộc về cô, do cô làm chủ, là lúc để một “con chim ngốc nghếch cất cánh bay trước”. [1]
Từ thứ Hai đến thứ Sáu ở trường, cô chẳng bao giờ có một khoảng thời gian dài trọn vẹn để soạn bài. Tất cả chỉ là những mảnh thời gian vụn vặt mười, hai mươi hay bốn mươi phút; việc rảnh rỗi liên tục trên hai tiếng gần như không tồn tại. Cô tận dụng những khoảng thời gian chắp vá ấy để chấm bài, viết giáo án, thiết kế bài thao giảng, hoàn thành kế hoạch công tác tuần của tổ chuyên môn, tiện thể chỉnh sửa lại bài giảng lần hai. Nếu có ca trực tự học buổi tối, cô phải kèm cặp riêng từng học sinh và quan tâm đến sức khỏe tâm lý của các em. Hôm nào không trực, về nhà vệ sinh cá nhân xong, trước khi ngủ cô sẽ bổ sung thêm kiến thức lịch sử, chính trị và tâm lý học, vì lúc giảng bài trên lớp sẽ cần mở rộng đến những lĩnh vực này.
Cô phải dồn lịch soạn bài vào Chủ nhật vì sáng thứ Bảy trường thường xuyên yêu cầu làm thêm giờ, cộng thêm sau khi nhận chức giáo viên chủ nhiệm vào học kỳ II lớp 9, công việc lặt vặt của cô ngày càng nhiều… Dẫu vậy, đây cũng là sự công nhận của nhà trường dành cho năng lực giảng dạy của cô. Trong đại hội tuyên dương sau kỳ thi cuối kỳ I lớp 9, phó hiệu trưởng đã đích thân gọi tên khen ngợi và trao cho cô giải thưởng Giáo viên Tiến bộ.
Chẳng dễ dàng chút nào. Cô chỉ là sinh viên tốt nghiệp từ một trường đại học hạng hai [2]. Vài năm trở lại đây, những giáo viên mới được nhận vào trường nếu không phải là cử nhân của các trường thuộc dự án 211 [3] trở lên thì cũng là thạc sĩ. Mỗi khi có giáo viên mới vào, các giáo viên cũ lại bàn tán xôn xao sau lưng, chẳng hạn như: “Cô bé kia tốt nghiệp đại học 985 [4] đó… sao không xin vào trường cấp hai trực thuộc thành phố nhỉ? Ơ, sao không chọn thi công chức? Nếu là con tôi, tôi bắt đi thi công chức bằng được.”
Một giáo viên già khác chen lời: “Trực thuộc thành phố cái nỗi gì, ở đó đâu vào đấy cả rồi, mỗi năm sương sương bỏ túi ngót nghét 20 vạn tệ, không cầm cái bằng thạc sĩ 985 thì đừng hòng với tới.”
Mỗi lần nghe những cuộc đối thoại như vậy trong văn phòng, cộng thêm việc liên tưởng đến tư tưởng thời đại và bầu không khí xã hội hiện nay, cô lại thấy mình trở nên lầm lì, ít nói hẳn. Cơ thể như thể bị một sinh vật lạ xâm nhập, len lỏi vào từng lỗ chân lông rồi ngọ nguậy sinh sôi.
Bầu không khí ấy hoàn toàn khác biệt so với thời mà cô còn đi học. Thuở còn cắp sách đến trường, cô sống như cá gặp nước, nguyên tắc kết bạn của cô là lấy chân thành đổi lấy chân thành. Nhưng giờ đây, chiêu đó hoàn toàn mất tác dụng, thậm chí sự chân thành của cô đối với người khác lại trở thành một gánh nặng. Trước đây, cô từng nghe một chuyên gia tâm lý nhận định rằng cách kết bạn “lấy chân tâm đổi chân tâm” là quá thực dụng. Lúc đó cô nghe xong mà đầu óc rối bời, vậy phải dùng tiêu chuẩn gì để kết bạn đây? Hơn nữa, giờ đây cô rất khó giữ vững một lập trường kiên định, rõ ràng trước một sự việc hay một quan điểm nào đó; thay vào đó, cô hay do dự, ngả nghiêng, thi thoảng còn nảy sinh một cảm giác lạc lõng khó tả: càng sống càng trở nên thu mình nhút nhát.
Nhiều lúc, chính cô cũng không thể diễn tả rõ ràng. Cô không tìm được một ví dụ cụ thể nào để chứng minh, chỉ có thể nói dựa trên cảm nhận chủ quan của mình: đó là một bầu không khí xã hội và chốn công sở nào đó đang khiến cô thấy bức bối.
Tuy nhiên, sự bức bối này lại có thể tự hóa giải, thậm chí có thể coi như một sự tiến hóa tất yếu. Lấy ví dụ như trào lưu thi công chức, thi biên chế hiện nay, gần như sinh viên mới ra trường nào cũng cắm đầu vào thi. Thể xác thì gò ép trong thế giới thực để luyện đề, nhưng linh hồn lại chạy trốn sang thế giới 2D để gào thét. Thể xác và tâm hồn cứ đấu đá, giằng xé lẫn nhau nhưng cuối cùng lại có thể chung sống hòa bình.
Cô cũng thường xuyên rơi vào trạng thái này.
Trong kỳ nghỉ đông lớp 8, lúc vùi đầu mài giũa để nâng cao nghiệp vụ, cô đã không ít lần vừa học vừa rơi nước mắt. Đến tận bây giờ, thỉnh thoảng cô vẫn khóc vì sốt ruột, vì thấy bản thân quá đỗi chậm tiêu. Sự sốt ruột này thậm chí còn kích phát một nỗi hoang mang tột độ, nỗi hoang mang lo sợ rằng cuối cùng mình sẽ chỉ là một người bình thường với tư chất tầm thường.
Trải qua sự hoang mang ấy, lại nỗ lực đấu tranh với nó, nhưng cuối cùng thứ cảm giác đó vẫn để lại cho cô một di chứng dai dẳng: cô chưa từng tiết lộ với bất kỳ đồng nghiệp nào về việc mình phải dậy từ năm giờ sáng Chủ nhật để soạn bài.
Các đồng nghiệp trong tổ chuyên môn luôn kinh ngạc không hiểu sao thành tích môn Văn của cô lại tăng vọt hiệu quả đến thế. Có lần, trong buổi họp giao lưu của tổ, cô từng thử góp ý rằng mọi người có thể quay lại video tiết dạy của mình, sau đó mổ xẻ từng chi tiết giống như cách người ta phân tích cảnh phim, đó có lẽ cũng là một phương pháp hay. Nhưng cô vừa dứt lời, cả tổ ai nấy đều thảng thốt: làm thế thì ngốc nghếch, kém hiệu quả và tốn thời gian quá! Lúc đó cô hơi đỏ mặt, đành im bặt không nói thêm lời nào nữa.
…
Kỳ thi chuyển cấp đã bước vào giai đoạn đếm ngược.
Khổng Đa Lị dồn phần lớn tâm sức và thời gian cho học sinh.
Chủ nhật tuần này, cô dẫn bảy em học sinh có hoàn cảnh gia đình phức tạp, kinh tế không ổn định từ hai lớp mình dạy đi chơi Escape Room [5]. Cô từng giao hẹn với nhóm học sinh này rằng, chỉ cần đậu vào trường cấp ba công lập, cô sẽ dẫn các em đi chơi Escape Room và bao ăn đồ Hàn.
Cô chỉ dẫn bảy học sinh này đi là vì các em không đi học thêm, chỉ cần nỗ lực thêm chút nữa thôi thì xác suất đỗ cấp ba sẽ rất cao.
Dựa vào kinh nghiệm giảng dạy tích lũy được, cô chia học sinh mình đang dạy thành ba nhóm chính:
Nhóm thứ nhất là những em có tính tự giác và ý chí hiếu thắng cao. Nhóm này không cần giáo viên phải bận tâm nhiều, quan tâm thái quá khéo lại khiến các em thấy phiền phức.
Nhóm thứ hai là những em có thành tích tàm tạm, gia cảnh cũng ổn, có chút chí hướng nhưng không nhiều. Các em không có mục tiêu hay kế hoạch học tập rõ ràng, chẳng có tính tự kỷ luật, cũng chẳng có tâm lý hơn thua, kiểu… sao cũng được. Thứ hạng trong khối thì cứ lưng chừng, không lên cũng chẳng xuống. Cái làm người ta bực mình nhất là các em tự thấy mình thế là rất ổn… Nhóm này thường chẳng mấy khi tìm Khổng Đa Lị để hỏi han do thiếu hụt kiến thức (chúng luôn cho rằng mình đã nắm vững bài, cứ ra chiến trường thi cử là biết tay nhau ngay). Mỗi lần chúng lân la đến tìm cô, chủ yếu là để tựa vào bục giảng buôn chuyện phiếm, cái miệng liến thoắng nói đủ thứ trên trời dưới bể, tuyệt nhiên không đả động gì đến chuyện học hành.
Nhóm thứ ba là những học sinh thiếu thốn tình thương gia đình trầm trọng. Nhóm này lại được chia thành hai tốp nhỏ. Một tốp có tâm lý “gia đình đã không cho thì tôi cũng cóc cần”, chỉ cắm cúi học tập, trong lòng ôm nỗi bất mãn mãnh liệt, thậm chí là hận thù gia đình. Các em trút sự bất mãn đó vào việc học, khao khát nhanh chóng tự cường, tự lập. Tốp còn lại thì dù gia đình không cho tình yêu thương nhưng về mặt tình cảm, các em lại khao khát và cần điều đó vô cùng, thế nên chúng đành bòn mót từ bạn bè và thầy cô. Tốp này rất dễ đi chệch hướng, có bảo với chúng rằng mục đích đến trường là để tiếp thu kiến thức chứ không phải kết bạn hay để thu hút sự chú ý… cũng vô ích. Khổng Đa Lị đã thử đủ mọi cách, phương pháp duy nhất phát huy tác dụng là phải cho chúng sự quan tâm mà chúng khát khao trước, sau đó mới nói đến những chuyện khác.
Hai nhóm học sinh đầu tiên không cần giáo viên chú ý quá nhiều, nhưng riêng tốp học sinh cuối cùng này lại đòi hỏi sự tương tác về mặt cảm xúc từ giáo viên. Chẳng hạn như trong giờ học phải đưa mắt nhìn chúng nhiều hơn, khích lệ chúng trả lời câu hỏi, lúc chúng lên hỏi bài sau giờ học thì phải kiên nhẫn hơn. Chỉ cần dành cho chúng sự quan tâm đúng mực là có thể khơi dậy tính tích cực và sự tự tin trong học tập của các em. Tốp này tương đối khiến giáo viên phải nhọc lòng, thành tích lên xuống thất thường, cứ nhảy múa liên tục giữa nhóm bét bảng và nhóm tầm trung.
Bảy học sinh mà Khổng Đa Lị dẫn đi chơi Escape Room vào Chủ nhật tuần này chính là thuộc tốp đó. Cô quyết định thực hiện một phần lời hứa trước kỳ thi, dẫn các em đi chơi giải tỏa áp lực, đợi khi nào có điểm thi thì sẽ mời ăn đồ Hàn sau.
Trước khi hẹn học sinh, cô chưa từng chơi Escape Room bao giờ, cứ đinh ninh một người cùng lắm cũng chỉ ba, năm chục tệ. Thế nhưng lúc lên mạng đặt vé, cô mới tá hỏa phát hiện một vé giá tận 126 tệ! Bảy đứa… tính cả cô là tám, tổng cộng đi tong 1.008 tệ!
Cô định viện cớ không thích chơi để ngồi đợi ở khu vực nghỉ ngơi, nhưng chủ quán lại bảo tám người vừa đẹp một đội.
…
Chuyện này buộc phải nhắc đến mức lương của cô, dù gì cô cũng là một giáo viên biên chế nhà nước. Có những người nhận lương xong sợ bị ganh ghét nên giấu giếm thu nhập thực tế. Cô thì hoàn toàn ngược lại, tháng trước lương cơ bản cộng với phụ cấp chủ nhiệm cầm tay được 4.672 tệ, cô ra ngoài toàn làm tròn lên 5.000. Cả gia đình, ngoại trừ người bà bảy mươi chín tuổi mỗi tháng nhận 3.200 tệ tiền trợ cấp lao động ra, thì lương cô là thấp nhất nhà.
Chơi Escape Room xong, bảy học sinh bàn bạc nhất định phải mời lại Khổng Đa Lị một bữa, tiền cơm bảy đứa sẽ tự chia nhau trả. Các em còn chọn sẵn địa điểm luôn, chính là quán lẩu Trùng Khánh ở tầng ba của trung tâm thương mại này. Chỗ chơi Escape Room nằm trên tầng năm, cả nhóm đi thang cuốn xuống, vây quanh Khổng Đa Lị kéo đến quán lẩu. Khổng Đa Lị giơ tay xin hàng, bảo muốn ghé vào nhà vệ sinh bên cạnh một lát.
Lần đi này rắc rối to, ngay khu vực nhà vệ sinh, cô đụng độ Triệu Tồn Anh, người đã một năm không gặp, lúc này đang cầm điện thoại áp lên tai nói chuyện. Khổng Đa Lị vội quay mặt đi, hỏi học sinh có mang giấy ăn không. Học sinh đáp bên trong có sẵn giấy. Nói đoạn, mấy cô trò định rẽ vào nhà vệ sinh nữ thì sau lưng chợt vang lên một giọng nói, mang theo sự vui sướng như nắng hạn gặp mưa rào: “Cô Khổng…”
Khổng Đa Lị ngoảnh lại, thấy người gọi là Triệu Tồn Anh bèn tỏ vẻ ngạc nhiên như tình cờ gặp người quen: “Ô kìa, bác sĩ Triệu.”
Triệu Tồn Anh một tay bịt micro điện thoại, quay sang nói với cô: “Cô có thể vào trong gọi Đường Bảo giúp tôi được không? Con gái tôi vào đó mười, hai mươi phút rồi.”
…
Khổng Đa Lị bước vào nhà vệ sinh nữ, một phút sau đi ra, truyền đạt lại lời nhắn: “Con bé bảo anh kiên nhẫn chờ thêm lát nữa.”
Triệu Tồn Anh nói: “Được, cảm ơn cô nhé.” Dứt lời, anh lại bận bịu nghe điện thoại, nghe loáng thoáng nội dung có vẻ là người nhà bệnh nhân gọi tới.
Khổng Đa Lị lại quay vào nhà vệ sinh, ba phút sau trở ra, thấy Triệu Tồn Anh đang tựa lưng vào tường tập tư thế squat tĩnh [6], cô lỡ mồm hỏi thêm một câu: “Tôi vào xem giúp anh tiếp nhé?”
Triệu Tồn Anh liền nhờ vả: “Cô có thể chụp gần phân của con bé giúp tôi được không? Tôi muốn quan sát màu sắc và hình dạng xem sao.”
…
“Được thôi.” Khổng Đa Lị hỏi: “… Vậy có cần tôi lau mông giúp con bé không?”
Triệu Tồn Anh vội nói: “Không cần, con bé tự lau được.”
Khổng Đa Lị bảo học sinh về quán lẩu trước, bản thân lại lộn trở vào nhà vệ sinh. Lát sau, từ bên trong vọng ra một giọng bé gái lảnh lót nhưng có vẻ mệt lả: “Bố ơi…”
Triệu Tồn Anh đáp lời: “Bố đây!”
“Có phải bố nhờ cô đeo khuyên tai hình hột lựu vào giục con đi ị không?”
…
“Bố và cô Lị Lị là chỗ bạn bè với nhau.”
“Thế con yên tâm rồi.”
–
[1] Chim ngốc bay trước (笨鸟先飞 – Bôn điểu tiên phi): Thành ngữ ám chỉ người biết mình kém cỏi, chậm chạp nên phải nỗ lực, hành động trước người khác một bước để bù đắp sự thiếu hụt.
[2] Trường đại học hạng hai ( 二本 – Nhị bản): Các trường đại học tuyển sinh ở đợt 2 trong hệ thống tuyển sinh đại học Trung Quốc, thường là các trường công lập cấp tỉnh hoặc thành phố, chất lượng và danh tiếng xếp sau các trường “Nhất bản” (trường trọng điểm).
[3] Dự án 211: Dự án xây dựng khoảng 100 trường đại học và một số ngành trọng điểm của Trung Quốc trong thế kỷ 21, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
[4] Dự án 985: Dự án xây dựng các trường đại học mang tầm cỡ quốc tế của Trung Quốc, quy tụ những trường top đầu xuất sắc nhất cả nước.
[5] Escape Room (Trò chơi nhập vai thoát hiểm): Trò chơi nhập vai thực tế trong không gian kín. Người chơi được đưa vào một căn phòng thiết kế theo chủ đề (như ngôi nhà ma, nhà tù, phòng thí nghiệm…) và phải phối hợp tìm kiếm manh mối, giải các câu đố trong thời gian quy định để mở cửa thoát ra ngoài.
[6] Squat tĩnh (Static Squat/Wall Sit): Bài tập thể hình ở tư thế ngồi xốm nhưng giữ nguyên cơ thể cố định trong một khoảng thời gian thay vì đứng lên ngồi xuống liên tục. Người tập thường dựa lưng vào tường, hạ hông xuống sao cho đùi song song với mặt sàn (tạo thành góc 90 độ ở gối) để tăng sức bền cho cơ đùi và cơ mông.