Gieo Mầm Linh Thảo Dưới Chân Côn Lôn

Chương 4: Đêm Trăng Thanh Phong Trà

Mùi máu.

Thứ mùi tanh nồng, ngai ngái quện chặt vào từng hơi thở buốt giá. Nó dính nhớp trên đầu ngón tay, đông cứng lại thành từng mảng nâu sẫm trên vạt trường bào trắng như tuyết.

Trong cơn mộng mị mịt mùng, Dạ Thanh Sương thấy mình lại đang đứng trên đỉnh Vọng Tuyết của dãy Côn Lôn. Gió bão gào rít như bầy dã thú đói khát, tuyết cuốn mù mịt đất trời, chôn vùi cả ánh trăng lạnh lẽo. Dưới chân hắn không phải là mảnh đất sỏi đá mộc mạc của thôn Lạc Hà, mà là một biển xác người trôi dạt giữa tuyết trắng. Máu tươi rỉ ra từ vết thương chưa kịp đông đã bị hàn khí ngàn năm biến thành những hạt châu đỏ thẫm, lăn lông lốc trên nền băng.

“Keng!”

Một tiếng kim loại gãy vụn vang lên giòn tan, nhức nhối đến tận linh hồn.

Thần kiếm Vô Trần trong tay hắn – thanh kiếm từng cùng hắn chém rách mười vạn dặm yêu vân, chấn nhiếp bát hoang bắc cảnh – bỗng nhiên nứt toác. Những mảnh kiếm vụn sắc lẹm bay ngược lại, găm thẳng vào da thịt, xé rách kinh mạch hắn. Từ sâu trong đan điền, luồng hắc khí tanh tưởi bùng lên như rắn độc, quấn chặt lấy nguyên thần đang rách nát.

“Sư đệ, cớ sao ngươi lại cố chấp như vậy?”

Một giọng nói quen thuộc vang lên bên tai, vừa ôn tồn vừa giả tạo đến mức buồn nôn.

Dạ Thanh Sương muốn quay đầu, muốn vung kiếm chém nát khuôn mặt tươi cười đạo mạo của Cố Huyền Lăng, nhưng tứ chi hắn cứng đờ như bị hàn băng vạn trượng khóa chặt. Phía sau lưng, một mũi kiếm lạnh ngắt tẩm đầy nọc độc của Hàn Thiềm ngàn năm đang từ từ đâm xuyên qua hậu tâm, xé toạc đạo cơ Hóa Thần mà hắn đã khổ tu suốt hơn một trăm năm.

Ánh mắt của những đồng môn từng quỳ gối dưới chân hắn, từng xưng tụng hắn là “Hàn Tiêu Kiếm Tôn vô địch thiên hạ”, giờ đây hiện lên trong màn sương máu. Không có sự kính trọng, không có tình đồng môn, chỉ có sự tham lam tr*n tr**, sự ghen ghét hèn hạ và cơn khát máu điên cuồng muốn lột da xẻ thịt hắn để đoạt lấy bí kíp trấn phái và thần kiếm Vô Trần.

“Dạ Thanh Sương, ngươi quá chói sáng rồi... Thiên hạ này chỉ cần một Côn Lôn Tiên Minh, không cần thêm một Kiếm tôn không chịu nghe lời!”

“Chết đi!”

Tiếng thét chói tai của Cố Huyền Lăng hòa cùng tiếng sấm sét nổ vang trên đỉnh Côn Lôn. Luồng hàn độc xé rách lồng ngực, cái lạnh thấu xương tủy dâng lên nuốt chửng lấy chút tri giác cuối cùng...

“Hực!”

Dạ Thanh Sương giật mình choàng tỉnh.

Hắn bật dậy, lồng ngực phập phồng dữ dội như kẻ vừa trồi lên từ đáy hồ băng ngạt thở. Bàn tay theo bản năng quờ quạng sang bên cạnh tìm kiếm chuôi kiếm Vô Trần, nhưng thứ chạm vào lòng bàn tay hắn chỉ là lớp chiếu cói thô ráp và tấm chăn bông vá víu bằng vải hoa đã bạc màu.

Mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa, thấm ướt đẫm manh áo vải thô màu xám tro. Cơn đau dữ dội từ đan điền như hàng ngàn mũi kim châm lại cuộn trào lên, khiến hắn phải cắn chặt môi đến bật máu để không bật ra tiếng r*n r*. Tàn độc của Hàn Thiềm ngàn năm vẫn đang âm ỉ cắn nuốt những đoạn kinh mạch gãy nát, như muốn nhắc nhở hắn về cái chết cận kề và sự phản bội đê hèn ấy.

Dạ Thanh Sương nhắm nghiền mắt, tựa lưng vào vách nứa mát lạnh.

Tiếng th* d*c của hắn dần dần chậm lại giữa không gian tĩnh mịch. Không có tiếng gió bão Côn Lôn gào rít, không có tiếng kim thiết chém giết chói tai, cũng chẳng có mùi máu tanh nồng nặc.

Bao quanh hắn lúc này là sự yên ắng lạ lùng của một đêm xuân nơi thôn dã. Xa xa, tiếng suối Lạc Hà vẫn róc rách chảy đều đặn qua các ghềnh đá, tiếng côn trùng rả rích trong bụi cỏ ven tường, và thoang thoảng trong không khí là mùi đất ẩm sau buổi trưa xới xới, quyện cùng hương thơm dịu nhẹ của những bó ngải cứu khô treo lủng lẳng trên xà nhà.

Cơn ác mộng đã tan, nhưng dư âm buốt giá của nó vẫn bóp nghẹt tâm can hắn. Một trăm mười sáu năm tu đạo, một trăm mười sáu năm đắm mình trong tuyết lạnh và kiếm phong, cuối cùng đổi lại chỉ là một thân tàn phế, phải ẩn náu trong căn nhà tranh ba gian dột nát này.

Nỗi uất ức, sự cay đắng và cảm giác cô độc vô tận trào dâng, khiến lồng ngực Dạ Thanh Sương tức nghẹn. Hắn không thể ngồi yên trong bốn bức vách nứa này thêm một khoảnh khắc nào nữa. Luồng hàn khí u uất trong cơ thể như muốn bộc phát, thôi thúc hắn phải bước ra ngoài, phải tìm một ngọn gió lạnh để làm tê dại đi nỗi đau đớn nơi thể xác lẫn tâm hồn.

Khẽ gạt tấm chăn bông sang một bên, Dạ Thanh Sương bước xuống giường. Đôi bàn chân trần chạm vào nền đất nện mát rượi. Hắn nhẹ nhàng đẩy cánh cửa liếp khép hờ, bước chân vô thanh vô tức như một bóng ma lướt ra ngoài hiên.

Đêm đã về khuya, có lẽ đã sang canh ba.

Bầu trời thôn Lạc Hà trong vắt không một gợn mây. Vầng trăng rằm tròn vành vạnh treo lơ lửng trên đỉnh dãy Côn Lôn hùng vĩ, tỏa xuống nhân gian một dải ánh sáng bàng bạc, trong trẻo tựa như nước suối đầu nguồn. Ánh trăng phủ lên những mái nhà tranh mộc mạc, rọi sáng khoảng sân nhỏ và giàn nho xanh ngắt đang đung đưa khe khẽ theo từng cơn gió thoảng.

Dạ Thanh Sương hít sâu một hơi linh khí loãng nhưng thuần khiết của thung lũng, toan bước ra góc sân để vận khí áp chế hàn độc, thì ánh mắt hắn bỗng khựng lại.

Dưới ánh trăng vằng vặc, giữa những luống đất vừa được cải tạo ở góc vườn phía đông, có một bóng người đang quỳ gối trên chiếc bồ đoàn bện bằng rơm khô.

Là Vân Triệt.

Thiếu niên vẫn mặc chiếc trường bào vải thô màu xanh mạ quen thuộc, vạt áo được xắn cao gọn gàng, buộc túm lại bên hông. Mái tóc đen dài không búi bằng trâm ngọc như các bậc tiên nhân mà chỉ dùng một dải vải gai tùy ý buộc lại sau gáy, vài lọn tóc mai lơ thơ rủ xuống trán, lay động theo từng nhịp thở.

Dạ Thanh Sương khẽ nhíu mày. Đêm hôm khuya khoắt, sương đêm buốt giá thế này, thiếu niên này không ngủ mà lại ra vườn làm gì? Chẳng lẽ mảnh đất pha sỏi kia còn có điều gì khiến chàng bận lòng đến mức phải thức trắng đêm?

Tò mò lấn át sự u uất, Dạ Thanh Sương thu liễm khí tức, lặng lẽ bước lại gần. Bàn chân hắn đạp lên lớp cỏ mềm ven lối đi, không hề phát ra một tiếng động nhỏ nhất. Trăm năm rèn luyện thuật ám sát và bộ pháp đỉnh phong của kiếm tu dù đã mất đi linh lực vẫn giữ được sự tinh tế đến rợn người.

Nhưng khi hắn còn cách luống rau chừng mười bước, Vân Triệt dường như đã cảm nhận được điều gì đó. Thiếu niên không hề giật mình, cũng không quay phắt lại phòng bị, mà chỉ khẽ nghiêng đầu, khóe môi cong lên một nụ cười ấm áp dưới ánh trăng:

“Gió đêm dưới chân núi buốt lắm, A Sương. Kinh mạch ngươi đang mang hàn độc, sao lại phong phanh bước ra ngoài như thế?”

Dạ Thanh Sương dừng bước, trong lòng thoáng kinh ngạc. Hắn đã hoàn toàn ẩn giấu tiếng thở và tiếng bước chân, ngay cả tu sĩ Trúc Cơ bình thường cũng khó lòng phát hiện, vậy mà một thiếu niên Luyện Khí tầng ba lại có thể nhận ra sự hiện diện của hắn dễ dàng như vậy?

“Ngươi... làm sao biết là ta?” Dạ Thanh Sương cất giọng khàn khàn, thanh âm mang theo chút lạnh lùng cố hữu của kẻ quen sống trong cô độc.

Vân Triệt khẽ cười, bàn tay chàng vẫn cẩn thận nâng niu một nhánh cây nhỏ dưới đất: “Gió đêm thổi từ hướng hiên nhà mang theo một luồng hàn khí nhàn nhạt và mùi mộc linh của chậu thuốc ta vừa sắc ban chiều. Cả cái thôn Lạc Hà này, ngoài tên tá điền nợ ngập đầu nhà ta ra thì làm gì còn ai có hơi thở đặc biệt như thế?”

Dạ Thanh Sương nghẹn lời. Hắn bước thêm vài bước, đứng bên mép luống đất, nhìn xuống đôi bàn tay lấm tấm bùn của thiếu niên.

Lúc này hắn mới nhìn rõ, trước mặt Vân Triệt là một khoảnh đất nhỏ được rào chắn cẩn thận bằng những thanh tre vót nhọn. Trong khoảnh đất ấy mọc lên chừng vài chục cây thảo mộc kỳ lạ. Thân cây chỉ cao chừng nửa gang tay, mỏng manh như cọng cỏ non, nhưng phiến lá lại có màu xanh biếc pha lẫn những đường gân trắng muốt như ngọc. Trên bề mặt mỗi phiến lá, những giọt sương đêm đọng lại tròn xoe, lấp lánh phản chiếu ánh trăng như những viên dạ minh châu tí hon.

Vân Triệt đang cầm một chiếc dao nhỏ bằng gỗ đào, nhẹ nhàng tách từng phiến lá dưới gốc, cẩn thận đặt vào chiếc giỏ tre lót đầy rêu ẩm bên cạnh. Động tác của chàng vô cùng chậm rãi, tỉ mỉ và thuần thục, tựa như đang chạm vào những cánh bướm mỏng manh dễ vỡ nhất thế gian. Điều kỳ lạ là, chàng hái lá mà tuyệt đối không làm rớt một giọt sương nào trên bề mặt.

“Đây là... Băng Tâm Thảo?” Dạ Thanh Sương khẽ nheo mắt, nhận ra loài cỏ này.

Ở Côn Lôn Tiên Minh, Băng Tâm Thảo không phải là thứ hiếm có. Nó mọc đầy trên các vách đá quanh năm tuyết phủ, được các đệ tử ngoại môn dùng liềm sắt gặt từng bó lớn mang về lò luyện đan để làm chất dẫn hỏa hoặc chế thuốc hạ sốt hạ nhiệt thông thường. Trong mắt một Kiếm tôn từng dùng qua vô số cửu phẩm tiên đan như hắn, loài cỏ này chẳng khác nào cỏ dại ven đường.

“Đúng vậy, chính là Băng Tâm Thảo.” Vân Triệt vừa cẩn thận cắt lấy một phiến lá đẫm sương, vừa đáp: “Nhưng không phải là thứ Băng Tâm Thảo bị vùi dập trong bão tuyết cuồng bạo trên đỉnh Côn Lôn, mà là Băng Tâm Thảo được ươm mầm từ đất phù sa của dòng Lạc Hà.”

“Có gì khác biệt?” Dạ Thanh Sương hỏi, trong giọng nói bất giác mang theo vẻ hoài nghi của một cường giả thượng giới nhìn xuống trò chơi của phàm nhân. “Cỏ thì vẫn là cỏ. Dược tính của nó vốn dĩ đắng chát, hàn tính gay gắt, chỉ là hạ phẩm linh thảo, có đáng để ngươi phải thức trắng đêm, nâng niu như trân bảo thế này không?”

Vân Triệt đặt chiếc dao gỗ đào xuống, ngẩng đầu lên nhìn Dạ Thanh Sương. Đôi mắt trong veo như làn nước mùa thu của chàng phản chiếu ánh trăng vằng vặc, không hề có lấy một tia tự ti hay giận dữ trước lời nhận xét trịch thượng ấy.

Chàng khẽ lắc đầu, mỉm cười: “Các ngươi – những người cả đời chỉ biết ngẩng đầu nhìn lên trời cao, đạp kiếm phi hành giữa mây gió – vĩnh viễn không hiểu được hơi thở của mặt đất.”

Chàng chỉ tay vào giọt sương long lanh trên phiến lá xanh biếc: “Băng Tâm Thảo trên đỉnh núi tuyết hấp thụ hàn khí bạo liệt của trời đất, tính tình hung hãn, dùng lửa luyện đan sẽ làm nó phát cuồng, sinh ra đan độc làm tổn thương tạng phủ. Nhưng Băng Tâm Thảo trồng ở chân núi này lại khác. Ban ngày nó đón ánh nắng ấm áp của trần gian, hút địa nhiệt phì nhiêu của mạch đất; ban đêm nó lại đón gió lạnh từ đỉnh Côn Lôn tràn xuống. Âm dương giao hòa, hàn cực sinh ôn.”

Ngón tay Vân Triệt khẽ lướt qua một giọt sương đêm: “Vào giờ Tý và giờ Sửu, khi vạn vật chìm vào giấc ngủ sâu nhất, tinh hoa của đất trời sẽ ngưng tụ lại thành những giọt sương này. Đây là lúc hàn tính của nó dịu dàng nhất, chỉ mang theo sự thanh khiết để gột rửa tâm can chứ không còn sát phạt, công kích. Nếu đợi đến khi mặt trời mọc, dương khí bốc lên, giọt sương tan biến, lá cỏ sẽ lại trở nên đắng chát và khô cằn. Ngươi bảo, nếu không phải lúc này thì hái vào lúc nào?”

Dạ Thanh Sương đứng chết trân tại chỗ.

Từng lời nói của Vân Triệt như một tiếng chuông ngân vang vọng vào sâu thẳm tâm trí hắn.

Trăm năm qua ở Côn Lôn, hắn chỉ biết đến quy tắc “mạnh được yếu thua”, chỉ biết cướp đoạt linh khí thiên địa bằng bạo lực. Đan sư trong tông môn luyện đan chỉ chăm chăm dùng chân hỏa ngút trời để cưỡng ép hòa tan dược liệu, ép lấy dược lực mạnh nhất để đột phá cảnh giới, chưa từng có ai dừng lại để lắng nghe xem cây cỏ muốn gì, cần gì. Họ coi vạn vật là công cụ, coi cỏ cây là thứ để nghiền nát.

Hóa ra... một ngọn cỏ tầm thường nơi thôn dã, dưới sự thấu hiểu và nâng niu của thiếu niên này, lại ẩn chứa một tầng đạo lý sâu sắc và tinh tế đến nhường ấy.

“Ngươi đứng ngây ra đó làm gì?” Vân Triệt phủi bùn đất trên tà áo, đứng dậy, tay xách chiếc giỏ tre chứa đầy những phiến lá tươi non mọng sương. “Mặt mày tái mét, môi thì cắn đến rách cả ra, sát khí trên người thì lạnh đến mức làm sương đêm quanh người ngươi đóng thành băng vụn rồi kìa. Lại gặp ác mộng đúng không?”

Dạ Thanh Sương giật mình, theo bản năng muốn phủ nhận: “Ta không...”

“Được rồi, Kiếm tôn đại nhân, đừng gồng mình nữa.” Vân Triệt cắt ngang, giọng điệu mang theo chút trêu chọc dí dỏm nhưng lại vô cùng ấm áp: “Ở đây không có kẻ thù của ngươi, cũng chẳng có ai muốn đâm sau lưng ngươi đâu. Đi theo ta, đêm nay coi như ngươi có phúc, ta mời ngươi uống một ấm trà mà dù ngươi có mang cả ngàn viên linh thạch thượng phẩm đến Côn Lôn Tiên Minh cũng không bao giờ mua được.”

Nói đoạn, Vân Triệt không đợi hắn đồng ý, quay người sải bước về phía khoảng sân nhỏ dưới giàn nho.

Dạ Thanh Sương đứng sững lại một thoáng, nhìn theo bóng lưng gầy gò nhưng thẳng tắp của thiếu niên. Hắn cúi đầu nhìn bàn tay mình – bàn tay từng nhuốm máu vô số sinh linh, giờ đây đang khẽ run lên vì hàn độc và sự trống rỗng. Cuối cùng, như bị một lực hút vô hình dẫn dắt, hắn chậm rãi cất bước đi theo.

Dưới giàn nho xanh ngắt, Vân Triệt đã ngồi xuống bên chiếc bàn đá tròn mộc mạc.

Chàng thuần thục lấy ra chiếc bếp lò đất sét nhỏ cũ kỹ, bên trong đã xếp sẵn vài thanh củi thông khô. Chàng lấy một thanh bùi nhùi, đánh lửa bập bùng. Ngọn lửa màu cam ấm áp bùng lên, soi rọi khuôn mặt thanh tú của thiếu niên, xua tan đi cái lạnh lẽo u ám của màn đêm xuân. Tiếng củi thông khô nổ lách tách khe khẽ, mang theo mùi tinh dầu thông thơm nồng, dễ chịu lạ kỳ.

Vân Triệt đặt lên bếp một chiếc ấm đất nung màu nâu sẫm, bên trong đổ đầy thứ nước suối trong vắt mà ban chiều chính tay Dạ Thanh Sương đã gánh từ suối Lạc Hà về.

“Nước pha trà không thể dùng nước giếng tù đọng, cũng không thể dùng nước mưa trên mái ngói vì vướng bụi trần.” Vân Triệt vừa quạt nhẹ ngọn lửa vừa thong thả nói: “Phải là nước suối chảy qua các khe đá cuội thạch anh dưới chân Côn Lôn. Nước ấy mang theo linh khí của đá, vị ngọt của mạch ngầm, lại được dòng chảy không ngừng thanh lọc, mới đủ tư cách làm bạn với Băng Tâm Thảo.”

Dạ Thanh Sương ngồi xuống chiếc đôn gỗ đối diện. Khoảng cách giữa hai người chỉ chừng một chiếc bàn đá nhỏ. Hơi ấm từ bếp lò đất phả vào mặt hắn, làm tan đi lớp sương lạnh vừa đọng trên hàng mi dài.

Hắn im lặng quan sát từng cử chỉ của Vân Triệt.

Thiếu niên rửa sạch một chiếc ấm gốm da lươn bằng nước sôi tráng qua. Sau đó, chàng cẩn thận dùng nhíp tre gắp từng phiến lá Băng Tâm Thảo đẫm sương vừa hái thả vào ấm. Chàng lại mở một chiếc hũ sành nhỏ trên bàn, lấy ra vài cánh hoa cúc dại phơi khô vàng ươm và một mẩu rễ Cam Thảo rừng mỏng dính, thả chung vào.

“Trà này tên là gì?” Dạ Thanh Sương cất tiếng hỏi, ánh mắt dừng lại trên những bọt nước đang sôi lăn tăn trong ấm đất.

“Thanh Phong Trà.” Vân Triệt đáp, mắt vẫn chăm chú nhìn vào ngọn lửa. “Gió mát xua tan mây mù, thanh lọc tâm can. Một ngọn gió lành giữa đêm trăng, có thể thổi bay mọi u uất của nhân gian.”

Nước trong ấm đất bắt đầu sôi bùng lên, phát ra tiếng reo vui tai tựa như tiếng thông reo giữa đại ngàn. Vân Triệt nhấc ấm nước xuống, để nguội bớt chừng vài hơi thở rồi mới chậm rãi nghiêng vòi, rót dòng nước sôi lăn tăn vào chiếc ấm gốm da lươn.

“Xèo...”

Một làn khói trắng mỏng manh lập tức bốc lên từ miệng ấm gốm, lượn lờ bay trong không gian rồi tan dần vào ánh trăng.

Khoảnh khắc làn khói ấy tỏa ra, Dạ Thanh Sương bất giác mở to hai mắt.Đó là một mùi hương kỳ diệu mà hắn chưa từng được ngửi thấy trong suốt hơn một trăm năm qua. Nó không nồng nặc, ngạt ngào như hương thơm của các loại đan dược cửu chuyển hay kỳ hoa dị thảo chốn bồng lai, mà nó thanh tao, trong vắt như một làn gió xuân vừa lướt qua cánh đồng cỏ sau cơn mưa rào. Vị ngọt dịu của Cam Thảo rừng quyện cùng hương thơm thoang thoảng của hoa cúc dại, và nổi bật hơn cả là một cảm giác the mát, sảng khoái đến tận cùng của lá Băng Tâm Thảo đượm sương.

Chỉ hít một hơi khói trà ấy thôi, Dạ Thanh Sương đã cảm thấy luồng hàn khí u uất đang nghẽn tắc nơi lồng ngực như được nới lỏng ra một chút. Cơn đau nhức âm ỉ ở đan điền dường như cũng dịu bớt phần nào.

Vân Triệt đậy nắp ấm gốm lại, để trà ngấm trong khoảng mười nhịp thở. Sau đó, chàng nâng ấm, rót ra hai chiếc chén gốm thô mộc.

Dòng nước trà màu xanh nhạt như ngọc bích chảy xuống chén, sóng sánh ánh trăng. Làn hơi ấm nghi ngút bốc lên, mang theo trọn vẹn tinh hoa của đất trời đêm xuân.

Vân Triệt đẩy một chén về phía Dạ Thanh Sương, mỉm cười: “Uống đi. Uống khi còn ấm. Đừng dùng linh lực để ép cạn, hãy để nó tự do chảy trôi qua cổ họng ngươi.”

Dạ Thanh Sương nhìn chén trà bốc khói trước mặt. Bàn tay hắn khẽ đưa ra, những ngón tay thon dài từng chỉ quen cầm kiếm giờ đây run run chạm vào thành chén gốm thô ráp. Hơi nóng từ men gốm truyền qua da thịt, sưởi ấm những đầu ngón tay buốt giá của hắn.

Hắn nâng chén trà lên môi, nhấp một ngụm nhỏ.

Vị trà chạm vào đầu lưỡi. Ban đầu là một thoáng đắng nhẹ thanh tao, khiến cho đầu óc đang mụ mẫm vì cơn ác mộng lập tức bừng tỉnh. Nhưng ngay sau đó, vị đắng biến mất không một dấu vết, nhường chỗ cho một vị ngọt thanh khiết, mát lành lan tỏa khắp khoang miệng. Dòng nước trà ấm nóng trôi xuống thực quản, tựa như một dải lụa mềm mại mang theo sinh khí êm dịu, nhẹ nhàng thẩm thấu vào từng tấc da thịt, từng đoạn kinh mạch rách nát.

Kỳ diệu nhất là, khi dòng trà chảy xuống đến đan điền, luồng tàn độc băng thiềm ngàn năm vốn đang cuồng bạo cắn xé bỗng nhiên như gặp phải khắc tinh nhu hòa. Sinh khí mộc linh thuần khiết trong ngọn cỏ Băng Tâm Thảo không hề tấn công hay va chạm gay gắt với hàn độc, mà nó như dòng nước xuân ấm áp, từ từ bao bọc lấy luồng khí độc đen kịt, xoa dịu đi sự cuồng nộ của nó, từng chút từng chút một v**t v* những vết rách rỉ máu trên nguyên thần hắn.

Một cảm giác khoan khoái, nhẹ nhõm chưa từng có tràn ngập toàn thân.

Dạ Thanh Sương không kìm được, khẽ thở ra một hơi dài. Hơi thở của hắn phà ra trong đêm xuân mang theo làn sương mỏng, nhưng lần này không còn là hàn băng sát khí bức người, mà là một sự bình thản, tĩnh lặng hiếm hoi.

Hắn nhấp thêm một ngụm nữa, rồi lại một ngụm nữa, cho đến khi giọt trà cuối cùng thấm vào cổ họng.

Đặt chiếc chén không xuống bàn đá, Dạ Thanh Sương ngẩng lên nhìn thiếu niên đối diện. Dưới ánh trăng rọi qua kẽ lá nho, khuôn mặt của Vân Triệt như được phủ một lớp ánh sáng dịu dàng, đôi mắt sáng lấp lánh như hai vì sao sớm.

“Trà này... có thể áp chế hàn độc của ta.” Dạ Thanh Sương trầm giọng nói, trong mắt không giấu nổi vẻ chấn động. “Đan dược địa giai, thiên giai của Côn Lôn Tiên Minh chỉ biết dùng nhiệt tính bạo liệt để dĩ độc trị độc, khiến đan điền ta đau đớn như bị xé rách. Cớ sao chén trà thảo mộc phàm trần này của ngươi lại có thể làm được điều đó?”

Vân Triệt cũng nhấp một ngụm trà của mình, khẽ khàng đặt chén xuống, ung dung đáp:

“Bởi vì đan dược của tiên môn các ngươi được tạo ra từ lòng tham và sự tranh đoạt. Các ngươi muốn đốt cháy giai đoạn, muốn dùng sức mạnh áp chế thiên nhiên. Lấy bạo chế bạo, lấy độc trị độc, tổn thương một ngàn thì tự hại tám trăm. Ngươi vốn đã mang trọng thương, đan điền như căn nhà rách nát sau bão, nếu lại ném vào đó một ngọn lửa cuồng bạo để sưởi ấm, chẳng phải là muốn thiêu rụi luôn cả căn nhà hay sao?”

Vân Triệt nghiêng đầu, ánh mắt hướng về phía ba luống đất sỏi mà chiều nay Dạ Thanh Sương vừa cày xới:

“Trời đất sinh ra vạn vật, vốn dĩ dĩ nhu khắc cương. Mộc đạo là đạo của sinh cơ, là sự chở che, nuôi dưỡng. Một hạt mầm nhỏ bé bị vùi sâu dưới lớp đất đen lạnh lẽo, bên trên bị tầng tầng sỏi đá ngàn cân đè nén. Nó không có kiếm bén để chém đá, không có lửa dữ để thiêu đất. Ngươi có biết nó làm cách nào để sống sót không?”

Dạ Thanh Sương ngẩn người, vô thức lắc đầu: “Làm cách nào?”

“Nó nhẫn nại.” Giọng Vân Triệt trầm ấm, chậm rãi như tiếng suối chảy đêm trăng: “Nó không gào thét oán hận bóng tối, không vùng vẫy trong tuyệt vọng để tự làm nát thân mình. Nó chỉ âm thầm hấp thụ từng giọt nước mưa ngấm qua khe đá, kiên nhẫn bám rễ sâu vào lòng đất mẹ. Càng tối tăm, rễ của nó càng ăn sâu. Càng lạnh giá, thân nó càng tích lũy nhiều sinh lực. Để rồi đến một ngày mùa xuân ấm áp, khi thời cơ đến, cái mầm non mềm mại yếu ớt ấy lại có thể nhẹ nhàng đội tung cả tảng đá ngàn cân để vươn lên đón ánh mặt trời.”

Vân Triệt quay lại nhìn thẳng vào mắt Dạ Thanh Sương, ánh mắt chan chứa sự thấu hiểu sâu sắc:

“Hoa cỏ muốn nở rộ rực rỡ, đều phải trải qua những ngày đông vùi mình trong sỏi đá buốt giá. Con người cũng vậy, đạo tâm cũng thế. Cái rét căm căm của bão tuyết Côn Lôn, nhát kiếm đâm sau lưng của kẻ phản bội, hay việc kinh mạch bị phế bỏ... chẳng qua cũng chỉ là một mùa đông nghiệt ngã trong cuộc đời ngươi mà thôi.”

“Mùa đông... nghiệt ngã sao?” Dạ Thanh Sương lẩm bẩm, bàn tay siết chặt lại.

Những ký ức đen tối lại ùa về. Hắn nhớ lại những năm tháng tuổi thơ cơ cực, bị bỏ rơi nơi bìa rừng tuyết trắng, được sư phụ nhặt về Côn Lôn. Hắn nhớ lại những ngày tháng bị nhốt trong kiếm động tối tăm, ngày đêm luyện kiếm đến mức bàn tay tứa máu, da thịt rách nát. Ở nơi đó, không ai dạy hắn cách yêu thương, không ai dạy hắn cách sống. Họ chỉ dạy hắn: Muốn sống sót, kiếm của ngươi phải nhanh hơn kẻ khác, lòng ngươi phải lạnh hơn băng tuyết.

Hắn đã làm theo. Hắn trở thành thanh kiếm sắc bén nhất của Côn Lôn, trở thành người canh giữ đỉnh tuyết cô độc. Hắn vì tông môn mà vào sinh ra tử, chém giết yêu ma, trên người mang hàng trăm vết sẹo.

Nhưng rồi kết quả là gì?

Khi hắn đạt đến Hóa Thần kỳ, khi thanh kiếm Vô Trần nhận hắn làm chủ, những sư huynh đệ từng cùng hắn lớn lên lại nhìn hắn bằng ánh mắt ghen ghét, thù hận. Sư huynh Cố Huyền Lăng – người từng vỗ vai hắn bảo rằng hai người là cốt nhục tương tàn không rời – lại chính là kẻ hạ độc vào chén rượu mừng công, rồi cùng các trưởng lão phong tỏa đỉnh núi, muốn dồn hắn vào chỗ chết.

“Ngươi bảo đó chỉ là một mùa đông?” Giọng Dạ Thanh Sương run lên, đáy mắt lóe lên những tia đỏ rực của sự phẫn uất và đau đớn bị kìm nén bấy lâu: “Trăm năm tu kiếm, ta coi tông môn là nhà, coi đồng môn là huynh đệ. Ta dốc cạn tâm huyết bảo vệ bọn họ, đổi lại chỉ là một chén rượu độc và muôn vàn nhát kiếm đoạt mệnh! Ta rớt xuống vực sâu, kinh mạch đứt đoạn, trở thành một phế nhân không bằng con kiến hôi. Sự phản bội ấy... sự uất hận ấy... làm sao có thể dễ dàng coi như một mùa đông mà bỏ qua?!”

Hàn khí quanh người Dạ Thanh Sương lại bắt đầu rục rịch, mái tóc đen của hắn khẽ bay lên dù không có gió. Ánh mắt phượng tràn ngập sự thù hận và sát ý tột cùng.

Đối diện với cơn thịnh nộ của một cựu Hóa Thần Kiếm tôn, Vân Triệt không hề lùi bước, cũng không hề sợ hãi.

Chàng chỉ khẽ thở dài một tiếng, nâng ấm trà lên, chậm rãi rót đầy lại chén trà cho Dạ Thanh Sương.

Làn khói thơm dịu dàng của Thanh Phong Trà lại bốc lên, nhẹ nhàng lướt qua chóp mũi Dạ Thanh Sương, tựa như một bàn tay vô hình xoa dịu đi cơn cuồng nộ đang chực bùng cháy.

“Ta không bảo ngươi phải quên đi, cũng không bảo ngươi phải tha thứ.” Vân Triệt cất giọng ôn tồn: “Oán có đầu, nợ có chủ, ân oán thế gian rồi sẽ có ngày phải kết toán. Nhưng A Sương à, ngươi hãy tự hỏi lòng mình xem... trăm năm qua cầm thanh kiếm ấy, ngươi có từng cảm thấy vui vẻ dù chỉ một ngày?”

Câu hỏi của Vân Triệt như một chiếc búa nặng nề giáng mạnh vào tâm can Dạ Thanh Sương.

Vui vẻ sao?

Hắn sững sờ. Đôi mắt phượng mở to, trống rỗng nhìn vào chén trà màu ngọc bích.

Hắn lục lọi trong ký ức một trăm mười sáu năm qua. Đỉnh Côn Lôn tuyết phủ trắng xóa, động đá bế quan lạnh lẽo tối tăm, những bữa tiệc tông môn giả tạo, những lời tâng bốc nịnh hót sáo rỗng... Hắn chưa từng cười. Hắn chưa từng cảm nhận được vị ngọt của một củ khoai nướng, chưa từng biết đến hương thơm của một ấm trà đêm, chưa từng biết thế nào là sự bình yên khi ngồi ngắm trăng dưới một giàn nho rợp bóng.

Cả cuộc đời hắn, trước khi rơi xuống dòng suối Lạc Hà này, chỉ là một chuỗi ngày dài đằng đẵng của sự chém giết, đề phòng và cô độc đến phát điên.

“Ngươi tu kiếm để làm gì?” Vân Triệt nhìn thẳng vào mắt hắn, hỏi tiếp: “Là để trở thành kẻ mạnh nhất thiên hạ để người đời khiếp sợ? Hay là để bảo vệ những điều ngươi thực sự trân quý? Nếu kiếm của ngươi chỉ mang lại máu tanh, thù hận và sự cô độc, thì thanh kiếm ấy... rốt cuộc là bảo vật, hay là một gông cùm trói buộc linh hồn ngươi?”

“Kiếm... là gông cùm sao?” Dạ Thanh Sương thì thào, khóe môi khẽ run rẩy.

“Đạo của trời đất sinh sôi không ngừng, vạn vật nương tựa vào nhau mà sống.” Vân Triệt chỉ tay lên giàn nho trên đầu: “Ngươi nhìn giàn nho này xem. Mùa đông trút hết lá, cành cây khô khốc trơ trụi như củi mục, tưởng chừng như đã chết. Nhưng rễ của nó vẫn âm thầm hút chất dinh dưỡng từ lòng đất. Để rồi xuân sang, nó lại đâm chồi nảy lộc, kết thành từng chùm quả ngọt che mát cho chúng ta ngồi uống trà đêm nay.”

Vân Triệt mỉm cười, ánh mắt tràn ngập vẻ bao dung: “Ngươi bây giờ cũng giống như nhành nho mùa đông ấy. Rời khỏi đỉnh Côn Lôn lạnh lẽo kia, mất đi tu vi Hóa Thần, bị tước đoạt danh hiệu Kiếm tôn... nhìn bề ngoài thì là một kiếp nạn, nhưng biết đâu lại là sự giải thoát lớn nhất đời ngươi? Ông trời cho ngươi ngã xuống mảnh đất này, không phải để ngươi chết đi trong uất hận, mà là cho ngươi một cơ hội để sống lại. Sống một cuộc đời thực sự của một con người, chứ không phải một cỗ máy chém giết vô tình.”

Từng lời, từng chữ của Vân Triệt mộc mạc, giản dị, không có những thuật ngữ tu tiên cao siêu, không có những giáo điều đạo mạo của tiên môn, nhưng nó lại mang theo sức mạnh của sự thật, sức mạnh của sinh mệnh tự nhiên, từng chút một thấm sâu vào cõi lòng khô héo của Dạ Thanh Sương.

Lần đầu tiên trong đời, có một người nói với hắn rằng hắn không cần phải trở thành kẻ mạnh nhất.

Lần đầu tiên trong đời, có một người bảo hắn rằng hãy buông thanh kiếm xuống để sống như một con người.

Một giọt nước ấm nóng chẳng biết từ lúc nào đã đọng lại nơi khóe mắt Dạ Thanh Sương, rồi khẽ lăn xuống gò má gầy guộc, rơi trúng vào chén trà trên bàn đá, làm gợn lên từng vòng sóng biếc lăn tăn.

Dạ Thanh Sương vội vã cúi đầu, dùng ống tay áo thô ráp lau nhanh qua khóe mắt. Hắn – một Kiếm tôn từng ngạo nghễ coi thường cái chết, máu chảy đầu rơi không chớp mắt – vậy mà đêm nay, dưới ánh trăng thôn dã và trước mặt một thiếu niên làm nông, lại rơi lệ.

Nhưng giọt nước mắt ấy không phải vì đau đớn hay yếu đuối, mà là sự cởi bỏ của lớp băng tuyết dầy cộp đã giam cầm trái tim hắn suốt hơn một thế kỷ qua.

Gánh nặng ngàn cân trên vai hắn như được dỡ xuống. Sự uất hận, oán thù gặm nhấm tâm can bấy lâu bỗng chốc tan biến đi phân nửa, hóa thành một sự thanh thản, nhẹ nhõm đến nghẹn ngào.

“Ta... đã hiểu một chút rồi.” Dạ Thanh Sương hít sâu một hơi, giọng nói trầm xuống, không còn sự sắc nhọn lạnh lùng như trước, mà mang theo một nét chân thành, mộc mạc: “Trước kia, ta cứ ngỡ tu đạo là phải đoạn tuyệt thất tình lục dục, phải đứng trên đỉnh cao cô độc nhìn xuống chúng sinh. Hóa ra... đại đạo lại ẩn chứa trong một tấc đất, một ngọn cỏ non thế này.”

Vân Triệt nghe vậy, nụ cười trên môi càng thêm rạng rỡ. Chàng vỗ nhẹ lên mu bàn tay thô ráp của Dạ Thanh Sương – một cái chạm nhẹ nhàng nhưng ấm áp như ánh nắng mùa xuân:

“Hiểu ra là tốt rồi. Uống tiếp đi, trà sắp nguội rồi đấy. Ngày mai còn phải dậy sớm, ba sào đất sỏi kia vẫn đang đợi ngươi cuốc cho xong đấy, tá điền của ta.”

Dạ Thanh Sương khẽ nhếch môi, trong đáy mắt phượng lần đầu tiên hiện lên một nụ cười chân thật, ấm áp: “Được. Ngày mai ta sẽ xới cho thật tơi xốp, tuyệt đối không làm gãy cán cuốc của ngươi nữa.”

Hai người ngồi đối diện nhau dưới giàn nho xanh, bóng trăng đổ dài trên nền đất. Tiếng suối Lạc Hà rì rầm như khúc hát ru êm đềm, gió xuân thổi qua mang theo hương cỏ cây thơm mát. Không khí thanh bình, tĩnh lặng của đêm thôn dã bao trùm lấy khoảng sân nhỏ, xóa nhòa đi mọi khoảng cách về thân phận, cảnh giới giữa hai con người.

Dạ Thanh Sương nâng chén trà lên, uống cạn từng ngụm cuối cùng.

Hơi ấm lan tỏa khắp tứ chi bách hải, hàn độc trong đan điền hoàn toàn lắng xuống, ngoan ngoãn thu mình lại dưới lớp sinh khí mộc linh ôn hòa. Một cảm giác an tâm, thư thái chưa từng có bao bọc lấy tâm trí hắn. Hắn thầm nghĩ, nếu như cả đời này cứ được làm một tá điền ở mảnh vườn này, sớm ra đồng cày cấy, tối về ngồi dưới giàn nho uống trà đàm đạo cùng thiếu niên này... thì danh vị Kiếm tôn kia, đỉnh cao Hóa Thần kia, có xá gì đâu?

Thế nhưng, thế sự trần gian vốn chẳng bao giờ chịu để con người ta yên ổn.

Ngay khi giọt trà cuối cùng vừa trôi xuống cổ họng Dạ Thanh Sương, nụ cười trên môi hắn bỗng nhiên đông cứng lại.

“Vù...”

Không gian tĩnh mịch của đêm xuân đột nhiên khẽ chấn động một nhịp rất nhẹ.

Sự chấn động ấy vô cùng yếu ớt, người phàm hay tu sĩ cảnh giới thấp như Vân Triệt tuyệt đối không thể nào phát hiện ra. Nhưng với một kẻ từng đứng ở đỉnh cao Hóa Thần, từng rèn luyện thần thức đạt đến cảnh giới cảm ứng thiên địa như Dạ Thanh Sương, dao động ấy chẳng khác nào một tiếng sấm sét nổ vang giữa trời quang!

Từ hướng triền núi Côn Lôn tuyết phủ xa xăm tít tắp, một luồng thần thức trinh sát sắc nhọn như lưỡi dao cạo, mang theo uy áp sắc lạnh, hung hãn và ngập tràn sát khí, đang điên cuồng quét dọc theo sườn núi xuống thung lũng!

Luồng thần thức ấy lướt qua những tán rừng mai, xé toạc màn sương đêm trên dòng suối Lạc Hà, rồi trong chớp mắt, quét thẳng ngang qua rặng cây bao quanh mảnh vườn nhỏ, lướt sượt qua nóc căn nhà tranh ba gian!

“Soạt!”

Toàn bộ lông tơ sau gáy Dạ Thanh Sương lập tức dựng đứng.

Đồng tử trong mắt hắn co rút lại thành hình mũi kim, hàn ý sâu thẳm vừa lắng xuống nay lại bùng lên trong đáy mắt.

Hắn quá quen thuộc với dao động của luồng thần thức này.

Đó là dao động của “Huyền Thiên Thần Kính” – một trong tam đại pháp bảo trấn phái của Côn Lôn Tiên Minh, bảo vật chuyên dùng để truy lùng tung tích nguyên thần và kiếm khí ngàn dặm!

Bọn chúng... đã lần theo dấu vết kiếm khí tàn dư lúc chiều của hắn, và đã tìm đến tận chân núi này rồi!

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn