Mùa xuân trôi qua rất nhanh, cái nóng oi bức của mùa hạ bắt đầu nhen nhóm.

Giữa mùa hè năm đó, Khương Nhược Vi đột nhiên phát bệnh cũ. Nàng vốn bị chứng lạnh từ nhỏ, mỗi khi đến kỳ hành kinh đều đau đớn đến mức chết đi sống lại. Chiều hôm đó, cơn đau ập đến dữ dội hơn thường ngày, nàng nằm trên giường, sắc mặt trắng bệch, mồ hôi lạnh vã ra như tắm.

Tiểu Hạnh hoảng hốt, vội vàng sai người chạy đến bộ Hộ tìm Chu Hằng. Tuy nhiên, cho đến tận đêm khuya vẫn không thấy bóng dáng Chu Hằng. Chỉ có một gã sai vặt trong phủ mang theo một gói thuốc từ ngoài vào, hớt hải nói: 

“Thiếu phu nhân, hôm nay đại gia phải dự tiệc tiếp đón khâm sai đại thần cùng với Mộ Thượng thư, thật sự không thể rời đi được. Đây là thuốc đại gia sai người ra hiệu thuốc bốc mang về cho người.”

Tiểu Hạnh tức giận đến mức giậm chân, nhưng cũng không làm gì được, vội vàng mang thuốc đi sắc.

Nhưng khi chén thuốc được mang lên, Khương Nhược Vi nhìn màu thuốc đen kịt, ngửi mùi vị nồng nặc, sắc mặt nàng càng thêm tái nhợt. Nàng là người đã tự mình sắc thuốc trị căn bệnh này suốt mười năm qua, làm sao không biết trong đơn thuốc này thiếu mất vị đương quy sao vàng và hương phụ, đây là hai vị thuốc cốt lõi để làm dịu cơn đau của nàng, ngược lại lại có thêm vị hoàng liên đắng ngắt.

Người bốc thuốc hoàn toàn không hiểu bệnh cũ của nàng, hoặc giả, người truyền lệnh đã nói sai tên thuốc.

“Đổ đi.”

“Thiếu phu nhân?” Tiểu Hạnh kinh ngạc, đôi mắt tròn xoe ngập nước, “Đây là thuốc đại gia…”

“Thuốc này không phải trị chứng lạnh.” Khương Nhược Vi ho khan một tiếng, giọng nói yếu ớt nhưng rành mạch, “Trong này có hoàng liên, sinh địa, mạch môn. Đây là đơn thuốc thanh nhiệt, trị cảm mạo do nhiệt độc.”

Khương Nhược Vi không uống chén thuốc đó. Nàng bảo Tiểu Hạnh đổ đi, rồi cắn răng chịu đựng cơn đau quặn thắt suốt cả một đêm. Nàng cuộn tròn người trên chiếc giường trống trải, nhìn ánh trăng lạnh lẽo rọi qua cửa sổ, cắn chặt môi đến mức bật máu để không phát ra tiếng khóc.

Sáng hôm sau, khi tiếng gà gáy đầu tiên vang lên, Chu Hằng mới vội vàng trở về. Hắn nhìn thấy Khương Nhược Vi nằm trên giường, sắc mặt tiều tụy, vội vàng bước tới bên giường, nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của nàng, ánh mắt ngập tràn sự ân cần và tự trách.

“Vi Vi, đỡ chút nào chưa? Tối qua ta thật sự không thể khước từ, Mộ Thượng thư đích thân gọi ta uống rượu…”

Hắn vẫn ân cần như thế, ánh mắt vẫn đầy vẻ lo lắng. Nhưng chính sự ân cần muộn màng này lại khiến Khương Nhược Vi cảm thấy một luồng khí lạnh thấu xương từ lòng bàn chân bốc lên. Hắn lo lắng cho nàng, nhưng sự lo lắng đó đã xếp sau việc làm vui lòng Mộ Thượng thư, xếp sau tiền đồ của hắn. Hắn bằng lòng để nàng chịu đau một đêm, miễn là hắn không làm mất lòng quan trên.

“Ta đỡ nhiều rồi, cảm ơn chàng.” Khương Nhược Vi khẽ rút tay về, giọng nói bình lặng như mặt hồ không gió.

Mấy ngày sau, vết thương lòng của Khương Nhược Vi càng thêm sâu trong một tình huống mà nàng không bao giờ ngờ tới.

Hôm đó, Khương Nhược Vi đến phủ Thượng thư để dự tiệc mừng thọ của Mộ lão phu nhân. Giữa buổi tiệc, nàng cảm thấy trong người hơi ngột ngạt nên dắt Tiểu Hạnh đi dạo ra phía sau hoa viên. Khi đi ngang qua một gian thư phòng khuất sau rặng trúc, nàng nghe thấy tiếng nói chuyện quen thuộc phát ra từ bên trong.

Nàng đứng khựng lại sau khóm trúc, qua khe hở của cánh cửa sổ mở hờ, nàng nhìn thấy Chu Hằng và Mộ Dao đang đứng cạnh một chiếc bàn dài. Họ không có bất kỳ hành động thân mật nào, khoảng cách giữa hai người giữ đúng lễ nghi của nam nữ. Họ đang cùng nhau xem một bức họa bản đồ thủy lợi.

“Chu đại nhân, cha ta nói phương án trị thủy này của huynh rất có kiến giải, nhưng nếu đệ trình lên triều đình, chắc chắn sẽ bị người của phe Tả tướng phản đối.” Giọng của Mộ Dao nhẹ nhàng nhưng chứa đựng sự hiểu biết sâu sắc về chính trị.

Chu Hằng mỉm cười, ánh mắt nhìn Mộ Dao đầy vẻ tán thưởng: “Mộ tiểu thư quả là có mắt nhìn. Chuyện này ta đã có tính toán…”

Đúng lúc đó, một nha hoàn bưng một khay trà bước vào. Trên khay có một chén thuốc an thần màu nâu đậm. Mộ Dao nhìn thấy chén thuốc, lông mày hơi nhíu lại, lộ vẻ bài xích. Chu Hằng thấy vậy, tự nhiên vươn tay chặn khay trà lại, nói với nha hoàn.

“Mang xuống đi, đổi thành trà hoa cúc mật ong. Mộ tiểu thư từ nhỏ đã không ngửi được mùi thuốc đắng, các ngươi làm việc kiểu gì vậy?”

Nha hoàn vội vàng tạ tội rồi lui xuống. Mộ Dao ngước mắt nhìn hắn, trong mắt tràn đầy sự cảm kích và một chút tình cảm dịu dàng không thể che giấu.

“Chu đại nhân vẫn còn nhớ rõ thói quen nhỏ này của ta sao?”

“Chuyện của Mộ tiểu thư, tất nhiên ta phải để tâm rồi.” Chu Hằng đáp, giọng điệu dịu dàng, vô cùng tự nhiên.

Khương Nhược Vi đứng ngoài khóm trúc, cảm thấy toàn thân mình như đông cứng lại. Hắn nhớ rõ Mộ Dao không ngửi được mùi thuốc đắng. Hắn biết nàng ấy thích gì, ghét gì, biết tỉ mỉ từng thói quen nhỏ của người ta. Vậy mà, thê tử kết tóc của hắn, người đã cùng hắn chịu khổ mười năm, bị bệnh cũ hành hạ, hắn lại có thể quên mất đơn thuốc của nàng, để mặc nàng đau đớn cả đêm.

Hóa ra, hắn không phải là người đàn ông thô lỗ, vô tâm do bận rộn chính sự. Hắn vẫn có khả năng tinh tế, vẫn biết cách chăm sóc, nâng niu một nữ nhân từ những điều nhỏ nhặt nhất. Chỉ là sự tinh tế và tâm trí ấy, hắn đã không còn dùng cho nàng nữa rồi.

Đây là nỗi đau còn sâu sắc và tàn nhẫn hơn cả chuyện bắt quả tang phu quân ngoại tình rõ ràng ngay trước mắt. Người đàn ông của nàng vẫn còn khả năng yêu thương, nhưng đối tượng nhận được sự yêu thương đó đã hoàn toàn thay đổi.

Trong đầu Khương Nhược Vi đột nhiên hiện lên một đoạn hồi ức cũ của sáu năm trước.

Năm ấy, họ sống trong căn nhà thuê dột nát, mùa đông lạnh buốt. Khương Nhược Vi bị ho ra máu, Chu Hằng hoảng hốt cõng nàng chạy phăng phăng trong đêm tuyết mịt mù. Hắn vừa chạy vừa khóc, đôi chân giẫm lên mảnh sành vỡ trên đường chảy máu ròng ròng nhưng hắn không hề hay biết. Đến y quán, hắn quỳ sụp xuống trước mặt đại phu, dập đầu đến chảy máu để cầu xin cứu mạng nàng. Lúc đó, hắn không có tiền đồ, không có quan phục lộng lẫy, hắn chỉ là một thư sinh nghèo bối rối, vụng về, nhưng trái tim hắn thuộc về nàng trọn vẹn.

Còn bây giờ, hắn lịch sự, ổn trọng, tinh tế, bước đi thong thả giữa vinh hoa phú quý, nhưng nàng lại không còn chỗ đứng trong tâm trí hắn nữa rồi.

Chu Hằng không hẳn đã biến thành một kẻ xấu xa, tàn nhẫn. Chỉ là hắn đã trưởng thành hơn, thành công hơn, hợp thời hơn, và trong quá trình leo l*n đ*nh cao đó, hắn đã tự tay vứt bỏ đi người thê tử thuở hàn vi, người vốn không còn giá trị giúp đỡ hắn trên con đường quyền lực.

---

Mùa thu năm Cảnh Hoà thứ bảy đến mang theo những trận gió heo may xơ xác. Lá ngô đồng rụng đầy sân Chu phủ, thỉnh thoảng bị gió cuốn lên tạo thành những tiếng xoạt xoạt cô đơn.

Đêm nay, Chu Hằng lại về muộn. Khi hắn bước vào phòng, nến trong phòng chính đã lụi gần hết. Khương Nhược Vi không nằm trên giường như mọi khi, nàng ngồi ngay ngắn bên chiếc bàn gỗ cạnh cửa sổ phía đông, trên bàn đặt một ấm trà đã nguội ngắt từ lâu.

“Vi Vi, sao giờ này còn chưa ngủ?” Chu Hằng vừa tháo đai lưng vừa hỏi, giọng nói mang theo sự mệt mỏi quen thuộc.

Khương Nhược Vi không trả lời câu hỏi của hắn. Nàng ngước đôi mắt tĩnh lặng nhìn hắn, khẽ hỏi: “Chu Hằng, chàng còn nhớ lúc chúng ta nghèo nhất, ở căn nhà dột phía bắc thành, chàng từng hứa gì với ta không?”

Chu Hằng khựng lại, động tác tháo đai lưng dừng giữa chừng. Hắn nhíu mày suy nghĩ một lát rồi nở một nụ cười có chút gượng gạo: “Sao tự nhiên lại nhắc chuyện xưa cũ làm gì? Lúc đó nghèo khó, ta chắc chắn là đã hứa sẽ cho nàng cuộc sống vinh hoa phú quý, không để nàng phải chịu khổ nữa. Bây giờ ta đã làm được rồi, không phải sao?”

Khương Nhược Vi nhìn hắn, trong mắt hiện lên sự thất vọng vụn vặt.

Hắn không nhớ nổi. Không phải hắn cố ý lừa dối, mà là hắn thật sự không nhớ nổi câu nguyên văn năm đó hắn đã nói. Năm đó, dưới ánh trăng mờ, hắn đã ôm nàng và nói: “Vi Vi, sau này ta làm quan, thế giới ngoài kia có rực rỡ đến đâu, trong mắt ta cũng chỉ có một mình nàng. Nếu ta để nàng phải cô đơn một ngày, ta nguyện bị thiên lôi đánh chết.”

“Vậy chàng còn nhớ những điều ta vẫn nhớ vì chàng không?” Khương Nhược Vi lại hỏi, giọng nói nhẹ nhàng nhưng lạnh ngắt.

Chu Hằng im lặng nhìn nàng, không hiểu nàng muốn nói gì.

“Chàng sợ lạnh, nên mùa đông đến ta luôn tự tay lót thêm một lớp bông dưới nệm của chàng. Chàng uống rượu sẽ bị đau đầu dữ dội vào sáng hôm sau, nên gần mười năm qua, chưa bao giờ trong bếp thiếu sẵn canh giải rượu canh ba. Chàng không ăn được món quá mặn vì chứng bệnh dạ dày, nên thực đơn trong phủ luôn do ta đích thân kiểm tra. Và… trước kia chàng rất ghét mùi thuốc, nhưng bây giờ chàng lại có thể ngửi mùi hương cốt khí suốt nửa năm trời mà không một lời phàn nàn.”

Mỗi một câu Khương Nhược Vi nói ra, sắc mặt Chu Hằng lại tái đi một phần. Hắn đứng chôn chân tại chỗ mà nhìn thê tử của mình. Hóa ra nàng biết hết, nàng nhìn thấy hết tất cả những thay đổi nhỏ nhặt nhất trên người hắn. Nàng âm thầm quan sát, âm thầm chịu đựng, và lặng lẽ ghi nhớ tất cả những thói quen của hắn, trong khi hắn thì đã quên sạch những gì thuộc về nàng.

Khoảnh khắc đó, Khương Nhược Vi xác nhận được thứ mà nàng sợ hãi nhất: nàng là người duy nhất còn đang cố gắng giữ gìn ký ức cho cuộc hôn nhân này, còn hắn thì đã sớm bước tiếp sang một thế giới khác từ lâu rồi.

“Vi Vi…” Chu Hằng bước lên một bước, muốn giải thích điều gì đó, nhưng lại thấy cổ họng khô khốc.

“Chu Hằng, chàng còn yêu ta không?” Khương Nhược Vi nhìn thẳng vào mắt hắn, đưa ra câu hỏi tàn nhẫn nhất.

Khoảng không gian rơi vào một sự im lặng chết chóc. Chu Hằng không lập tức trả lời. Khoảng lặng kéo dài năm giây đó giống như một nhát dao sắc bén nhất, cắt đứt chút hy vọng cuối cùng còn sót lại trong lòng Khương Nhược Vi. Nếu hắn còn yêu nàng, hắn đã lập tức trả lời không cần suy nghĩ. Nhưng hắn phải khựng lại, hắn phải suy nghĩ, phải cân nhắc.

Cuối cùng, Chu Hằng cụp mắt xuống, thấp giọng nói: “Ta chưa từng muốn bạc đãi nàng.”

Câu trả lời này rất hay, vì nó là sự thật. Quả thật hắn chưa từng muốn bạc đãi nàng về mặt vật chất. Hắn cho nàng danh phận tôn quý, cho nàng tiền bạc không thiếu, cho nàng sự lễ độ, tôn trọng trước mặt người ngoài. Hắn làm tròn trách nhiệm của một phu quân danh giá. Nhưng không muốn bạc đãi, không đồng nghĩa với yêu thương như xưa.

“Nhưng chàng cũng không còn đặt ta ở vị trí đầu tiên nữa.” Khương Nhược Vi khẽ cười, nụ cười tràn đầy sự châm biếm và đau đớn, “Trong lòng chàng bây giờ, tiền đồ đứng thứ nhất, thể diện đứng thứ hai, ân tình với nhà họ Mộ đứng thứ ba, còn Khương Nhược Vi ta… có lẽ nằm ở một góc xó xỉnh nào đó mà chính chàng cũng không nhớ nổi.”

“Nàng đừng có suy nghĩ cực đoan như vậy!” Chu Hằng có chút thẹn quá hóa giận, hắn phất tay áo, “Ta nói rồi, ta bận rộn chính vụ là vì gia đình này! Sao nàng cứ phải tính toán mấy chuyện tình cảm vụn vặt như nữ nhi mới lớn thế? Chúng ta đã là phu thê trưởng thành cả rồi!”

“Phu thê trưởng thành cả rồi sao?” Khương Nhược Vi đứng dậy, nhìn hắn một lượt từ đầu đến chân, “Chu Hằng, chàng nhìn lại mình xem, chàng đã biến thành người như thế nào rồi. Ta không làm ầm lên, không vạch trần chuyện của chàng và Mộ Dao, là muốn giữ lại chút thể diện cuối cùng cho mối tình mười năm của chúng ta. Chứ không phải vì ta ngu ngốc không biết gì.”

Chu Hằng nghẹn lời, hắn nhìn sự kiên định và lạnh lùng trong mắt nàng, trong lòng đột nhiên dâng lên một nỗi sợ hãi mơ hồ. Hắn cảm thấy dường như mình đang sắp mất đi một thứ gì đó vô cùng quan trọng, nhưng lòng kiêu hãnh của một vị quan trẻ tuổi đầy hứa hẹn không cho phép hắn cúi đầu.

“Ngày mai, ta sẽ chuyển đến viện phía tây ở một thời gian.” Khương Nhược Vi nhàn nhạt nói, “Dạo này thân thể ta không tốt, muốn yên tĩnh dưỡng bệnh.”

Chu Hằng im lặng một lúc lâu rồi quay người đi, bỏ lại một câu: “Tùy nàng. Nàng muốn yên tĩnh thì cứ đến đó đi, khi nào suy nghĩ thông suốt rồi thì trở về.”

Hắn nghĩ nàng chỉ là đang giận dỗi tạm thời, giống như những nữ nhân khác trong Kinh thành, tuyệt thực hoặc chuyển phòng để thu hút sự chú ý của phu quân. Hắn nghĩ, nàng xuất thân từ một gia đình buôn vải, ngoài việc nương tựa vào một phu quân là Lang trung bộ Hộ như hắn ra, nàng còn có thể đi đâu được nữa?

Từ giây phút đó, Chu Hằng không hề biết rằng, hắn đã thực sự vĩnh viễn mất đi nàng, chỉ là hắn vẫn chưa hiểu được mức độ tổn thất đó lớn đến nhường nào.

---

Mùa đông năm Cảnh Hoà thứ bảy đến sớm hơn mọi năm. Trận tuyết đầu mùa đổ xuống Kinh thành, nhuộm trắng xóa những mái ngói của viện phía tây Chu phủ.

Viện phía tây vốn là một nơi hẻo lánh, ít người qua lại. Từ khi Khương Nhược Vi chuyển đến đây, nơi này càng thêm thanh tịnh. Nàng không làm ầm ĩ, không khóc lóc, mỗi ngày đều đặn thức dậy, thong thả dọn dẹp phòng ốc.

Nàng dành ra một tháng để sắp xếp lại toàn bộ sổ sách chi tiêu trong phủ một cách rõ ràng nhất, bàn giao lại cho quản gia. Nàng phân loại các loại thuốc bổ, thuốc giải rượu của Chu Hằng theo từng mùa, viết rõ ràng cách dùng lên từng chiếc nhãn giấy dán trên hộp thuốc. Quần áo mùa đông của hắn cũng được nàng tự tay kiểm tra, sửa sang lại từng đường kim mũi chỉ rồi xếp gọn gàng trong tủ.

Nàng rời đi không phải trong sự giận dữ hay hận thù, mà là trong một sự tỉnh táo đến đáng sợ. Chính sự chu đáo, bình thản này của nàng đã tước đi của Chu Hằng cơ hội được níu kéo bằng những lời xin lỗi thông thường. Nàng không cho hắn lý do để dỗ dành, vì nàng đã không còn cần đến nữa.

Khi Chu Hằng đang ở trên triều, một chiếc xe ngựa nhỏ lặng lẽ đỗ trước cửa viện phía tây. Khương Nhược Vi chỉ mang theo Tiểu Hạnh và chiếc rương gỗ đựng của hồi môn của mình, không lấy đi một đồng tiền, một tấm lụa nào của Chu phủ. Nàng để lại trên bàn phòng chính một tờ thư ly hôn đã ký sẵn tên mình, cùng với chiếc nhẫn ngọc năm xưa hắn tặng nàng khi đính ước.

Cùng lúc đó, tại một phòng nghị sự bí mật của bộ Hộ, không khí còn đóng băng hơn cả thời tiết ngoài trời. Nến sáp đỏ đã đốt đến cây thứ ba, khói xộc lên trần nhà cay xè mắt. Chu Hằng ngồi giữa đống công văn cao ngập đầu, gương mặt tuấn tú tràn đầy tơ máu, đôi lông mày kiếm nhíu chặt đến mức tạo thành một vệt hằn sâu giữa trán.

Một vụ gian lận thuế muối cực kỳ lớn ở vùng Hoài Nam vừa bị Ngự sử đài phanh phui. Đằng sau những con số thất thoát hàng vạn lượng bạc ấy, mũi nhọn đang chỉ thẳng vào Mộ Thượng thư, người đã nâng đỡ Chu Hằng. Là vị quan dưới quyền trực tiếp quản lý sổ sách thuế khóa của Kinh kỳ, Chu Hằng biết rõ, nếu Mộ Thượng thư ngã xuống, chiếc ghế Lang trung của hắn chưa kịp ngồi ấm chỗ cũng sẽ bay mất, thậm chí cái đầu trên cổ cũng khó giữ.

Hắn phải dùng cả một tháng nay để làm giả, hợp thức hóa các con số, chuyển dịch dòng tiền từ danh mục này sang danh mục khác để gột rửa sạch sẽ những vết nhơ cho phủ Thượng thư.

“Chu đại nhân, đây là thư từ phủ Thượng thư gửi tới.” Đồng liêu Uông Tử Hành ở bộ Hộ mật báo bước vào, lén lút nhét vào ống tay áo hắn một phong thư nhỏ.

Chu Hằng vội vàng mở ra xem. Bên trong không phải là mật lệnh của Thượng thư, mà là vài dòng chữ thanh nhã của Mộ Dao: “Trận tuyết Kinh kỳ lạnh lẽo, Thanh Hà tự tay nấu canh sâm an thần, đợi đại nhân ghé qua.”

Khóe môi Chu Hằng khẽ cong lên một đường cong phức tạp, vừa có sự đắc ý của một nam nhân được tiểu thư khuê các trọng vọng, vừa có sự nhẹ nhõm của kẻ biết mình đã chọn đúng thuyền để bám. Hắn gấp phong thư lại, tiện tay lật sang chồng giấy tờ khác trên bàn.

Ngay bên dưới phong thư ấy, có một bức thư bằng giấy thô do phủ Kim Lăng gửi lên từ nửa tháng trước. Đó là thư của nhạc phụ hắn, cha của Khương Nhược Vi. Ông nói rằng cửa hàng vải của Chu gia ở quê nhà đang bị tên Huyện lệnh mới lên nhậm chức chèn ép, lấy cớ thu thuế mùa đông để tịch thu phân nửa hàng hóa, muốn nhờ con rể ở Kinh thành viết một bức thư tay nói đỡ một tiếng với tri phủ Kim Lăng.

Chu Hằng nhìn bức thư thô kệch ấy, trong lòng đột nhiên dâng lên một sự phiền muộn tột cùng.

“Lại là chuyện vải vóc vặt vãnh này.” 

Hắn lầm bầm, sắc mặt lộ rõ vẻ khinh miệt. Hắn đang phải cân não với việc sống chết của một vị nhất phẩm tể chấp, đang tính toán đại cục của giang sơn vương triều, vậy mà người nhà của Khương Nhược Vi lại chỉ biết mang những chuyện tranh giành vài đồng bạc lẻ ở xó xỉnh quê nhà ra để làm phiền hắn. Hắn vo tròn bức thư của nhạc phụ, thẳng tay ném vào chiếc lò sưởi đang bập bùng lửa đỏ bên cạnh. Bức thư cháy thành tro trong nháy mắt, giống như cách hắn âm thầm gạt bỏ gốc gác quê mùa của mình ra khỏi trí nhớ.

“Đại nhân, đêm nay người có về phủ không?” Gã sai vặt rụt rè hỏi ngoài cửa.

“Không về. Nói với phu nhân, bộ Hộ có chính vụ khẩn cấp, ta ngủ lại sảnh ngoài.” 

Chu Hằng không ngẩng đầu, tay tiếp tục mài mực. Hắn nghĩ, dẫu sao Khương Nhược Vi cũng chỉ là một phụ nhân hậu trạch, sống ở trong viện phía tây vài ngày, cho ăn ngon mặc đẹp là đủ bổn phận, không cần phải tốn thời gian giải thích.

Sáng hôm sau, trận tuyết cuối cùng cũng ngừng rơi. Kinh thành chìm trong một màu trắng xóa. Chu Hằng mệt mỏi bước xuống kiệu, tấm áo bào màu xanh sẫm thêu hạc chỉ bạc vương đầy hơi lạnh. Hắn đẩy cửa bước vào phủ, định bụng về thư phòng chợp mắt một lát. Nhưng không hiểu sao, bầu không khí trong phủ đệ hôm nay im ắng đến kỳ lạ. Hạ nhân đứng hai bên hành lang đều cúi gục đầu, không ai dám nhìn thẳng vào mắt hắn.

Hắn nhướng mày, sải bước đi về phía viện phía tây. Hắn nghĩ chắc Khương Nhược Vi lại đang giận dỗi chuyện một tháng qua hắn không hề bước chân vào phòng nàng.

“Vi Vi, ta biết nàng giận dỗi, nhưng chuyện triều đình…”

Lời nói của hắn nghẹn ứ nơi cổ họng khi cánh cửa phòng chính viện phía tây bị đẩy ra. Căn phòng trống rỗng. Lò sưởi đã tắt lịm, lạnh ngắt như một hầm băng. Trên chiếc giường gấm lớn, chăn gấm được xếp gọn gàng vuông vức, không còn một hơi ấm nào sót lại. Những bức rèm nhung thêu hoa, những chiếc bình hoa quý giá mà hắn từng mang từ ngoài về trang trí, tất cả đều nằm nguyên vị trí, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của người phụ nữ và nha hoàn thân cận của nàng đâu.

Trên chiếc bàn gỗ đặt ở giữa phòng, hai vật thể nằm trơ trọi dưới ánh mặt trời mùa đông nhợt nhạt. Một tờ thư ly hôn bằng giấy tuyên thành trắng muốt, nét chữ thanh tú, cứng cỏi của Khương Nhược Vi hiện lên vô cùng rõ ràng. Góc dưới cùng, tên của nàng đã được ký sẵn bằng một vệt mực đen dứt khoát. Bên cạnh tờ giấy là chiếc nhẫn ngọc thô ráp, xỉn màu. Đó là món đồ mà hắn đã phải nhịn ăn nửa tháng, bán đi ba rương sách cũ vào năm mười bảy tuổi để mua tặng nàng làm vật đính ước dưới gốc cây liễu vùng Giang Nam.

Chu Hằng bước lại gần, ngón tay hắn khẽ run lên, hắn cầm tờ thư ly hôn lên đọc. Từng chữ từng câu bên trong không có một lời oán thán phu quân phụ bạc, không có một câu trách móc chuyện Mộ Dao, nàng chỉ viết: 

“Mười năm duyên cạn, tình nghĩa đã tận. Từ nay về sau, đại nhân mưu cầu tiền đồ vạn dặm, ta quay về chốn sông nước yên bình. Hai bên tự nguyện ly hôn, từ nay về sau không oán thán.”

“Rầm!”

Chu Hằng đập mạnh tay xuống bàn, chiếc bàn gỗ phát ra một tiếng r*n r* trầm đục. Gương mặt hắn từ tái bệch chuyển sang đỏ vì tức giận. Sự kiêu ngạo, tự phụ của một nam nhân quyền quý, một thanh niên tài tuấn được cả kinh kỳ ca tụng bị tờ giấy này giẫm đạp không thương tiếc.

“Ai cho nàng cái quyền này?” 

Hắn gầm lên, giọng nói vang vọng trong căn phòng trống rỗng. 

“Một nữ tử xuất thân từ thương hộ, không có gia tộc chống lưng, rời khỏi Chu phủ này nàng lấy gì để sống? Nàng nghĩ nàng là ai mà dám chủ động viết thư ly hôn với ta?”

Hắn vò nát tờ thư ly hôn thành một cục nhàu nhĩ, ném thẳng xuống nền đất rồi dẫm chân lên thật mạnh. Hắn quay sang quát lớn với quản gia đang quỳ run rẩy ngoài cửa.

“Cấm tất cả mọi người không được đi tìm nàng! Không được gửi cho nàng một xu một cắc nào từ Chu phủ! Ta muốn xem xem, một nữ nhân không có một đồng hộ thân, chịu khổ được mấy ngày ở cái đất kinh thành lạnh giá này! Ba ngày sau, nàng sẽ phải tự khắc bò về đây quỳ gối cầu xin ta tha thứ!”

Hắn tự phụ nghĩ rằng Khương Nhược Vi chỉ đang dùng thủ đoạn lạt mềm buộc chặt của những phụ nữ thô thiển để ép hắn phải cúi đầu, để ép hắn phải chọn nàng thay vì phủ Thượng thư. Hắn không biết, và cũng không muốn tin, rằng một người phụ nữ khi đã chọn cách để lại chiếc nhẫn đính ước, nghĩa là nàng đã hoàn toàn cắt đứt mọi thứ liên quan đến hắn trong cuộc đời mình.