Khi tiếng gà trống nhà Lão Trương nơi đầu thôn cất tiếng gáy đầu tiên xé toạc màn sương sớm, vạt rừng mai sau núi Côn Lôn vẫn còn chìm trong một màu lam xám mờ ảo.
Vân Triệt khẽ mở mắt. Chàng ngồi xếp bằng trên tấm phản gỗ thông, hít sâu một hơi khí lạnh thanh khiết của buổi ban mai vào lồng ngực. Trong cơ thể chàng, luồng khí tức ngũ hành vốn dĩ bị thế nhân chê cười là hỗn tạp, lúc này lại như một dòng suối ngầm êm ả, từ tốn vận chuyển theo vòng tròn sinh hóa. Thổ lắng đọng nuôi dưỡng Kim, Kim hóa thành dòng nước Thủy nhu hòa, Thủy tưới tắm cho Mộc linh bừng nở, Mộc sinh ra Hỏa ấm áp nơi tâm can, rồi Hỏa lại trở về bồi đắp cho Thổ trạch đan điền. Một vòng tuần hoàn bất tận, không chút bạo liệt, chậm rãi nhưng bền bỉ như chính nhịp thở của đất mẹ dưới chân.
Chàng nhẹ nhàng vươn vai, khớp xương vang lên những tiếng lách cách giòn giã. Sau khi chỉnh lại vạt áo ngắn màu xanh mạ giản dị và buộc gọn mái tóc đen bằng một dải dây gai thô, Vân Triệt rón rén đẩy cửa bước ra ngoài sân.
Sương sớm mùa xuân đọng trĩu trịt trên những chiếc lá nho non mới nhú trên giàn, chốc chốc lại rơi xuống mái tranh kêu khẽ “tách”. Không khí thoang thoảng mùi đất ẩm sau một đêm ngậm sương và hương thơm ngai ngái của cỏ dại ven bờ rào. Cảnh tượng thanh bình này là thứ mà Vân Triệt yêu thích nhất mỗi độ xuân về. Chàng bước tới góc sân, múc một gáo nước suối Lạc Hà trong vắt từ vại sành để súc miệng rửa mặt, cái lạnh buốt ngọt ngào khiến đầu óc lập tức tỉnh táo.
Nhìn sang gian phòng tây vẫn còn đóng kín cửa, khóe môi Vân Triệt khẽ cong lên thành một nụ cười ranh mãnh. Chàng nhớ tới dấu vân tay đỏ chói điểm chỉ trên tờ giấy nợ bằng vỏ dâu tằm hôm qua.
Hai trăm sáu mươi đồng tiền đồng, đổi lấy năm mươi hai ngày công của một vị Kiếm tôn Hóa Thần kỳ. Nghĩ tới đây, trong lòng Vân Triệt không khỏi dâng lên một cảm giác thỏa mãn kỳ lạ. Chàng quay người bước vào gian bếp nhỏ, châm củi nhóm lửa, đặt một ấm nước suối lên kiềng sắt, đồng thời lấy từ trong hòm gỗ ra một bộ y phục vải thô màu xám tro cũ nhưng đã được giặt giũ sạch sẽ, còn vương mùi thơm của nắng và lá sả phơi khô.
Cầm bộ y phục trên tay, chàng đi đến trước cửa phòng tây, giơ tay gõ nhẹ ba tiếng cộc cộc:
“A Sương tá điền, trời đã sáng rồi. Nếu ngươi còn không dậy thì bát cháo sáng nay sẽ bị trừ vào tiền công đấy.”
Bên trong gian phòng không có tiếng đáp lại, nhưng một luồng dao động yếu ớt của không khí sau cánh cửa không qua mắt được cảm quan Mộc linh nhạy bén của Vân Triệt. Chưa đầy ba hơi thở sau, cánh cửa gỗ kêu “két” một tiếng, từ từ mở ra.
Dạ Thanh Sương đứng đó, sống lưng thẳng tắp như một ngọn cổ tùng mọc trên vách đá cheo leo, dù sắc mặt vẫn còn vương nét trắng bệch vì hàn độc và mất máu. Hắn đã thức dậy từ lâu, trên người vẫn mặc chiếc áo trong mỏng manh màu trắng đã rách tả tơi vì kiếm khí hôm qua. Đôi mắt phượng sâu thẳm, lạnh lùng và u tối quét qua khuôn mặt rạng rỡ của Vân Triệt, mang theo sự cảnh giác tự nhiên của một con dã thú bị thương vừa bước ra khỏi hang tối.
“Sớm thế này đã gọi?” Giọng Dạ Thanh Sương khàn khàn, trầm thấp như tiếng đá cọ vào nhau.
“Làm nông thì phải biết thuận theo trời đất.” Vân Triệt thản nhiên đưa xấp y phục xám tro cùng một chiếc khăn vải thô sang: “Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ. Sương sớm vừa tan là lúc đất mềm nhất, xới lên sẽ giữ được độ ẩm cho hạt mầm nảy chồi. Mặc bộ này vào đi, y phục rách nát của ngươi mà ra đồng thì chỉ tổ làm bia ngắm cho lũ quạ rỉa mồi.”
Dạ Thanh Sương nhìn bộ y phục bằng vải gai thô ráp trong tay Vân Triệt. Trong suốt hơn một trăm năm tu kiếm, y phục của hắn chưa bao giờ rời khỏi tơ tằm thượng phẩm dệt từ kén Nguyệt Tằm vùng Băng Nguyên, nhẹ như mây và đao thương bất nhập. Thứ vải thô kệch, sần sùi này, ngay cả hạ nhân quét dọn ở ngoại môn Thanh Vân Phái cũng chê không thèm mặc.
Thế nhưng, khi ngón tay chạm vào thớ vải, một cảm giác khô ráo, ấm áp và thoang thoảng hương thơm mộc mạc của cỏ cây lại truyền đến, xua bớt cái lạnh lẽo thấu xương đang âm ỉ rỉ ra từ đan điền. Dạ Thanh Sương mím môi, không nói một lời, nhận lấy bộ quần áo rồi quay vào phòng khép cửa lại.
Một lát sau, cánh cửa lại mở ra.
Vân Triệt đang đứng tựa vào cột hiên nhìn thấy hắn bước ra, không kìm được mà nhướng mày đánh giá một lượt.
Bộ y phục vốn là đồ cũ của Vân Triệt nên mặc lên người Dạ Thanh Sương có phần hơi ngắn ở ống tay và gấu quần, để lộ ra cổ tay gầy guộc đầy những vết sẹo kiếm chém ngang dọc và mắt cá chân trắng nhợt. Thế nhưng, khí chất ngạo nghễ, xuất trần cùng vóc người cao ráo, bờ vai rộng và sống lưng thẳng tắp của cựu Kiếm tôn lại khiến bộ đồ vải thô xám xịt kia trông chẳng khác nào trường bào của một vị ẩn sĩ lánh đời. Khuôn mặt tuấn tú góc cạnh, đôi mày kiếm sắc bén dưới ánh nắng sớm mai bỗng bớt đi vài phần sát khí tanh nồng, thêm vào đó là chút nét phong trần kỳ lạ.
“Khá lắm, trông ra dáng một gã lực điền rồi đấy.” Vân Triệt bật cười trêu chọc, bỏ qua ánh mắt sắc như dao cạo của đối phương, xoay người ngoắc tay: “Đi theo ta, nhận binh khí của ngươi hôm nay.”
Dạ Thanh Sương khẽ nhíu mày khi nghe thấy hai chữ “binh khí”. Trong lòng hắn bỗng dâng lên một tia hy vọng mong manh xen lẫn chua xót. Chẳng lẽ thiếu niên này nhận ra hắn là kiếm tu, nên định đưa cho hắn một thanh kiếm gỗ để luyện tập phục hồi kinh mạch?
Hắn lẳng lặng bước theo sau Vân Triệt, đi vòng qua giàn nho xanh mướt ra chòi chứa đồ phía sau nhà tranh.
Khu chòi nhỏ được che chắn bằng những thân tre đan khéo léo, bên trong xếp ngay ngắn các loại quang gánh, bồ sọt, rổ rá và nhiều loại nông cụ bằng sắt đã gỉ sét. Mùi rơm rạ khô quyện với mùi dầu trẩu bảo dưỡng kim loại xông vào mũi.
Vân Triệt khom lưng, lục lọi trong góc chòi một lúc rồi lôi ra một vật, quay lại đưa thẳng về phía Dạ Thanh Sương:
“Đây, binh khí của ngươi.”
Dạ Thanh Sương sững sờ, bàn tay theo bản năng giơ ra đỡ lấy.
Đó hoàn toàn không phải kiếm. Thậm chí một khúc gỗ gọt hình lưỡi kiếm cũng không phải.
Thứ nằm trong tay hắn là một chiếc cuốc sắt cũ kỹ. Lưỡi cuốc bằng gang đen sì, mép cuốc đã mòn vẹt và mẻ mất một góc nhỏ vì va vào sỏi đá, cán cuốc làm bằng gỗ dẻ rừng màu nâu sẫm, bề mặt nhẵn bóng lên nước vì mồ hôi của người dùng qua nhiều năm tháng. Chiếc cuốc nặng chừng bảy tám cân, khi cầm trên tay mang lại cảm giác thô kệch, nặng nề và vụng về đến tột độ.
“Cuốc?” Khóe môi Dạ Thanh Sương giật giật, thanh âm mang theo sự khó tin tột cùng.
“Đúng vậy, cuốc sắt gia truyền ba đời nhà ta đấy, đừng có coi thường nó.” Vân Triệt khoanh tay trước ngực, hất cằm về phía mảnh đất trống trải dài phía đông giáp chân núi: “Mục tiêu hôm nay của ngươi là ba sào đất pha sỏi đằng kia. Trận lũ bùn cuối đông năm ngoái đã cuốn theo một lượng lớn đá sỏi từ vách Côn Lôn tràn xuống, lấp kín mặt ruộng. Ngươi phải xới tơi ba luống đất đầu tiên, nhặt sạch toàn bộ sỏi đá to bằng nắm tay trở lên vứt sang bên bờ mương, sau đó cào phẳng mặt luống để chiều nay ta ươm hạt giống cải Thanh Hà. Hiểu chưa?”
Dạ Thanh Sương đứng chết trân tại chỗ. Bàn tay hắn từng nắm chuôi Vô Trần kiếm chém đứt đầu yêu vương, từng thi triển kiếm khí rạch nát bầu trời phân chia ranh giới sinh tử, nay lại phải cầm chiếc cuốc gỉ sét này đi cày đất nhặt sỏi?
“Ta không biết cuốc đất.” Dạ Thanh Sương lạnh lùng nói, toan ném chiếc cuốc xuống đất.
“Không biết thì phải học.” Ánh mắt Vân Triệt bỗng trở nên nghiêm túc, chàng bước tới một bước, bàn tay thon dài đè chặt lên mu bàn tay đang siết cán cuốc của Dạ Thanh Sương: “A Sương, ngươi đã điểm chỉ vào khế ước. Một ngày không làm việc là một ngày không có cơm ăn, đồng thời nợ nần sẽ bị cộng dồn lãi mẹ đẻ lãi con. Ngươi nghĩ cơm gạo, thảo dược trên đời này tự nhiên từ trên trời rơi xuống cho ngươi hưởng sao? Từng cọng rau ngươi nuốt vào bụng hôm qua đều được nuôi lớn từ mảnh đất sỏi đá này đấy.”
Ánh mắt trong veo như suối nguồn nhưng ẩn chứa sự kiên định không thể lay chuyển của Vân Triệt khiến ngọn lửa bực bội trong lòng Dạ Thanh Sương vừa bùng lên đã bị dập tắt ngấm. Hắn nhìn chăm chú vào đôi mắt ấy, rồi lại nhìn xuống lưỡi cuốc sắt đen sì. Cuối cùng, hắn hừ lạnh một tiếng, xoay người sải bước dài đi về phía mảnh đất pha sỏi phía đông.
Vân Triệt mỉm cười, thong thả vác một chiếc cào gỗ nhỏ bước theo sau.
Mảnh đất ba sào của Vân Triệt nằm thoai thoải bên sườn núi, đất thịt màu nâu sẫm bị phủ lên bởi một lớp sỏi đá trắng xám lởm chởm. Gió sớm từ khe núi thổi xuống mang theo hơi lạnh buốt giá, khiến những ngọn cỏ dại run rẩy nghiêng ngả.
Dạ Thanh Sương đứng trước luống đất đầu tiên. Hắn hít sâu một hơi, điều chỉnh tư thế. Dù không biết làm nông, nhưng với bản năng của một kiếm tu đỉnh phong, hắn lập tức áp dụng bộ pháp và kiếm chiêu của môn phái vào việc cầm cuốc. Chân trái bước lên nửa bước thành hình chữ đinh, chân phải làm trụ vững chắc như bàn thạch, hai tay siết chặt lấy cán gỗ dẻ như đang nắm chuôi thanh đại kiếm nặng ngàn cân. Sát khí vô hình từ tàn dư kiếm ý trong người hắn khẽ dao động, khiến vạt áo xám bay phần phật trong gió sớm.
Vân Triệt đứng cách đó mười bước, nhìn thấy tư thế như lâm đại địch của hắn thì vừa buồn cười vừa lắc đầu: “Này, ngươi đang định đánh nhau với long mạch đất đấy à? Thả lỏng người ra một chút...”
Lời của Vân Triệt còn chưa dứt, Dạ Thanh Sương đã ra chiêu.
Hắn vận dụng thức thứ nhất trong Hàn Băng Kiếm Quyết mang tên “Băng Phong Vạn Lý”, dồn toàn bộ sức mạnh thể xác cùng chút tàn dư linh lực ít ỏi vừa mới hồi phục vào cánh tay, vung mạnh chiếc cuốc sắt từ trên đỉnh đầu giáng thẳng xuống mặt đất!
“Vút——!”
Tiếng xé gió rít lên chói tai như một đạo kiếm quang bổ xuống.
“RẮC!”
Một âm thanh giòn giã vang lên xé toạc không gian thanh tĩnh của buổi sớm mai. Lưỡi cuốc sắt cắm phập vào một tảng đá ngầm sâu dưới lòng đất, tia lửa bắn tung tóe xèo xèo. Thế nhưng, cán gỗ dẻ rừng dẻo dai không chịu nổi kình lực bạo liệt ngàn cân dồn nén đột ngột, lập tức gãy đôi làm hai đoạn!
Không dừng lại ở đó, luồng cương khí sắc bén vô thức phóng ra từ mũi cuốc xới tung cả một mảng đất lớn, đất đá, sỏi vụn bắn vung vãi tứ tung như mưa rào. Cả một khoảng đất non nớt bị cày nát bét thành một cái hố sâu hoắm nham nhở, đất thịt bị nghiền nát thành tro bụi mịn, còn lớp sỏi đá bên dưới thì trồi hết lên bề mặt. Vài mảnh đá dăm sắc nhọn bắn ngược trở lại, sượt qua gò má và làm rách thêm một vạt áo thô của Dạ Thanh Sương.
Bụi đất mịt mù tan đi.
Dạ Thanh Sương vẫn duy trì tư thế chém kiếm, nhưng trong tay hắn lúc này chỉ còn trơ trọi một đoạn cán gỗ gãy lởm chởm dài hơn hai gang tay. Đoạn cán còn lại cùng lưỡi cuốc sắt đã cắm sâu vào tảng đá ngầm trong hố, khói trắng bốc lên nghi ngút.
Gương mặt tuấn tú lạnh lùng của cựu Kiếm tôn cứng đờ. Đôi mắt phượng mở to nhìn cái hố sâu trước mặt, rồi lại nhìn khúc gỗ gãy trong tay mình. Đôi tai hắn, ẩn sau những lọn tóc đen rối bời, bỗng nhiên đỏ ửng lên một cách bất thường. Đó là sự lúng túng, bối rối và thẹn thùng mà cả đời hắn – người từng một kiếm chém gãy cửu đỉnh Côn Lôn – chưa từng trải qua.
“Phụt...”
Một tiếng cười không kìm nén được bật ra.
Vân Triệt ôm bụng cười rũ rượi, cười đến mức ngửa nghiêng cả người, đôi mắt sáng lấp lánh cong lại thành hình trăng khuyết: “Ha ha ha... A Sương, ta bảo ngươi xới đất ươm cải, chứ có bảo ngươi đào mồ chôn thân đâu! Ngươi... ngươi dùng Băng Phong Kiếm Ý để bổ đá cuội đấy à? Chiếc cuốc gỗ dẻ của ta... trời ơi, Lão Trương rèn cho ta mất đứt mười lăm đồng đấy!”
Gương mặt Dạ Thanh Sương thoắt xanh thoắt trắng. Hắn nghiến chặt răng, vứt mạnh khúc cán gãy xuống đất, quay đầu sang chỗ khác, lạnh giọng nói: “Nông cụ phàm trần mục nát, chất lượng tồi tệ. Đất này quá nhiều đá, không thể canh tác.”
“Ai bảo ngươi là không thể canh tác?”
Vân Triệt nén cười, bước lại gần chiếc hố nham nhở. Chàng khom người xuống, nhặt đoạn cán gãy và nhổ lưỡi cuốc sắt lên xem xét, thấy lưỡi chỉ bị mẻ thêm một chút chứ không gãy thì thở phào nhẹ nhõm. Chàng đặt cuốc hỏng sang một bên, sau đó quay lại lôi từ trong chòi ra một chiếc cuốc sắt khác – chiếc cuốc dự phòng mà chàng vẫn thường dùng.
“Lại đây.” Vân Triệt vẫy tay gọi, giọng điệu đã dịu lại, không còn vẻ trêu chọc mà tràn đầy sự kiên nhẫn ấm áp.
Dạ Thanh Sương đứng im bất động như pho tượng đá, rõ ràng là lòng tự tôn của Kiếm tôn đang giãy giụa kịch liệt.
“Mau lại đây, chẳng lẽ ngươi muốn đứng đó phơi sương cho hàn độc tái phát à?” Vân Triệt bước tới, dứt khoát nắm lấy cổ tay hắn kéo lại gần luống đất bên cạnh cái hố.
Bàn tay Vân Triệt ấm áp lạ thường, lớp da thịt mềm mại nhưng có những vết chai mỏng nơi lòng bàn tay tiếp xúc với làn da lạnh buốt của Dạ Thanh Sương, truyền sang một luồng nhiệt lượng dịu êm khiến cơ thể hắn khẽ giật mình một cái, nhưng kỳ lạ là hắn không hề có ý định hất tay chàng ra.
“Nhìn cho kỹ này.” Vân Triệt nhét cán cuốc vào tay Dạ Thanh Sương, nhưng lần này chàng không buông tay ra, mà áp cả hai bàn tay mình lên mu bàn tay thô ráp của hắn.
Hơi thở ấm áp của Vân Triệt phả nhẹ bên vành tai Dạ Thanh Sương, mang theo mùi hương thanh khiết của thảo mộc và ánh nắng ban mai. Khoảng cách giữa hai người gần đến mức Dạ Thanh Sương có thể nghe thấy nhịp tim đập đều đặn, bình thản của thiếu niên bên cạnh. Toàn thân cựu Kiếm tôn bỗng chốc cứng đờ, hô hấp cũng bất giác ngừng trệ.
“Thả lỏng hai vai xuống.” Vân Triệt nhẹ giọng nhắc nhở, bàn tay khẽ ấn nhẹ lên vai hắn: “Đừng gồng cứng như chuẩn bị quyết đấu sinh tử. Lưng hơi khom tự nhiên theo độ cong của cán cuốc, đầu gối chùng xuống một chút để dồn trọng tâm vào đan điền. Đất đai dưới chân không phải là kẻ thù của ngươi, nó không có sát khí, ngươi dùng sức mạnh hung bạo để trấn áp nó, nó sẽ dùng sự cứng rắn của đá tảng để phản phệ lại ngươi.”
Vân Triệt vừa nói, vừa nhẹ nhàng điều khiển tay của Dạ Thanh Sương nâng cuốc lên. Lần này, góc cuốc chỉ nâng cao ngang ngực, mũi cuốc chúc xuống một góc nghiêng vừa phải.
“Kiếm đạo của ngươi là đâm, là chém, là hủy diệt sự sống để giành lấy thắng lợi.” Vân Triệt trầm giọng nói, thanh âm như có ma lực rót thẳng vào tâm thức của Dạ Thanh Sương: “Nhưng đạo của đất trời lại là sinh sôi. Ngươi nhìn xem, trong đan điền ngươi tuy kinh mạch tổn hại, nhưng vẫn còn sót lại những tia kiếm khí sắc bén sắc lẻm như băng tuyết đúng không? Đừng phóng nó ra ngoài thành lưỡi đao bạo ngược. Hãy thử xem... biến nó thành một làn gió xuân nhẹ nhàng xem sao.”
“Làn gió xuân?” Dạ Thanh Sương lẩm bẩm trong miệng, ánh mắt hiện lên vẻ mờ mịt. Trăm năm qua, kiếm của hắn chỉ biết gầm thét như bão tuyết phương bắc, chỉ biết đóng băng máu tươi của kẻ thù, chưa từng có ai dạy hắn kiếm có thể hóa thành gió xuân.
“Phải, gió xuân ấm áp làm tan băng tuyết.” Vân Triệt mỉm cười, dẫn dắt bàn tay Dạ Thanh Sương hạ cuốc xuống: “Bổ cuốc xuống bằng sức nặng tự nhiên của gang thép, không cần dùng man lực. Khi lưỡi cuốc vừa chạm vào đất, hãy dùng tàn dư kiếm khí xoay nhẹ một vòng... như thế này...”
Dưới sự chỉ dẫn của Vân Triệt, lưỡi cuốc sắt cắm nhẹ nhàng vào lớp đất thịt pha sỏi, sâu chừng nửa gang tay. Một tiếng “phập” trầm đục, êm ái vang lên.
Dạ Thanh Sương theo bản năng điều động một tia kiếm khí tàn dư nơi ngón tay. Lần này, hắn không bộc phát sát ý, mà men theo sự ấm áp từ bàn tay Vân Triệt truyền sang, chậm rãi phân tán tia kiếm khí đó ra thành mười mấy sợi tơ mỏng như sợi khói, luồn lách qua các thớ đất.
Kỳ diệu thay! Những sợi kiếm khí mỏng manh ấy như những ngón tay vô hình luồn sâu vào lòng đất, khẽ khàng nâng bẩy những viên sỏi sắc nhọn ra khỏi lớp đất thịt mà không hề làm vỡ nát chúng. Lưỡi cuốc hơi kéo ngược về phía sau, lớp đất đen màu mỡ lập tức lật lên, tơi xốp, mịn màng như bột bánh, phơi bày ra dưới ánh nắng ban mai những thớ đất ẩm ướt thơm nồng sinh khí.
Không có tiếng nổ long trời lở đất, không có đá sỏi bắn tung tóe, chỉ có tiếng đất cựa mình thức giấc nhẹ tênh.
Dạ Thanh Sương sững sờ nhìn thớ đất phẳng phiu, tơi xốp vừa hiện ra dưới mũi cuốc. Một cảm giác run rẩy kỳ lạ từ lòng bàn tay chạy dọc theo cánh tay, lan tỏa vào tận sâu trong đan điền rách nát của hắn. Tầng băng hàn độc phong ấn thần kiếm Vô Trần dường như lại khẽ nứt ra một khe hở nhỏ xíu, để lộ ra một tia ấm áp mà hắn chưa từng cảm nhận được trong suốt một thế kỷ qua.
“Thấy chưa?” Vân Triệt buông tay ra, lùi lại một bước, cười rạng rỡ vỗ tay: “Chính là như vậy! Đạo pháp tự nhiên, dĩ nhu khắc cương. Dùng kiếm khí để nâng đỡ sinh linh, chứ không phải để chém đứt gốc rễ. Ngươi làm tốt lắm, A Sương.”
Dạ Thanh Sương nhìn bàn tay vừa rời khỏi mu bàn tay mình, cảm giác ấm áp mất đi khiến lòng bàn tay hắn bỗng thấy trống trải lạ kỳ. Hắn ngẩng đầu nhìn nụ cười rạng ngời như hoa nở của thiếu niên trước mặt, đôi mắt sâu thẳm khẽ chớp động, bờ môi mỏng mím lại, khẽ gật đầu một cái:
“... Ta hiểu rồi.”
“Tốt! Vậy ba luống đất này giao cả cho ngươi đấy. Ta đi nhổ cỏ bên vườn thuốc, giữa trưa ta sẽ quay lại kiểm tra.”Vân Triệt dặn dò xong liền xoay người xách cào gỗ đi về phía vườn thuốc sau nhà, để lại một mình Dạ Thanh Sương đứng giữa mảnh đất pha sỏi mênh mông.
Gió sớm vẫn thổi qua sườn Côn Lôn, nhưng không khí dường như đã bớt đi vài phần buốt giá. Dạ Thanh Sương đứng thẳng người, hít sâu một hơi mùi đất ẩm thơm nồng. Hắn nâng cuốc lên, ánh mắt tập trung cao độ như khi đối diện với kiếm chiêu của một vị tông sư cái thế.
“Phập... sột xoạt...”
Nhát cuốc thứ hai giáng xuống, chuẩn xác và êm ái.
Nhát thứ ba...
Nhát thứ tư...
Từng nhát, từng nhát một, nhịp nhàng và đều đặn như nhịp thở của tự nhiên. Dạ Thanh Sương dần dần chìm đắm vào một trạng thái kỳ diệu. Hắn phát hiện ra rằng, việc điều tiết kiếm khí thành những sợi tơ mỏng manh để lách qua từng viên sỏi đá, phân loại đất thịt và đất cát, đòi hỏi sự chuẩn xác và vi diệu đối với thần thức còn vượt xa việc thi triển những kiếm chiêu sát phạt cuồng bạo.
Mỗi một lần kiếm khí chạm vào lòng đất, hắn dường như nghe thấy tiếng thì thầm của những hạt mầm đang ngủ vùi, cảm nhận được hơi thở ấm áp của địa mạch Côn Lôn đang chảy trôi dưới sâu ngàn trượng. Kinh mạch vốn đau nhức dữ dội mỗi khi vận công, nay dưới sự vận hành tuần hoàn êm ả này lại bắt đầu có dấu hiệu thư giãn, từng luồng hàn độc bị tống khứ dần dần qua những giọt mồ hôi rịn ra trên trán.
Mặt trời dần lên cao, xua tan hoàn toàn màn sương sớm bảng lảng. Ánh nắng vàng như mật rải đều lên bãi đất, chiếu rọi tấm lưng áo màu xám tro ướt đẫm mồ hôi của cựu Kiếm tôn.
Đến khoảng giữa buổi sáng, luống đất đầu tiên dài hơn hai mươi trượng đã được xới tơi xốp hoàn toàn, thẳng tắp và phẳng phiu như một tấm thảm nhung đen tuyền trải dài dưới chân núi. Bên cạnh luống đất là một hàng sỏi đá được xếp ngay ngắn, không sót lại dù chỉ một viên to bằng ngón chân cái.
Đúng lúc Dạ Thanh Sương dừng cuốc, giơ tay áo thô lên lau mồ hôi trên trán, từ phía con đường mòn nhỏ ven suối bỗng vang lên tiếng bước chân lẹp xẹp cùng tiếng thở hổn hển của một đứa trẻ.
“Vân ca ca ơi! Có nhà không?”
Một cái đầu nhỏ thò qua hàng rào mắt cáo kết bằng dây leo quanh vườn. Đó là một cậu bé chừng bảy tám tuổi, mặc chiếc áo cộc tay vá chằng vá đụp, hai má phúng phính đỏ ửng như quả táo rừng, trên đầu thắt hai búi tóc củ hành ngộ nghĩnh. Cậu bé ôm trong lòng một chiếc bọc lá sen to tướng, cẩn thận trèo qua khe rào bước vào sân.
Đó chính là Tiểu Đậu Tử, đứa trẻ mồ côi được cả thôn Lạc Hà nuôi nấng, thường ngày rất thích bám theo Vân Triệt để học hái thuốc và xin hoa quả ngọt.
Tiểu Đậu Tử vừa bước vào sân đã nhìn thấy bóng dáng cao lớn lạ mặt đang đứng giữa mảnh đất phía đông. Cậu bé khựng lại, đôi mắt tròn xoe chớp chớp đầy tò mò. Ở thôn Lạc Hà này, người phàm qua lại chỉ có vài chục nóc nhà, ai nấy đều quen mặt, đột nhiên xuất hiện một người lạ tuấn tú như trăng rằm, lại mặc y phục thô mộc của Vân ca ca, khiến đứa nhỏ không khỏi ngạc nhiên.
Dạ Thanh Sương cũng nhìn thấy đứa trẻ. Hắn lập tức siết chặt cán cuốc trong tay, ánh mắt theo thói quen co rút lại, tỏa ra một tia phòng bị lạnh lùng. Đối với hắn, bất kỳ sự xuất hiện của người lạ nào cũng có thể là mật thám của tông môn truy sát.
Thế nhưng, Tiểu Đậu Tử dường như hoàn toàn không cảm nhận được tia lạnh lẽo trong mắt hắn. Đứa trẻ thấy hắn nhìn mình, bèn nhoẻn miệng cười toe toét, hàm răng sún để lộ một khoảng trống ngộ nghĩnh. Nó thoăn thoắt chạy lại gần mép luống đất, nhìn ngắm dải đất đen mịn màng phẳng phiu dưới chân Dạ Thanh Sương, miệng không ngớt trầm trồ:
“Oa... Đẹp quá đi mất!”
Tiểu Đậu Tử ngước khuôn mặt tròn xoe lên nhìn Dạ Thanh Sương, giọng nói trong veo líu lo: “Đại ca ca áo xám, huynh là họ hàng phương xa của Vân ca ca đến chơi sao? Huỳnh cuốc đất giỏi quá chừng! Đất mịn tưng như bột bánh khảo mẹ Trương thợ rèn làm dịp Tết vậy đó! Bác Trương lực lưỡng thế mà cuốc đất còn không phẳng được bằng một góc của huynh đâu!”
Lời khen ngợi ngây thơ, chân chất như dòng suối ngọt ngào bất ngờ giáng thẳng vào màng nhĩ của Dạ Thanh Sương.
Bờ vai rộng và sống lưng thẳng tắp của cựu Kiếm tôn bỗng khẽ run lên một cái. Bàn tay cầm cuốc của hắn cứng đờ, vẻ mặt lạnh lùng ngưng đọng lại thành một sự ngơ ngác tột cùng.
Giỏi cuốc đất?
Khen hắn cuốc đất giỏi hơn thợ rèn trong thôn?
Trăm năm qua, những lời người ta nói về Dạ Thanh Sương chỉ toàn là: “Hàn Tiêu Kiếm Tôn lãnh huyết vô tình”, “Kiếm xuất tất kiến huyết”, “Tuyệt thế kiếm tài ngàn năm khó gặp của Côn Lôn Tiên Minh”... Những kẻ quỳ dưới chân hắn chỉ run rẩy cầu xin tha mạng, hoặc ghen ghét đố kỵ với kiếm thuật của hắn. Chưa từng có một ai, dù là đứa trẻ con hay bậc chí tôn, nhìn vào hắn mà nở một nụ cười rạng rỡ và khen hắn cuốc đất giỏi cả.
Dạ Thanh Sương đứng chết trân tại chỗ, đôi môi mỏng mấp máy vài lần nhưng không biết phải đáp lại thế nào. Lần đầu tiên trong đời, cựu Kiếm tôn cảm thấy đối phó với một đứa trẻ phàm nhân không có nửa điểm tu vi lại khó khăn hơn việc đối đầu với mười đại trưởng lão Hóa Thần kỳ hợp kích.
Tiểu Đậu Tử thấy đại ca ca không nói gì, tưởng huynh ấy mệt, bèn cúi xuống mở bọc lá sen trong lòng ra. Mùi thơm ngọt ngào, bùi bùi ngào ngạt của mật khoai nướng lập tức bốc lên nghi ngút trong không gian.
Bên trong là hai củ khoai lang mật to bằng bắp tay, vỏ ngoài nướng cháy sém màu than củi, nứt ra để lộ phần ruột vàng óng ả ứa mật ngọt lịm.
“Cho huynh một củ này!” Tiểu Đậu Tử kiễng chân, hai tay cẩn thận bẻ đôi chiếc lá sen, bọc lấy một củ khoai nóng hổi chìa lên trước mặt Dạ Thanh Sương: “Khoai mật đệ nướng vùi trong đống trấu lò rèn của bác Trương suốt từ sáng sớm đấy, ngọt lịm như mật ong rừng luôn! Vân ca ca bảo làm việc mệt mỏi mà được ăn khoai nướng thì sướng nhất trần đời. Huynh mau cầm lấy kẻo nguội mất!”
Củ khoai nướng nóng hổi bốc khói nghi ngút dừng lại ngay trước ngực hắn. Hơi ấm của than củi và mùi ngọt thanh của củ khoai phàm trần xộc thẳng vào khứu giác.
Dạ Thanh Sương nhìn chằm chằm vào củ khoai, rồi lại nhìn đôi mắt đen láy trong veo không chút tạp niệm của đứa trẻ. Trong đôi mắt ấy chỉ có sự ngưỡng mộ thuần khiết và lòng tốt đơn sơ, hoàn toàn không có sự sợ hãi, không có toan tính, cũng không có bất kỳ âm mưu hiểm độc nào của chốn tu chân tàn khốc.
Bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của Dạ Thanh Sương khẽ run rẩy. Hắn từ từ buông một tay khỏi cán cuốc, vụng về giơ ra đón lấy củ khoai nướng từ tay đứa bé. Vỏ khoai nóng rẫy làm các đầu ngón tay hắn tê rần, nhưng hơi ấm ấy lại như một dòng nước ấm chảy thẳng vào trái tim đang đóng băng của hắn.
“... Cảm ơn.”
Dạ Thanh Sương cất giọng khàn đặc, hai chữ thốt ra vô cùng khó khăn, ngượng nghịu đến mức chính hắn cũng phải giật mình. Hắn không nhớ nổi lần cuối cùng mình nói lời cảm ơn với một người là từ bao giờ, có lẽ là từ khi hắn còn là một đứa trẻ mồ côi lang thang trước khi bước chân l*n đ*nh núi tuyết Côn Lôn lạnh lẽo.
Tiểu Đậu Tử cười tít mắt, vẫy tay chào: “Huynh ăn ngon miệng nhé! Đệ đi tìm Vân ca ca đây!” Nói rồi, cậu bé ôm nửa bọc lá sen còn lại, tung tăng chạy về phía vườn thuốc sau nhà.
Dạ Thanh Sương đứng lại một mình bên luống đất. Hắn cúi đầu, nhìn củ khoai nướng vàng ruộm trên tay. Sau một thoáng do dự, hắn khẽ đưa lên miệng cắn một miếng nhỏ.
Vị ngọt lịm của mật khoai tan ngay trên đầu lưỡi, bùi béo, mềm mịn và nóng ấm lan tỏa khắp khoang miệng rồi từ từ trôi xuống cổ họng. Một thứ mỹ vị nhân gian mộc mạc đến cùng cực, không hề chứa đựng linh khí nồng đậm như những quả linh đào ngàn năm trên tiên môn, nhưng lại mang đến một cảm giác no đủ, an yên và chân thật đến lạ kỳ.
Khóe môi Dạ Thanh Sương bỗng khẽ cong lên một độ cong rất nhỏ, nhỏ đến mức gần như không thể nhận ra, nhưng tảng băng vĩnh cửu trên khuôn mặt tuấn tú ấy dường như đã bắt đầu tan chảy từng chút một.
...
Đến chính ngọ, khi bóng nắng thu tròn lại dưới chân, tiếng chuông đồng nhỏ treo dưới mái hiên nhà tranh khẽ ngân lên một tiếng trong trẻo.
Vân Triệt từ gian bếp bước ra, trên tay bưng một chiếc mâm gỗ mộc mạc, cất tiếng gọi vang:
“A Sương, nghỉ tay vào ăn cơm trưa thôi!”
Dạ Thanh Sương cắm chiếc cuốc sắt ngay ngắn bên cạnh bờ ruộng, rũ sạch bụi đất bám trên ống quần rồi bước về phía hiên nhà. Ba luống đất sỏi đá ban sáng giờ đây đã biến thành ba dải đất đen mượt mà, thẳng tắp, bờ luống được đắp cao vừa phải để thoát nước, đẹp đẽ và vuông vức như một bức họa điền viên.
Vân Triệt đứng bên hiên nhà, nhìn thấy thành quả ba luống đất của hắn thì không khỏi thầm kinh ngạc trong lòng. Chàng biết kiếm tu có khả năng khống chế lực đạo và thần thức cực kỳ tinh vi, nhưng không ngờ vị cựu Kiếm tôn này lại có thể lĩnh ngộ nhanh đến thế. Từ một nhát cuốc làm vỡ nát cả tảng đá ngầm ban sáng, đến trưa đã có thể cuốc được những thớ đất hoàn mỹ không chê vào đâu được thế này.
“Rửa tay ở vại nước đằng kia rồi lại đây.” Vân Triệt mỉm cười đặt mâm cơm lên chiếc bàn gỗ nhỏ đặt dưới bóng râm của giàn nho.
Bữa trưa đượm khói bếp nhân gian vô cùng đơn sơ, nhưng lại toát lên sự tinh tế và thanh khiết. Một niêu cơm gạo đỏ nấu bằng niêu đất nung, hạt cơm nở đều, bóng bẩy và tỏa hương thơm ngào ngạt của lúa mới; một đĩa rau tập tàng xanh mướt gồm rau dớn rừng, ngọn rau má và lá bồ công anh non vừa hái bên bờ rào luộc chín tới, vẫn còn giữ nguyên màu ngọc bích; một bát nước luộc rau trong veo vắt thêm nửa quả quất rừng chua thanh; và chính giữa mâm là một chiếc đĩa gốm nhỏ đựng tương đậu nành do chính tay Vân Triệt ủ từ mùa thu năm ngoái, rắc thêm chút tiêu rừng cay nồng bốc khói thơm phức.
Dạ Thanh Sương rửa sạch bùn đất trên tay, bước tới ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng tre đối diện với Vân Triệt.
Vân Triệt xới cho hắn một bát cơm đầy ắp có ngọn, đưa đôi đũa tre sang: “Hôm nay làm việc vất vả rồi, ăn nhiều một chút để bù đắp khí lực.”
Dạ Thanh Sương nhận lấy bát cơm nóng hổi, bàn tay hắn sau nửa ngày cầm cuốc đã xuất hiện vài vết phồng rộp đỏ ửng nơi kẽ tay – những vết thương phàm trần mà trăm năm qua tu vi Hóa Thần chưa từng để lại trên da thịt hắn. Thế nhưng, hắn không hề cảm thấy đau đớn, ngược lại còn có một cảm giác nhẹ nhõm, khoan khoái kỳ lạ.
Hắn gắp một ngọn rau dớn luộc, chấm nhẹ vào bát tương đậu rồi đưa vào miệng.
Vị giòn ngọt thanh mát của ngọn rau rừng quyện với vị mặn mòi, bùi béo đậm đà của tương đậu lên men tự nhiên, kèm theo chút cay the the của tiêu rừng bùng nổ nơi khoang miệng. Nuốt xuống một miếng cơm gạo đỏ dẻo thơm, một luồng sinh khí Mộc linh ôn nhu từ từ thẩm thấu vào ngũ tạng lục phủ, xua tan đi sự mỏi mệt của cơ bắp và xoa dịu những vết rách trong kinh mạch.
“Thế nào? Tương đậu ta ủ một năm có ngon không?” Vân Triệt vừa và một miếng cơm vừa chớp mắt hỏi, trong đáy mắt lấp lánh sự tự hào của một người làm nông.
Dạ Thanh Sương nhai kỹ nuốt chậm, im lặng một lúc rồi khẽ đáp: “... Rất ngon.”
“Ngon thì ăn hết cả đĩa rau đi, đừng để thừa cọng nào.” Vân Triệt cười tít mắt, gắp thêm một đũa rau lớn bỏ vào bát hắn: “Tiểu Đậu Tử lúc nãy sang khen ngươi nức nở đấy. Thằng bé bảo chưa thấy ai cuốc đất khéo như ngươi. Thậm chí nó còn đem cả củ khoai quý giá nhất của nó cho ngươi nữa.”
Nghe nhắc đến củ khoai nướng, khóe tai Dạ Thanh Sương lại hơi ửng đỏ. Hắn cúi đầu ăn cơm, lẩm bẩm: “Đứa nhỏ đó... quá nhiều lời.”
“Trẻ con thôn dã là thế, lòng dạ chúng nó như tờ giấy trắng, ai tốt với chúng nó, ai làm việc giỏi là chúng nó quý ngay.” Ánh mắt Vân Triệt trở nên dịu dàng, chàng nhìn ra khoảng sân ngập nắng ngoài hiên: “Ở đây không có quy củ tông môn, không có lễ nghi tôn ti trên dưới, cũng không có chuyện vì một viên đan dược hay một thanh kiếm bảo bối mà huynh đệ tương tàn. Người ở đây sống đơn giản lắm, sáng ra đồng làm lụng, tối về quây quần bên mâm cơm, chia nhau củ khoai, chén rượu thuốc. Đạo trường sinh của tiên môn... rốt cuộc có bằng được một bữa cơm nóng ấm thế này không?”
Câu hỏi bâng quơ của Vân Triệt như một chiếc lá rơi khẽ chạm vào mặt hồ phẳng lặng trong tâm trí Dạ Thanh Sương, gợn lên từng vòng sóng biếc.
Hắn nhớ lại hơn một trăm năm qua trên đỉnh tuyết Côn Lôn. Nơi đó tuyết phủ trắng xóa ngàn năm, lạnh lẽo đến thấu xương. Hắn đã bế quan trong động đá tối tăm suốt hàng chục năm trời, tịch cốc không ăn không uống, chỉ bầu bạn với thanh kiếm vô tình. Đồng môn gặp nhau chỉ có sự ganh đua, đề phòng; sư huynh đệ kết nghĩa ngoài mặt thì cung kính, nhưng sau lưng lại sẵn sàng hạ độc thủ, đâm một nhát kiếm chí mạng từ phía sau chỉ vì danh hiệu chưởng môn tương lai và thanh Vô Trần kiếm.
Đỉnh cao của Hóa Thần kỳ thì sao? Kiếm tôn vang danh thiên hạ thì đã thế nào? Cuối cùng cũng chỉ là một kẻ cô độc giữa trời tuyết lạnh, thân mang đầy thương tích và độc dược, bị chính những kẻ mình từng bảo vệ truy sát đến đường cùng.
So với một trăm năm lạnh lẽo trên đỉnh cửu trùng kia, nửa ngày cầm cuốc làm tá điền dưới chân núi này, bên cạnh một thiếu niên cười nói ríu rít và một bát cơm rau đượm khói bếp... lại khiến hắn cảm thấy mình thực sự đang được sống như một con người.
Dạ Thanh Sương im lặng không đáp, nhưng đôi đũa trong tay hắn gắp cơm nhanh hơn một chút, ăn sạch sẽ từng hạt cơm dẻo trong bát.
Hai người ngồi bên hiên nhà lộng gió xuân, bóng râm của giàn nho che mát khoảng sân nhỏ. Tiếng suối Lạc Hà róc rách chảy xa xa hòa cùng tiếng chim rừng hót líu lo tạo nên một khúc nhạc điền viên êm đềm, kéo gần khoảng cách vô hình giữa hai con người vốn thuộc về hai thế giới hoàn toàn đối lập.
Bữa trưa kết thúc, Vân Triệt thu dọn bát đũa mang vào bếp, còn Dạ Thanh Sương thì bước ra đứng bên mép hiên, tựa lưng vào cột gỗ.
Ánh mắt hắn dừng lại trên ba luống đất pha sỏi phía đông. Dưới ánh nắng vàng rực rỡ của buổi trưa muộn, những thớ đất đen tơi xốp do chính bàn tay hắn cày xới đang tỏa ra hơi ấm nhẹ nhàng. Một cảm giác thành tựu kỳ lạ, mộc mạc mà sâu sắc len lỏi vào tâm hồn hắn – thứ cảm giác hoàn toàn khác biệt với niềm kiêu hãnh đẫm máu mỗi khi hắn chém rụng đầu một tên đại ma đầu hay đánh bại một vị cường giả cùng cảnh giới.
Hắn giơ bàn tay chai sần lên, nhìn những vết phồng rộp nơi lòng bàn tay, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười thầm lặng. Có lẽ, làm một tá điền năm đồng một ngày ở mảnh vườn này... cũng không phải là chuyện quá tệ.
Thế nhưng, khoảnh khắc bình yên hiếm hoi ấy bỗng chốc bị xé toạc.
“Cộc cộc cộc! Cộc cộc cộc!”
Từ hướng con đường độc đạo dẫn vào cổng thôn Lạc Hà, bỗng nhiên vang lên tiếng móng ngựa bọc sắt dồn dập gõ mạnh xuống mặt đường đá hộc, kèm theo tiếng xích sắt va vào nhau loảng xoảng chói tai.
Tiếng quát tháo hống hách, ngông nghênh của ai đó từ đầu làng vọng lại, phá tan bầu không khí thanh tĩnh của buổi trưa thôn dã:
“Lũ phàm nhân thấp kém kia, cút hết ra đây! Trưởng thôn đâu? Mau bảo Lão Trương ra nộp số linh thảo cống nạp tháng này cho phái Thanh Vân mau, nếu chậm trễ một khắc, cẩn thận bản đạo gia thiêu rụi cả cái thôn rách nát này!”
Dạ Thanh Sương đứng bên hiên nhà, đồng tử trong mắt phượng lập tức co rút lại thành hình mũi kim.
Một luồng sát khí buốt giá tựa như hàn băng vạn năm, trong nháy mắt bùng lên từ sâu thẳm trong đáy mắt hắn.