Tháng hai âm lịch, cuối cùng cái lạnh của mùa đông cũng chịu rút lui, nhường chỗ cho những tia nắng xuân ấm áp đầu tiên. Hoa mai trong vườn Chu phủ đã rụng gần hết, thay vào đó là những chồi non màu xanh biếc bắt đầu nhú ra trên những cành cây khẳng khiu.

Hôm nay là ngày mùng mười tháng hai. Đó là ngày sinh nhật lần thứ hai mươi bốn của Khương Nhược Vi.

Từ sáng sớm, Tiểu Hạnh đã háo hức chạy ra chạy vào, chuẩn bị một bàn thức ăn toàn những món Khương Nhược Vi thích từ nhỏ, nào là bánh trôi ngọt lịm hương hoa quế, cá sốt chua ngọt kiểu Giang Nam. Nàng không quên cắm một bình hoa nghênh xuân rực rỡ ở chiếc bàn cạnh cửa sổ phía đông, nơi mà Khương Nhược Vi thường ngồi đón ánh nắng.

“Thiếu phu nhân, hôm nay chắc chắn đại gia sẽ về sớm. Người xem, nô tỳ đã dặn nhà bếp chuẩn bị sẵn cả bình rượu nho mà đại gia thích nhất rồi.” 

Tiểu Hạnh vừa lau chùi bình hoa vừa hớn hở nói. Khương Nhược Vi ngồi bên bàn trang điểm, thong thả chải tóc, gương mặt không có mấy phần gợn sóng.

“Hôm nay trong Bộ có đợt kiểm tra ngân khố cuối năm, chắc hẳn chàng sẽ bận.”

Lời nói của nàng như một lời tiên tri tàn nhẫn. Mặt trời từ từ mọc lên rồi lại ngả về tây, ánh hoàng hôn nhuộm đỏ cả một góc sân, nhưng chiếc xe ngựa của Chu Hằng vẫn chưa thấy bóng dáng. Bàn thức ăn trên bàn từ nóng hổi chuyển sang nguội ngắt, lớp mỡ đông lại thành một mảng trắng bệch, giống như một sự chế giễu thầm lặng.

Mãi đến canh hai, khi cả Kinh thành đã chìm vào giấc ngủ, tiếng gõ cửa viện mới vang lên phá vỡ sự tĩnh mịch. Chu Hằng bước vào phòng. Trên người hắn mang theo một mùi rượu nồng nặc xen lẫn hương phấn hoa xa xỉ của những chốn phong nguyệt tiếp khách, gương mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi rã rời. Theo sau hắn là một gã sai vặt ôm một chiếc hộp gấm lớn thêu chỉ vàng vô cùng lộng lẫy.

“Vi Vi, xin lỗi nàng, hôm nay trong Bộ có việc đột xuất, vị đại thần bên bộ Lại kéo ta đi uống vài chén, thật sự không thể khước từ.” Chu Hằng đi tới, đưa tay day day thái dương, nhận lấy chiếc hộp gấm từ tay sai vặt rồi đẩy về phía nàng, “Đây là quà sinh nhật ta chuẩn bị cho nàng, mở ra nhìn xem có thích không?”

Khương Nhược Vi mở hộp gấm ra. Bên trong là một tấm gấm Thục màu đỏ rực rỡ, thêu hoa văn mẫu đơn phú quý bằng chỉ vàng dày đặc, kèm theo một bộ trang sức bằng hồng ngọc vô cùng lộng lẫy. Món quà này giá trị vô cùng xa xỉ, hoàn toàn phù hợp với thân phận thê tử của một vị quan tứ phẩm triều đình.

Nhưng Khương Nhược Vi chỉ nhìn lướt qua, ngón tay lướt nhẹ trên mặt gấm lạnh ngắt. Nàng biết tấm gấm này không phải do hắn chọn. Chu Hằng kết tóc với nàng gần mười năm, làm sao có thể quên nàng không thích nhất là màu đỏ chói và hoa văn mẫu đơn phô trương thế này? Nàng thích màu xanh thanh nhã như trúc và hoa lan. Món quà này chắc chắn là do quản gia trong phủ đi mua theo thói quen định giá tiền cao nhất để thể hiện lòng thành của chủ nhân.

Hắn bận rộn đến mức ngay cả việc tự tay chọn một món quà sinh nhật cho thê tử cũng đã giao lại cho hạ nhân làm theo bổn phận.

“Rất đẹp. Chàng chu đáo quá rồi.” Khương Nhược Vi khẽ nói, thanh âm trầm thấp, chậm rãi khép hộp gấm lại.

Chữ “rất đẹp” ấy nàng nói rất chậm, không có nửa phần oán trách, cũng không có nửa phần vui mừng. Đó là một cách giữ thể diện tốt nhất cho cả hai trước mặt hạ nhân. Nàng không muốn biến mình thành một người phụ nữ tham lam, tính toán chi ly, cũng không muốn làm hắn khó xử khi hắn đã mệt mỏi cả một ngày dài.

Chu Hằng thấy nàng không giận, trong lòng thở phào một tiếng. Hắn tiến lại gần, ôm lấy vai nàng từ phía sau, ngửi mùi hương bồ kết thanh khiết trên tóc nàng, cười nói: 

“Nàng thích là tốt rồi. Ngày mai ta được nghỉ chầu, vừa vặn có hội đèn ở phố Tây, ta đưa nàng đi dạo được không? Xem như đền bù cho hôm nay.”

“Được.” Nàng khẽ đáp, mắt nhìn vào khoảng không mờ tối.

Đêm hôm sau, phố Tây rực rỡ ánh đèn hoa đăng, dòng người qua lại như mắc cửi. Tiếng rao hàng của những người bán bánh ngọt, tiếng cười nói của các nam thanh nữ tú rộn rã khắp nơi. Chu Hằng mặc một bộ thường phục bằng lụa màu trúc xanh thanh nhã, tay nắm chặt lấy tay Khương Nhược Vi dắt đi giữa dòng người đông đúc. Cảnh tượng này giống hệt như ba năm trước, khi hắn mới đỗ Thám hoa, hai người cũng từng nắm tay nhau đi hội đèn như thế này ở quê nhà. Nhưng có những thứ đã vĩnh viễn thay đổi mà không thể gọi tên.

“Ơ, đây không phải là Chu Lang trung sao?” Một giọng nói oang oang vang lên từ phía sau.

Chu Hằng quay đầu lại, nụ cười trên mặt lập tức biến đổi, từ một nụ cười ấm áp với thê tử thành một nụ cười xã giao hoàn hảo, chừng mực. Đó là Uông Tử Hành, đồng liêu ở bộ Hộ, đi cùng là một vài vị quan viên trẻ tuổi khác của viện Hàn Lâm.

“Uông đại nhân, thật khéo quá.” Chu Hằng buông tay Khương Nhược Vi ra, tiến lên một bước, chắp tay hành lễ theo đúng quy củ quan trường.

“Chu đại nhân thật là có nhã hứng đi ngắm đèn, vị này chính là…” Uông Tử Hành nhìn về phía Khương Nhược Vi đứng bên cạnh.

“Đây là người trong nhà.” Chu Hằng giới thiệu, giọng điệu đúng mực, không quá thân mật nhưng cũng không hề có ý giấu giếm.

Khương Nhược Vi khẽ cúi đầu chào theo đúng lễ nghi của một phu nhân đài các mà nàng đã được học trong hai năm qua. Các vị quan viên kia cũng vội vàng đáp lễ, khen ngợi vài câu khách sáo.

“Chu phu nhân thật là hiền thục.”

“Chu đại nhân và phu nhân đúng là một đôi trai tài gái sắc”.

Nhưng sau những câu khách sáo ban đầu đó, chủ đề câu chuyện của họ lập tức chuyển sang việc triều chính: chuyện phe phái của Tả tướng đang muốn gây sức ép lên bộ Hộ, chuyện vị đại thần nào mới bị Hoàng thượng khiển trách trong buổi chầu sáng. Chu Hằng đứng giữa họ, đôi mắt sáng lên một thứ ánh sáng rực rỡ mà khi ở bên nàng chưa bao giờ có. Lời nói của hắn sắc bén, cử chỉ đầy phong thái của một chính trị gia trẻ tuổi đang nắm giữ quyền lực.

Khương Nhược Vi lặng lẽ lùi lại nửa bước, đứng bên lề vòng tròn của họ. Nàng nhìn Chu Hằng. Hắn cười với người khác rất nhiều, nụ cười tự tin, rạng rỡ, nhưng ánh mắt hắn liên tục đảo quanh, quan sát thần thái của từng người xung quanh để đưa ra những lời nói hợp lòng người nhất.

Nàng chợt nhận ra, đã lâu lắm rồi hắn không cười với nàng như vậy. Khi ở nhà, nụ cười của hắn luôn mang theo sự mệt mỏi và có chút ứng phó cho xong chuyện. Hóa ra, tất cả nhiệt huyết, sinh khí và trí tuệ của hắn đều đã đặt vào vòng danh lợi này rồi. Nàng đứng ngay cạnh hắn, tay vẫn còn vương hơi ấm từ lòng bàn tay hắn, nhưng dường như đã bị gạt ra khỏi thế giới của hắn từ lâu.

Hai ngày sau, phu nhân của vị Thị lang bộ Lễ là Lâm thị tổ chức một buổi tiệc thưởng trà ngắm hoa ở vườn sau của phủ đệ. Khương Nhược Vi cũng nhận được một tấm thiệp mời.

Trong buổi tiệc, các phu nhân quyền quý ngồi vây quanh một gian đình thủy tạ, vừa uống trà vừa đàm đạo về các loại lụa là, trang sức mới nhất từ cung đình tuồn ra. Khương Nhược Vi ngồi ở một góc tương đối khuất. Nàng vốn xuất thân từ nhà buôn vải, không có gia thế hiển hách để chống lưng, cho nên tuy các phu nhân khác đối với nàng lịch sự nhưng luôn giữ sự xa cách vô hình, ngầm hiểu rằng nàng không cùng một tầng với họ.

“Mộ tiểu thư đến rồi.” Tiếng một nha hoàn thông báo vang lên từ cửa vườn.

Mọi người đồng loạt quay đầu lại nhìn. Mộ Dao bước vào, mặc một bộ váy màu xanh khói nhẹ nhàng như sương sớm, dáng người mảnh mai, gương mặt thanh tú nhưng có phần nhợt nhạt vì bệnh tật. Cử chỉ của nàng thong thả, thanh nhã đúng chuẩn nữ nhi của một gia tộc đại thế gia khuê các lâu đời.

“Thanh Hà, dạo này sắc mặt muội không được tốt lắm, có phải lại bị chứng đau đầu hành hạ không?” Lâm thị vô cùng ân cần, tự tay đứng dậy kéo Mộ Dao ngồi xuống vị trí trung tâm của buổi tiệc.

Mộ Dao khẽ mỉm cười, ánh mắt vô tình lướt qua góc khuất nơi Khương Nhược Vi đang ngồi, hơi khựng lại một chút rồi khẽ gật đầu chào theo đúng lễ phép. Khương Nhược Vi cũng nâng chén trà, mỉm cười đáp lại một cách chừng mực, không kiêu ngạo cũng không siểm nịnh.

“Thật ra dạo này cũng đỡ nhiều rồi, nhờ có một vị bằng hữu tìm giúp một phương thuốc cổ bí mật từ trong cung, dạo này ta đều dùng loại trầm hương có vị thuốc để an thần khi ngủ, thấy có hiệu quả rõ rệt.” Mộ Dao nhẹ giọng nói, giọng nói của nàng như tiếng khánh ngọc va vào nhau.

“Ồ, vị bằng hữu nào mà tinh tế đến thế? Chắc chắn phải là người rất để tâm đến muội mới có thể biết rõ chứng bệnh này chứ.” Một vị phu nhân khác che miệng trêu chọc.

Mộ Dao cụp mắt xuống, đôi gò má trắng bệch hơi ửng lên một vệt hồng nhạt, nàng không trả lời, nhưng sự im lặng đầy thẹn thùng đó lại càng khiến những người xung quanh đưa ra nhiều lời suy đoán mờ ám.

Khương Nhược Vi ngồi bên cạnh, lặng lẽ nhấp một ngụm trà đắng ngắt. Nàng nhìn Mộ Dao. Người phụ nữ này nói chuyện nhã nhặn, am hiểu sâu sắc về thơ ca, nhạc họa, thậm chí có thể bàn luận về tình hình chính trị một cách có kiến giải. Khi Mộ Dao nói về một bài thơ mới của đại văn hào đương triều, ánh mắt của tất cả các phu nhân xung quanh đều lộ vẻ tán thưởng.

Khương Nhược Vi hiểu rõ, đây chính là kiểu người mà Chu Hằng của hiện tại dễ nói chuyện nhất. Họ cùng một tầng lớp, cùng hiểu những quy tắc ngầm của quan trường, cùng có chung những chủ đề thanh cao để đàm đạo.

Còn nàng, nàng chỉ biết tính toán sổ sách chi tiêu trong phủ sao cho tiết kiệm, biết mùa nào cần may áo ấm cho hạ nhân, biết món ăn nào bổ dưỡng cho cơ thể hắn sau những ngày làm việc kiệt sức. Những thứ đó, đối với một Chu Lang trung đầy hoài bão và tham vọng của hiện tại thì quá đỗi vụn vặt, tầm thường và tẻ nhạt.

Có lẽ không cần Mộ Dao phải dùng thủ đoạn để chen chân vào hôn nhân của nàng, mà là khoảng cách giữa nàng và Chu Hằng tự sinh ra một khoảng trống quá lớn theo thời gian, và Mộ Dao chính là người phù hợp nhất để lấp đầy khoảng trống đó trong cuộc sống hiện tại của hắn.

Đêm đó, Chu Hằng trở về muộn hơn thường lệ. Khi hắn cởi chiếc áo khoác ngoài đưa cho Khương Nhược Vi, nàng vô tình ngửi thấy trên cổ áo hắn có một mùi hương vô cùng nhạt.

Đó là mùi trầm hương pha lẫn vị thuốc cốt khí đắng ngắt, và… một mùi phấn hoa tử la lan vô cùng quen thuộc, loại phấn hoa mà ban ngày nàng vừa ngửi thấy Mộ Dao sử dụng trong buổi tiệc ngắm hoa.

Mùi hương đó rất nhạt, không đủ để làm bằng chứng cho thấy họ đã có hành vi vượt quá ranh giới, nhưng nó giống như một chiếc kim nhỏ, đâm thẳng vào tim nàng, không chảy máu nhưng nhức nhối vô cùng.

Chu Hằng không nhận ra sự bất thường của thê tử, hắn mệt mỏi đi thẳng vào phòng tắm.

Khương Nhược Vi cầm chiếc áo khoác của hắn, bước đến bên cửa sổ phía đông. Nàng không khóc, nước mắt đối với nàng lúc này dường như là một thứ xa xỉ vô dụng. Nàng mở cửa sổ ra, để mặc cho gió đêm lạnh giá thổi vào mặt. Trong bóng tối tịch mịch, nàng bắt đầu lặng lẽ tính toán: cuộc hôn nhân này đã rạn nứt đến mức nào, và bản thân nàng, đã bị đẩy ra khỏi cuộc đời hắn từ bao giờ.