Ta nhìn ông, khẽ hỏi:
- Người đã sống lâu như vậy để bản thân không đau khổ chắc hẳn đã từ bỏ rất nhiều tình cảm. Nhưng bây giờ bà ấy sắp c.h.ế.t rồi, người có bằng lòng vì bà ấy lại làm một con người bình thường một lần nữa không? Đau thêm một lần nữa?
Quốc sư lập tức đứng dậy, xuống lầu, đi về phía phòng ngủ của cô tổ mẫu.
Ta đi theo sau.
Ông đi ngày một nhanh, cuối cùng gần như chạy hẳn lên.
Ông mặc kệ đám thái y đang quỳ kín trong phòng, lao thẳng tới bên giường, nắm lấy tay bà.
Cả người cô tổ mẫu bỗng run mạnh, mở mắt nhìn ông.
Thứ xuất hiện trước cả lời nói… là một giọt nước mắt.
Ta hít sâu vài hơi mới bình tĩnh lại, ra hiệu cho tất cả thái y rời đi.
Đi cuối cùng nên trước khi khép cửa, ta quay đầu nhìn lại.
Quốc sư đỡ bà ngồi dậy, cô tổ mẫu cuối cùng cũng không nhịn được nữa, giơ tay đ.á.n.h ông liên tiếp.
Trông có vẻ dùng rất nhiều sức nhưng thực ra gần như chẳng phát ra tiếng động nào.
Quốc sư cũng không né tránh mặc cho bà đ.á.n.h, chỉ lặng lẽ đưa tay lau nước mắt cho bà.
- Không phải ngươi không muốn gặp ta sao? Năm mươi năm trước không gặp! Hai mươi năm trước không gặp! Ngay cả lúc đến dạy đứa bé kia cũng không gặp! Bây giờ ta sắp c.h.ế.t rồi, ngươi còn đến làm gì?
Giọng quốc sư khàn đặc:
- Xin lỗi, ta đến muộn rồi. Ta cứ tưởng nàng vĩnh viễn không muốn gặp ta nữa.
Đánh đến mệt, bà túm lấy vạt áo ngoài của ông, vừa khóc vừa trách:
- Tại sao ngươi chẳng thay đổi chút nào chỉ có mình ta già đến thế này?
Ông ôm lấy bà, nước mắt bà thấm ướt vai áo ông, ông khẽ vỗ lưng bà như đang dỗ dành một đứa trẻ:
- Không đâu, nàng vẫn rất đẹp giống hệt năm hai mươi tuổi.
Ta thu hồi ánh mắt, bước ra ngoài, khép hờ cánh cửa.
Từ đây vẫn có thể nghe thấy tiếng hai người nói chuyện nhưng không còn nghe rõ từng câu chữ.
Dường như đó không phải cuộc chia ly giữa sinh và t.ử mà chỉ là những lời thì thầm của một đôi tình nhân đã đến muộn suốt năm mươi năm.
Êm đềm như tuyết rơi ngoài cửa sổ, tĩnh lặng và dịu dàng.
Chưa đầy một khắc sau, trong phòng chỉ còn lại sự im lặng.
Tim ta bỗng thắt lại, chân mềm nhũn, ta đẩy cửa lao vào.
Hai người vẫn dựa sát vào nhau như trước.
Má quốc sư áp lên trán cô tổ mẫu, mái tóc đen và mái tóc bạc đan xen lẫn nhau.
Nước mắt ông chảy qua gương mặt bà, cuối cùng hòa thành cùng một vệt lệ.
Bà nhắm mắt, chìm vào giấc mộng vĩnh viễn không bao giờ tỉnh lại.
Trong giấc mộng ấy có tuổi trẻ của bà, có tuấn mã và danh kiếm, có người yêu chưa từng đến muộn.
Và từ nay sẽ không còn bệnh tật cũng không còn chia ly.
Đêm nay tuyết không lớn nhưng vẫn đè gãy cành mai đẹp nhất ngoài cửa sổ.
26
Sau tang lễ của cô tổ mẫu, ta đổ bệnh một thời gian.
Không phải bệnh gì nghiêm trọng chỉ là khí gan uất kết, tinh thần sa sút, chẳng có mấy sức sống.
Bà đã hưởng trọn tuổi trời, đèn cạn dầu khô, an nhiên nhắm mắt.
Những năm cuối đời cũng không phải chịu quá nhiều đau đớn bệnh tật, như vậy đã là một điều may mắn.
Ta vẫn nhớ được rất nhiều chuyện vui khi còn ở bên bà.
Dẫu có đau lòng nhưng khi ra đi, bà không mang theo hối tiếc.
Vậy nên người ở lại cũng chẳng còn điều gì phải ân hận.
Khi còn nhỏ, hoàng tổ phụ từng nói rất đúng, không thể vì sợ chia ly mà từ chối mọi sự thân cận.
Nếu năm đó ta cũng giữ khoảng cách với cô tổ mẫu thì giờ phút này chắc hẳn chỉ còn đầy ắp hối hận, đau đến không muốn sống.
Phủ trưởng đại công chúa được giữ lại cho ta theo đúng di nguyện của bà nhưng ta vẫn ở trong viện cũ.
Phòng ngủ chính vẫn luôn để trống.
Tạ Gia Tụng gửi thư cho ta, trong thư cũng không nói những lời an ủi sáo rỗng chỉ kể rằng phong cảnh Thục Trung rất đẹp.
Cuối thư viết:
"Trường Giang cuồn cuộn chảy, ngàn vạn nhánh sông phân tỏa bốn phương.
Nhưng bất kể trước hay sau...
Cuối cùng đều sẽ đổ về Đông Hải."
Sau khi trở về, quốc sư đóng cửa bế quan trong Thiên Tuyền Các.
Ngay cả tang lễ của cô tổ mẫu cũng không tham dự.
Đến ngày đầu thất của bà, ông đến từ rất sớm, hỏi ta:
- Ta có thể vào phòng của bà ấy không?
Ta mặc ông, không ngờ ông vừa vào đã ngồi lì trong đó hơn mười ngày. Bất kể ai gọi cũng không chịu mở cửa.
Đến khi bước ra, sắc mặt cũng chẳng khá hơn là bao.
Ta không nhịn được, trách vài câu:
- Lúc người còn sống thì hai người giận dỗi nhau. Người mất rồi lại làm ra bộ dạng này. Có thừa thãi quá không?
Quốc sư cũng không nổi giận, chỉ lắc đầu, mang theo bình hoa sen bằng sứ ấy, nhàn nhạt nói:
- Ta sẽ bế quan, nếu có việc, cứ đến tìm ta.
Mãi đến năm An Thái thứ mười một, ông vẫn chưa xuất quan.
Điều này khiến ta có phần kinh ngạc, trước đây ông cũng từng bế quan nhưng mỗi lần nhiều nhất cũng chỉ hai ba tháng.
Theo thánh chỉ, ta xuống Giang Nam kiểm tra thuế vụ.
Tiểu thúc cai quản Giang Nam rất tốt.
Lần thanh tra này cũng nhờ thể diện của ông ấy không ít. Quan lại, thương nhân địa phương không ai dám không phối hợp.
Qua Tết Đoan Ngọ mới lên đường, đến lúc trở lại kinh thành thì đã đầu tháng Chạp.
Ta không kịp dự ngày giỗ của cô tổ mẫu, vừa về kinh liền đến thắp cho bà một nén nhang, thị nữ nói:
- Quốc sư đến nay vẫn chưa xuất quan.
Ta nhìn về phía Thiên Tuyền Các, trời đang lất phất tuyết, tòa lầu cao trên núi ngoài thành thấp thoáng mờ ảo đứng riêng giữa gió tuyết tựa như đã tách khỏi nhân gian.
Nỗi đau ấy quá sâu, quá nặng, lại quá dài đến cả tiên cốt cũng khó lòng chống đỡ.
Sau đó ta vào cung phục mệnh, Trần tổng quản bảo ta đợi trong sân.
Bốn phía điện Hàm Chương đều trồng cây, xuân hạ thu đông mùa nào cũng có hoa nở.