Mưa Bụi

Chương 4: Hết

Ba ngày trôi qua. Rồi mười ngày trôi qua. Khương Nhược Vi không hề xuất hiện, cũng không có bất kỳ tin tức nào truyền về.

Chu Hằng vẫn bận rộn đi đi về về trên quan trường. Vụ án thuế muối vùng Hoài Nam nhờ có sự dụng công xóa dấu vết của hắn mà sóng yên biển lặng, Mộ Thượng thư bình an vô sự qua màn kiểm tra của Ngự sử đài. Ngày lĩnh thưởng, Thượng thư đại nhân ở trên triều đã dành cho Chu Hằng một cái vỗ vai đầy ngụ ý, hứa hẹn đến kỳ đại khảo mùa xuân tới sẽ đưa hắn thẳng lên ghế Thị lang bộ Hộ.

Tiền đồ của hắn đang ở đỉnh cao rực rỡ nhất. Hắn xuất hiện tại các buổi yến tiệc của phủ Thượng thư với phong thái của một người chiến thắng. Mộ Dao đứng bên cạnh hắn, ánh mắt ngưỡng mộ và tình ý không còn thèm che giấu trước mặt quan quyến kinh kỳ. Ai ai cũng chúc tụng Chu đại nhân sắp đón tin mừng, việc người vợ tào khang rời đi bỗng chốc trở thành một cái cớ hoàn hảo để hắn “môn đăng hộ đối” với một đại thế gia.

Nhưng cuộc sống vinh hoa ấy của Chu Hằng lại bắt đầu sụp đổ một cách âm thầm, từ những vết rạn vi mô nhất trong sinh hoạt hàng ngày mà chính hắn cũng không thể kiểm soát.

Đêm mùng mười tháng chạp, Kinh thành lại đổ một trận mưa tuyết lớn. Chu Hằng sau khi uống đến ba tuần rượu tại Vọng Giang Lâu cùng các đồng liêu bộ Lại, say khướt bước xuống kiệu. Hắn loạng choạng đẩy cửa bước vào phòng chính của tiền sảnh, người đầy mùi rượu nồng nặc và mùi hương xa xỉ ở chốn lầu các.

Hắn ngồi xuống chiếc ghế bành, đầu đau như búa bổ, theo thói quen mười năm qua, hắn khàn giọng gọi vào khoảng không tối om:

“Vi Vi… nước ấm… đầu ta đau quá…”

Không có tiếng người đáp lại. Chỉ có tiếng gió tuyết đập vào cửa sổ lạnh ngắt. Một nha hoàn mới dọn vào viện run rẩy bưng lên một chén canh giải rượu bằng sứ thanh hoa. Chu Hằng bực bội nhận lấy, nhấp một ngụm, nhưng ngay lập tức bừng tỉnh, nhổ mạnh ngụm nước xuống đất, chiếc chén sứ bị hắn ném mạnh vào vách tường vỡ tan tành thành từng mảnh nhỏ.

“Canh nấu kiểu gì thế này?” Hắn nổi trận lôi đình, lồng ngực phập phồng kịch liệt. “Đắng ngắt! Trần bì chưa sao vàng, lại còn bỏ quá nhiều cát cánh! Các ngươi muốn làm ta cào ruột mà chết sao?”

Nha hoàn hoảng sợ khóc nấc lên, quỳ sụp xuống sàn nhà: “Đại gia bớt giận! Nô tỳ… nô tỳ đã nấu đúng công thức của nhà bếp, đúng liều lượng thuốc bốc từ tiệm…”

Quản gia đứng bên cạnh, nhìn những mảnh vỡ của chén sứ trên sàn, khẽ thở dài thườn thượt, tiến lên một bước nói nhỏ:

“Đại gia… người bớt giận. Mười năm qua, chén canh giải rượu của người chưa bao giờ được nấu theo công thức cố định của nhà bếp. Phu nhân luôn tự tay ngồi canh bếp vào canh ba, nhìn sắc mặt người say nhiều hay say ít vào ngày hôm đó để tự tay gia giảm vị thuốc. Người say nhiều thì nàng bỏ thêm chút mật ong rừng Giang Nam, người mệt mỏi thì nàng sao vàng trần bì để giảm vị đắng… Hạ nhân trong phủ, không thể biết được những điều đó.”

Chu Hằng khựng lại, ngón tay đang day thái dương đột ngột cứng đờ. Hắn nhìn vệt nước thuốc màu nâu thẫm đang loang lổ trên mặt sàn gạch lạnh lẽo, một cảm giác nhức nhối, trống rỗng từ sâu trong lòng ngực đột ngột nhói lên, đau đớn đến mức khiến hắn phải hít một hơi thật sâu.

Hắn xua tay cho hạ nhân lui ra, một mình lảo đảo bước về phía chiếc tủ gỗ lớn ở góc phòng để tìm một chiếc áo khoác dày lót bông. Khi hắn kéo cánh cửa tủ ra, một mùi hương bồ kết thanh khiết, dịu nhẹ đặc trưng trên người Khương Nhược Vi thoang thoảng bay ra, xộc thẳng vào cánh mũi hắn, hoàn toàn đè bẹp mùi hương nồng nặc của những bàn tiệc chốn quan trường.

Bên trong tủ, hàng chục bộ quan phục, thường phục của hắn được xếp đặt ngay ngắn, vuông vức theo từng lớp. Trên mỗi chiếc áo, đều có dán một nhãn giấy nhỏ, viết bằng nét chữ thanh tú quen thuộc của nàng.

“Áo bào xanh sẫm thêu hạc này lót bông ba lớp, dùng cho những ngày kinh kỳ có tuyết rơi mạnh, nhớ mặc thêm áo lót mỏng bên trong.”

“Áo thường phục màu trúc xanh này vải thoáng mát, dùng cho những ngày chầu dài mùa xuân, dễ đổ mồ hôi.”

“Hộp gỗ góc trái có sẵn thuốc viên trị đau dạ dày, trước khi vào tiệc rượu thì dùng một viên với nước ấm.”

Chu Hằng sờ tay vào những dòng chữ đó. Đầu ngón tay hắn chạm vào lớp giấy lạnh ngắt, nhưng từng chữ từng câu lại giống như những chiếc kim nhỏ thọc sâu vào gân cốt hắn.

Nàng chưa bao giờ làm ầm ĩ. Nàng chuẩn bị cho sự rời đi của mình một cách chu đáo, tỉ mỉ và tĩnh lặng đến mức tàn nhẫn. Nàng để lại cho hắn một phủ đệ nguy nga đầy đủ về mặt vật chất, để lại những cuốn sổ sách không thiếu một xu, nhưng lại rút đi toàn bộ hơi ấm, toàn bộ linh hồn của ngôi nhà này.

Hắn từng tự phụ nghĩ rằng mình có quyền lực, có tiền bạc thì có thể dễ dàng tìm được hàng vạn nữ nhân chu đáo hơn nàng, hầu hạ hắn tốt hơn nàng. Nhưng đến tận đêm nay hắn mới hoàn toàn nhận ra rằng, trên thế gian này, Mộ Dao có thể cùng hắn đàm đạo thơ ca giang sơn, nhưng sẽ không có một ai bằng lòng thức trắng đến canh ba, dùng sự tinh tế tột cùng của mình trong suốt gần mười năm chỉ để ghi nhớ từng vcơn đau dạ dày, từng thói quen nhỏ nhặt nhất của hắn như Khương Nhược Vi.

Chứng mất ngủ của Chu Hằng bắt đầu từ đêm đó. Mỗi khi hắn nhắm mắt lại trong căn phòng rộng lớn, hắn lại ngửi thấy mùi hương bồ kết thanh khiết của nàng, nhưng khi vươn tay ra, giường bên cạnh chỉ là một khoảng trống lạnh ngắt đến ghê người.

---

Tháng giêng năm Cảnh Hoà thứ tám, một sự biến động kinh hoàng xảy ra trên chính trường kinh kỳ, triệt để đập tan giấc mộng vinh hoa của Chu Hằng.

Vụ án thuế muối vùng Hoài Nam tưởng chừng đã êm đẹp, bất ngờ bị phe Tả thừa tướng lật lại từ một hướng không ai ngờ tới. Họ không đánh vào Mộ Thượng thư, mà đánh trực tiếp vào người quản lý sổ sách trực tiếp là Lang trung bộ Hộ Chu Hằng. Một bản tấu bí mật kèm theo những chứng cứ làm giả sổ sách, dịch chuyển ngân khố do chính tay Chu Hằng viết năm xưa bị đệ thẳng lên ngự tiền.

“Chu Hằng! Ngươi gan to bằng trời! Sổ sách thuế khóa Kinh kỳ là mạch máu của quốc gia, ngươi dám vì lợi ích cá nhân mà làm giả sổ sách hơn mười vạn lượng bạc sao?” 

Giọng nói của Hoàng đế như sấm truyền giữa điện Kim Loan, làm rung chuyển cả những hàng cột rồng mạ vàng. Chu Hằng quỳ rạp trên sàn điện lớn, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng làm ướt sũng lớp áo lót bên trong. Hắn run rẩy ngẩng đầu nhìn về phía hàng quan viên đứng đầu có Mộ Thượng thư đang đứng. Hắn dùng ánh mắt cầu cứu, khẩn khoản nhìn vị nhạc phụ tương lai mà hắn đã dùng cả danh tiếng và lương tâm để bảo vệ.

Nhưng lúc này Mộ Thượng thư lại cụp mắt nhìn mũi giày của mình, gương mặt già nua không một chút cảm xúc. Khi Hoàng đế quay sang hỏi ý kiến, Thượng thư đại nhân lập tức bước ra, chắp tay, giọng điệu vô cùng kiên định.

“Bệ hạ bớt giận. Chu Hằng làm giả sổ sách là hành vi cá nhân của hắn, vi phạm pháp luật triều đình. Dẫu thần có lòng coi trọng tài năng của hắn, cũng tuyệt đối không thể bao che cho kẻ gian thần làm hại quốc gia. Xin bệ hạ nghiêm trị theo luật pháp!”

“Uỳnh!”

Một tiếng sét đánh ngang tai Chu Hằng. Hắn nhìn lão già đứng đứng phía trên, nhìn nụ cười nhạt nhẽo, xa cách của những đồng liêu từng ngày ngày nâng ly chúc tụng hắn tại Vọng Giang Lâu. Hóa ra, trong mắt những con cáo già quan trường đại thế gia, dẫu một thư sinh nghèo vùng Giang Nam như hắn có leo đến vị trí Lang trung, cũng chỉ là một con cờ thí mạng không hơn không kém. Khi có lợi, họ ban phát cho hắn chút thể diện, chút hứa hẹn về tương lai, khi có biến cố xảy ra, họ sẵn sàng đẩy hắn ra đầu sóng ngọn gió để bảo toàn vẹn toàn cho gia tộc của mình. Chu Hằng còn luôn tự phụ mà nghĩ rằng một kẻ xuất thân nghèo khó như hắn leo lên được vị trí hiện tại sẽ khiến người người ngưỡng mộ, nhưng làm sao có thể không có đánh đổi. Hắn leo lên chiếc thuyền nhà họ Mộ, buộc phải dốc toàn tâm toàn lực, kể cả danh tiếng, nhưng cũng không ngờ lại bao gồm cả mạng sống của hắn. Đến đứa con không phải của mình mà hắn còn chuyên tâm bảo vệ đến thế, cuối cùng vẫn bị đá đi như một con chó trông nhà mà thôi.

Nhờ có sự dàn xếp ngầm của nhà họ Mộ để tránh dây dưa sâu hơn, Chu Hằng không bị khép tội chết, nhưng hắn bị l*t s*ch quan phục, bãi chức Lang trung, đình chỉ mọi công vụ để chờ điều tra.

Bước ra khỏi cửa cung giữa trời mưa tuyết mịt mù, Chu Hằng loạng choạng bước đi như một cái xác không hồn. Không còn kiệu lớn chờ sẵn, không còn hạ nhân vây quanh che ô. Hắn đứng một mình dưới chân tường thành cao vút, tuyết lạnh phủ đầy đầu, rơi đầy trên vai áo. Hắn đột nhiên bật cười, tiếng cười khản đặc, điên cuồng hòa cùng tiếng gió rít qua khe thành. Hắn đã từ bỏ người vợ tào khang, từ bỏ lòng tự trọng của một thư sinh để đổi lấy cái danh vị phù phiếm này, để rồi cuối cùng nhận lại một gáo nước lạnh ngắt của hiện thực chốn quan trường.

Đêm đó, Chu Hằng ngã bệnh. Cơn sốt cao ập đến như một trận lũ quét qua cơ thể đã kiệt quệ về cả thể xác lẫn tinh thần của hắn. Hắn nằm trên chiếc giường gấm lớn ở phòng chính, mê man suốt ba ngày ba đêm, miệng liên tục nói lảm nhảm những lời vô nghĩa.

Trong cơn ác mộng dai dẳng kéo dài, hắn thấy mình quay trở lại năm hai mươi tuổi. Năm ấy, mùa đông Kinh kỳ cũng lạnh như thế này. Khương Nhược Vi bị cảm hàn sốt cao đến mức mê man, mặt cắt không còn giọt máu. Hắn không có một xu dính túi, đôi giày vải rách bươm giẫm lên lớp băng tuyết sắc lẹm làm bàn chân chảy máu ròng ròng, nhuộm đỏ cả một vệt tuyết trắng. Hắn cõng nàng trên lưng, đi bộ suốt mười dặm đường đêm để tìm đến y quán duy nhất còn mở cửa.

Khi đó, đôi bàn tay hắn lạnh ngắt bám chặt lấy chân nàng, hắn vừa chạy vừa khóc, thề với trời đất rằng: 

“Vi Vi, nàng đừng bỏ ta, sau này dẫu ta có phải đổi mạng, cũng tuyệt đối không để nàng phải chịu bất kì ấm ức nào.”

“Vi Vi… Vi Vi… Ta sai rồi… Đừng bỏ ta…” 

Chu Hằng cào xé tấm chăn gấm thêu chỉ vàng, hai mắt nhắm nghiền nhưng nước mắt nóng hổi liên tục trào ra từ khóe mắt, thấm đẫm chiếc gối lụa. Khi đó hắn nghèo khó nhất, nhưng trong lòng hắn tràn ngập nguồn sống rực rỡ nhất, vì hắn biết mình sống vì ai, cố gắng vì điều gì. Còn hiện tại, hắn có phủ đệ nguy nga, nhưng xung quanh hắn chỉ có sự lạnh lẽo đến ghê người của lòng người phản trắc.

Ngày thứ tư, Chu Hằng mở đôi mắt đỏ hoe, tiều tụy. Mộ Dao ngồi bên giường hắn. Nàng mặc bộ áo choàng lông cáo sang trọng, gương mặt thanh tú hiện lên một sự mệt mỏi và một chút lo lắng khách sáo. Thấy hắn tỉnh lại, nàng ta thở phào một tiếng, đưa chén thuốc ấm lại gần.

“Chu đại nhân, ngài tỉnh rồi? Cha ta đã dàn xếp xong với bên Ngự sử đài, ngài sẽ không bị tịch thu tài sản, chỉ bị bãi chức về làm thường dân thôi. Đây… đây cũng là kết quả tốt nhất rồi.”

Nàng nói bằng giọng điệu ban ơn. Nhưng Chu Hằng nhìn nàng ta, nhìn chiếc áo choàng lông cáo lộng lẫy kia, trong lòng chỉ dâng lên một sự chán ghét tột cùng. Hắn nhìn thấy trong mắt Mộ Dao không phải là sự xót xa cho thân thể hắn, mà là sự nhẹ nhõm khi con cờ của gia tộc họ đã được giải quyết êm đẹp, không còn nguy cơ cắn ngược lại chủ nhân.

“Mộ tiểu thư, đa tạ phủ Thượng thư đã giơ cao đánh khẽ.” 

Giọng Chu Hằng khàn đặc, lạnh lùng và xa cách đến đáng sợ. Hắn nhẹ nhàng nhưng dứt khoát đẩy chén thuốc ra.

“Mời về cho. Từ nay về sau, Chu mỗ chỉ là một dân thường áo vải, không dám làm phiền đến thiên kim nhà Thượng thư đại nhân nữa.”

Mộ Dao khựng lại, sắc mặt hơi biến đổi, nàng ta mím môi, đứng dậy rời đi không một lời níu kéo. Mối quan hệ dựa trên lợi ích, khi lợi ích không còn, sự rời đi cũng nhanh chóng và dứt khoát như cách nó bắt đầu.

Chu Hằng ngồi dậy trên giường, việc đầu tiên hắn làm là dùng đôi bàn tay gầy guộc, run rẩy nhặt tờ thư ly hôn từng bị hắn vò nát dưới gầm giường lên. Hắn tỉ mỉ dùng lòng bàn tay vuốt phẳng phiu lại từng nếp gấp, từng vết nhăn trên giấy. Hắn nhìn chiếc nhẫn ngọc rẻ tiền trên bàn, nước mắt lại rơi xuống làm nhòe đi nét mực đề chữ “Khương Nhược Vi”.

Rốt cuộc hắn cũng hiểu ra một sự thật tàn nhẫn nhất: Hắn đã dùng thứ quý giá nhất, chân thành nhất trong cuộc đời mình để đổi lấy một đống gạch đá phù phiếm của chốn danh lợi quan trường, và giờ đây, đống gạch đá đó đang sụp đổ, đè nát chính linh hồn hắn thành từng mảnh vụn.

---

Tháng ba năm Cảnh Hoà thứ tám, mưa xuân vùng Giang Nam rả rích nhuộm xanh những rặng liễu bên bờ sông, mang theo hơi thở ấm áp, ngọt ngào của đất trời phương Nam.

Chu Hằng cưỡi một con ngựa gầy, đi dọc theo con đường đất nhỏ dẫn vào ngôi làng ngoại ô phủ Kim Lăng. Hắn không còn mặc bộ quan phục thêu hạc chỉ bạc lộng lẫy ngày nào, trên người chỉ là một bộ thường phục bằng vải lụa màu trúc xanh cũ kỹ, chính là màu sắc mà ngày xưa Khương Nhược Vi thích nhất. Gương mặt hắn gầy sọp, hai hốc mắt sâu hoắm, bộ râu ria lởm chởm không buồn cạo, nhưng ánh mắt hắn lại chứa đựng một sự cố chấp, điên cuồng đến đáng sợ. Hắn đã bán toàn bộ phủ đệ ở Kinh kỳ, trả lại tiền cho những kẻ cần trả, một mình một ngựa tìm về nơi đây.

Hắn dừng ngựa trước hàng rào tre của một ngôi nhà ngói ba gian đơn sơ nằm cuối làng. Trong sân, mười mấy đứa trẻ nghèo mặc áo vá víu đang ngồi vây quanh một chiếc bàn gỗ dài, chăm chú nhìn lên tấm bảng nhỏ. Khương Nhược Vi đứng dưới hiên nhà, mặc một bộ váy vải bố màu xanh hồ thủy vô cùng đơn giản, mái tóc đen nhánh được búi gọn bằng một cây trâm gỗ mộc mạc.

Nét u uất, nhợt nhạt và mệt mỏi trên gương mặt nàng khi ở Kinh thành đã hoàn toàn biến mất. Dưới ánh nắng xuân ấm áp của Giang Nam, làn da nàng hồng hào, đôi mắt trong vắt như nước hồ thu, nụ cười trên môi nàng rạng rỡ và thanh thản tựa như đóa lan rừng vừa bừng nở sau cơn mưa. Nàng đang cúi người, kiên nhẫn cầm tay một đứa trẻ nhỏ để sửa từng nét chữ.

Chu Hằng đứng ngoài hàng rào tre, nhìn cảnh tượng đó, lồng ngực hắn thắt lại như bị ai bóp nghẹt, đau đến mức không thể thở nổi.

Một cú đánh tâm lý tàn nhẫn tột cùng giáng thẳng vào sự tự tôn cuối cùng của hắn. Hắn từng nghĩ, sau khi rời xa vinh hoa phú quý của hắn, nàng sẽ phải sống khổ sở, sẽ phải hối hận vì quyết định bồng bột của mình. Nhưng hiện thực trước mắt nói cho hắn biết rằng nàng sống rất tốt, thậm chí còn tốt hơn vạn lần khi ở cạnh hắn. Sự rời đi của nàng không phải là một màn giận dỗi, mà là một cuộc t,ự s,á,t để tái sinh, giải thoát bản thân khỏi vũng lầy ngột ngạt mang tên Chu phủ. Người thực sự đau khổ, người đang phải nhận báo ứng dằn vặt ở đây hoàn toàn không phải là nàng, mà là chính hắn.

Hắn đẩy cánh cửa tre bước vào, tiếng động làm đám trẻ con ngơ ngác ngẩng đầu lên nhìn. Khương Nhược Vi cũng thong thả quay người lại.

Nhìn thấy Chu Hằng đứng đó, bụi đường bám đầy gấu áo, sắc mặt tiều tụy, đôi mắt đỏ hoe ngập tràn sự khẩn cầu nhìn mình, gương mặt nàng hoàn toàn không có một chút kinh ngạc, oán hận hay xúc động nào. Ánh mắt nàng nhìn hắn tĩnh lặng như mặt giếng cổ mười năm qua. Nàng quay sang dặn dò đám trẻ tự học, rồi chậm rãi bước xuống bậc thềm đá, đứng cách hắn đúng ba bước chân, bằng đúng khoảng cách hắn và Mộ Dao từng đứng trong gian thư phòng ngày ấy.

“Chu đại nhân, đường xá xa xôi từ Kinh kỳ đến tận chốn thôn quê này, ngài có việc gì sao?” Giọng nàng bình thản, nhàn nhạt như gió thoảng qua mặt hôg.

Tiếng “Chu đại nhân” của nàng thốt ra một cách tự nhiên, nhưng đối với Chu Hằng, nó lại như một nhát dao hoàn toàn cắt đứt chút hy vọng cuối cùng của hắn. Nàng không còn gọi hắn là A Hằng, không còn xem hắn là phu quân nữa rồi.

“Vi Vi…” Giọng Chu Hằng nghẹn ngào, hắn quỳ sụp xuống trước mặt nàng, hai gối giẫm lên lớp bùn đất ẩm ướt của sân nhà, mặc cho bộ y phục màu trúc xanh bị lấm bẩn bùn đất. Hắn khóc, những giọt nước mắt hối hận muộn màng chảy ròng ròng xuống gương mặt tiều tụy.

“Ta sai rồi, Vi Vi… Ta đã nhìn rõ tất cả rồi. Cái gọi là quan trường, cái gọi là tiền đồ vinh hoa đều là giả dối, đều là một lũ phản trắc. Ta đã bị bãi chức, ta không còn là Lang trung bộ Hộ nữa rồi. Ta đã bán hết phủ đệ ở Kinh kỳ để về đây với nàng. Theo ta trở về vùng quê này, chúng ta làm một đôi phu thê bình thường, trồng rau nuôi gà như ngày xưa, có được không?”

Hắn quỳ ở đó, một cựu quan viên triều đình dập đầu trước một nữ tử thương hộ, đưa ra thứ mà hắn nghĩ là sự hy sinh lớn nhất của một nam nhân: từ bỏ Kinh thành, từ bỏ tham vọng để quay về.

Nhưng Khương Nhược Vi chỉ cúi đầu nhìn hắn, trong đôi mắt trong vắt của nàng không có lấy một chút cảm động nào, không có nước mắt, chỉ có một sự thương cảm sâu sắc dành cho một kẻ đến tận bây giờ vẫn chưa thực sự hiểu ra mình đã sai ở đâu.

“Chu Hằng, huynh đứng lên đi, đừng để đám trẻ nhìn vào.” 

Nàng khẽ thở dài, hai tay buông thõng bên sườn, tuyệt nhiên không hề đưa ra để đỡ hắn dù chỉ một chút.

“Huynh nói huynh từ bỏ Kinh thành để về đây vì ta, nhưng thực chất huynh chỉ đang trốn chạy khỏi sự thất bại của chính mình trên quan trường mà thôi. Huynh từ quan, bán phủ đệ vì huynh đã bị nhà họ Mộ vứt bỏ, vì huynh không còn chỗ đứng ở Kinh kỳ nữa, chứ không phải vì huynh thật sự muốn quay lại gian nhà ngói này để sống đời bình thường với Khương Nhược Vi ta.”

Lời nói của nàng bình lặng nhưng sắc bén như một lưỡi dao, l*t tr*n toàn bộ lớp vỏ bọc ích kỷ, tự lừa dối bản thân của hắn. Chu Hằng ngẩn người, gương mặt thảm hại trở nên trắng bệch không còn một giọt máu.

“Huynh là người đầy hoài bão và kiêu ngạo, Chu Hằng.” 

Khương Nhược Vi chậm rãi bước qua người hắn, mắt nhìn về phía dòng sông xanh biếc trước cửa. 

“Mười năm trước, huynh cõng ta đi trong đêm tuyết vì lúc đó thế giới của huynh nhỏ bé, huynh chỉ có một mình ta là tài sản lớn nhất. Còn hiện tại, huynh đã nếm qua hương vị của quyền lực, của sự trọng vọng chốn Kinh kỳ. Dù huynh có ép bản thân ở lại ngôi làng này, mỗi đêm nghe tiếng ếch kêu, nghe tiếng đọc sách của lũ trẻ, huynh vẫn sẽ nhớ về ánh đèn rực rỡ ở Vọng Giang Lâu, vẫn sẽ tiếc nuối chiếc ghế Thị lang mà huynh suýt chút nữa đã có thể chạm tới. Rồi huynh sẽ sinh ra oán hận, oán hận ta là gánh nặng kéo lùi bước chân mình, oán hận cuộc sống thanh bần này đã phá huỷ tài năng của mình. Ta không muốn mười năm tình nghĩa thuở hàn vi, cuối cùng lại biến thành sự dày vò, oán hận lẫn nhau cho đến chết.”

Nàng lấy ra tờ thư ly hôn cũ đã được vuốt phẳng phiu từ trong ống tay áo, nhẹ nhàng đặt vào bàn tay đang run rẩy, lạnh ngắt của hắn.

“Ký tên vào đây đi, Chu Hằng. Hãy giữ lại chút tôn nghiêm và thể diện cuối cùng cho mối tình mười năm của chúng ta. Huynh quay về Kinh kỳ hay đi đâu thì tuỳ, tiếp tục dùng tài năng của huynh để mưu cầu một đại cục khác. Còn ta ở đây, làm một người dạy trẻ bình thường. Giữa ta và huynh… đến đây là chấm dứt rồi.”

Mưa xuân Giang Nam bắt đầu nặng hạt hơn, giăng một lớp màn sương mờ ảo che khuất lối đi ngoài hàng rào tre.

Khương Nhược Vi quay người, thong thả bước lên bậc thềm đá, đi vào trong nhà. Cánh cửa gỗ “cạch” một tiếng khép lại một cách nhẹ nhàng nhưng dứt khoát. Tiếng đọc sách trong trẻo của đám trẻ nhỏ lại vang lên đều đặn bên trong hiên nhà, hoàn toàn gạt tên hắn ra khỏi thế giới mới vô cùng yên bình của nàng.

Chu Hằng quỳ trơ trọi giữa sân, nước mưa xuân lành lạnh hòa lẫn nước mắt chảy dài xuống cằm. Hắn nhìn tờ thư ly hôn và chiếc nhẫn ngọc trong lòng bàn tay, rốt cuộc cũng hiểu ra một chân lý tàn nhẫn nhất trên đời. Có những thứ một khi đã rạn nứt thì vĩnh viễn không bao giờ có thể hàn gắn, và có những người một khi đã quay lưng bước đi, nghĩa là họ đã đem theo toàn bộ tình yêu của mình chôn vùi vào quá khứ, tuyệt đối không bao giờ ngoảnh đầu lại nữa.

Hắn loạng choạng đứng dậy, dắt con ngựa gầy đi vào màn mưa mờ mịt của Giang Nam, mang theo tờ giấy ly hôn và nỗi cô độc, hối hận sẽ gặm nhấm linh hồn hắn cho đến hơi thở cuối cùng.

(Kết thúc)