“Ngươi... là người của ai? Muốn... chết sao?”
Thanh âm khàn đặc, khô khốc như tiếng hai mảnh kim loại rỉ sét cọ xát vào nhau giữa lằn ranh sinh tử, rít qua kẽ răng Dạ Thanh Sương.
Trong tầm mắt hắn lúc này, cả thế giới chỉ là một mảng hỗn mang đỏ ngầu màu máu xen lẫn sắc trắng lạnh lẽo của sương giá. Cơn sốt do hàn độc thiêu đốt khiến màng tang hắn giật lên từng hồi đau đớn, nhưng bản năng sinh tồn được tôi luyện qua hơn một trăm năm chém giết ở những nơi hiểm địa nhất của giới tu chân lập tức kéo giằng thần trí hắn về thực tại.
Bàn tay hắn khóa chặt lấy cổ tay người đối diện. Ngón tay cứng như kìm sắt, gân xanh nổi cộm dưới làn da tái nhợt. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, thức hải của Dạ Thanh Sương điên cuồng gầm thét, ra lệnh cho cỗ máy sát phạt trong cơ thể vận hành: bóp nát khớp xương kẻ lạ mặt, triệu hoán thần kiếm Vô Trần xé toạc hư không, dùng một kiếm chém đứt đầu lâu kẻ dám cả gan áp sát!
Thế nhưng, đáp lại ý niệm cuồng bạo ấy chỉ là một khoảng không trống rỗng đến tuyệt vọng.
“Vô Trần!”
Hắn gầm lên trong tâm trí. Vô vọng.
Nơi đan điền từng cuồn cuộn linh lực Hóa Thần như đại dương bao la, nay chỉ còn là một vùng phế tích hoang tàn. Kim đan vỡ vụn thành cát bụi, Nguyên anh rạn nứt tiêu tán, chỉ còn lại một thanh đoản kiếm hư ảnh xám xịt cắm sâu vào tâm mạch, bị từng tầng từng lớp xích sắt hàn độc trói chặt. Khi ý niệm của hắn vừa chạm vào tàn tích ấy, một cơn đau rách da xé thịt từ đan điền bùng nổ, quét dọc theo toàn bộ hệ thống kinh mạch đã gãy vụn.
“Khụ!”
Dạ Thanh Sương sặc lên một ngụm máu bầm, khóe môi tràn ra chất dịch đen ngòm sủi bọt tuyết. Luồng kiếm khí vô hình mà hắn vừa gượng gạo phóng ra từ đôi mắt phượng lập tức tiêu biến như khói mây, chỉ để lại một vạt sương trắng mong manh bám trên cổ tay áo của đối phương.
Tu vi trăm năm... đã thực sự tan thành mây khói.
Hắn – Hàn Tiêu Kiếm Tôn chấn nhiếp bắc cảnh Côn Lôn, kẻ từng một kiếm chém đứt ba ngọn núi tuyết, nay lại biến thành một phế nhân ngay cả một đứa trẻ phàm trần cũng có thể b*p ch*t. Cảm giác bất lực và nhục nhã tột cùng như hàng vạn mũi kim băng đâm thấu vào tim, nhưng nỗi phòng bị và căm hận trong mắt hắn vẫn không hề giảm bớt nửa phần. Hắn trừng trừng nhìn bóng người trước mặt, chờ đợi một nhát dao kết liễu, hoặc một nụ cười đắc thắng ghê tởm của những kẻ phản đồ phái Thanh Vân.
Thế nhưng, kẻ bị hắn bóp chặt cổ tay lại không hề tỏ ra sợ hãi.
Vân Triệt chỉ khẽ nhíu mày vì đau. Khớp cổ tay chàng quả thực đã hằn lên năm vết bầm tím tái, lớp sương lạnh từ tay Thanh Sương truyền sang khiến làn da chàng tê dại. Nhưng ánh mắt chàng nhìn xuống người nằm trên giường lại chẳng có lấy nửa điểm sát khí, càng không có sự khinh miệt hay toan tính.
Đó là một đôi mắt trong veo, phẳng lặng như mặt nước giếng sâu đầu làng vào buổi sớm mai, chỉ gợn lên một chút bất đắc dĩ và cằn nhằn rất đỗi đời thường.
“Nếu ta muốn ngươi chết, thì đã chẳng phải tốn công vác một tảng băng nặng như đá tảng từ bờ suối về đây.”
Vân Triệt thở dài một hơi, giọng nói nhẹ nhàng như ngọn gió xuân lướt qua ngọn cỏ non: “Buông ra đi. Cậu bóp gãy tay người duy nhất có thể nhổ cậu ra khỏi quỷ môn quan thì có ích lợi gì?”
Dạ Thanh Sương vẫn siết chặt không buông, hàm răng nghiến chặt đến rớm máu. Hắn không tin. Trên đời này làm gì có sự cứu giúp vô duyên vô cớ? Huống chi kẻ trước mắt mang hơi thở của một tu sĩ Luyện Khí tầng ba thấp kém – loại tu vi phàm nhân chỉ xứng quét rác ở cửa ngoài tiên môn. Một kẻ như vậy tại sao lại dám chứa chấp một trọng phạm đang bị cả Côn Lôn truy sát?
Là cạm bẫy của Cố Huyền Lăng? Hay là mồi nhử của lũ ma tu Tây Hoang?
Nhận thấy sự cứng đầu đến mức cố chấp của đối phương, Vân Triệt khẽ lắc đầu: “Thật là... người tu kiếm các ngươi ai nấy đều đa nghi như Tào Tháo thế này sao?”
Chàng không giằng tay ra, bởi chàng biết với chút lực tàn dư liều mạng kia, nếu giằng co chỉ khiến xương cổ tay chàng nứt thêm và kinh mạch của kẻ kia đứt đoạn hoàn toàn. Vân Triệt nâng bàn tay còn lại lên. Những ngón tay thon dài, sạch sẽ phảng phất mùi bùn đất và hương thảo mộc nhẹ nhàng điểm nhẹ vào không khí.
Một luồng linh lực ấm áp màu nâu nhạt pha lẫn sắc xanh mạ bỗng nhiên phát ra từ đầu ngón tay trỏ của Vân Triệt. Luồng khí ấy nhu hòa đến kỳ lạ, không mang theo bất kỳ tính công kích nào, mà tựa như rễ cây cổ thụ khẽ vươn ra hút lấy sương mai. Chàng vươn tay, chuẩn xác điểm nhẹ vào hai huyệt vị Khúc Trì và Khuyết Bồn trên cánh tay đang căng cứng của Dạ Thanh Sương.
“Tê...”
Một luồng dưỡng khí dịu ngọt lập tức tràn vào huyệt đạo. Bắp tay Dạ Thanh Sương bỗng nhiên mềm nhũn, năm ngón tay cứng như thép nguội rã rời buông lỏng ra. Toàn thân hắn như bị rút cạn chút sinh lực cuối cùng, nặng nề đổ rạp xuống lớp rơm thơm ngát.
“Ngoan ngoãn nằm yên một chút đi, vị đại hiệp này.”
Vân Triệt xoa xoa cổ tay sưng đỏ của mình, khẽ xuýt xoa vài tiếng rồi ngồi thẳng lại mép giường. Chàng không thèm để ý đến ánh mắt cảnh giác như lang sói bị thương của Thanh Sương, đưa tay cầm lấy con dao gọt thuốc nhỏ bằng đồng đặt trên kỷ trà, dứt khoát rạch một đường dài dọc theo vạt áo rách nát trước ngực hắn.
Tấm vải thô đẫm máu khô bị xé toạc, để lộ ra lồng ngực gầy guộc nhưng săn chắc của Dạ Thanh Sương.
Ngay giữa ngực trái, chỉ cách tim chưa đầy nửa tấc, là một vết thương hình chữ thập sâu hoắm, da thịt xung quanh đã hoại tử chuyển sang màu tím đen, đóng một lớp băng mỏng lấp lánh dưới ánh nắng sớm rọi qua song cửa sổ. Đó là vết tích của kiếm chiêu “Hàn Băng Toái Hồn” – tuyệt kỹ trấn phái mà chính tay sư huynh Cố Huyền Lăng đã ban tặng cho hắn trong chén rượu tiễn biệt đầy độc dược.
Mỗi một nhịp thở yếu ớt của Thanh Sương đều kéo theo từng đợt dịch độc đen ngòm trào ra, mùi tanh tưởi xộc thẳng vào mũi.
“Kiếm khí sắc bén, lại pha lẫn kịch độc hàn thiềm ngàn năm.” Ánh mắt Vân Triệt trở nên trầm ngâm khi nhìn vết thương. Ngón tay chàng lướt nhẹ bên rìa vết cắt, cảm nhận từng đợt sóng buốt giá đang chực chờ nuốt chửng sinh mệnh của người trước mặt: “Người ra tay tàn nhẫn thật đấy, rõ ràng là muốn ngươi chết không có chỗ chôn, thần hồn vĩnh viễn bị giam cầm trong băng giá.”
Dạ Thanh Sương nằm bất động trên giường, đôi môi khô nứt khẽ mấp máy, đáy mắt xẹt qua một tia tự giễu bi phẫn.
Tàn nhẫn sao? Phải, đó là sư huynh đồng môn đã cùng hắn lớn lên hơn trăm năm qua, kẻ từng vỗ vai hắn nói rằng hai người sẽ cùng nhau đưa Côn Lôn bước l*n đ*nh cao giới tu chân. Cuối cùng, đỉnh cao ấy chỉ đủ chỗ cho một người đứng, và kẻ ngây thơ cầm kiếm vì tông môn như hắn đã bị đạp xuống vực sâu vạn trượng.
“Nếu đã biết... sao còn chưa chạy?” Dạ Thanh Sương gằn từng tiếng khó nhọc, hơi thở đứt quãng: “Kẻ truy sát ta... chỉ cần một đầu ngón tay... cũng đủ san bằng cái thôn xóm này.”
“Ồ, thế thì để bọn họ tìm được tới đây rồi tính tiếp.”
Vân Triệt đáp lời bằng một giọng điệu thản nhiên đến mức khiến người ta tức giận. Chàng nhúng tấm khăn vải thô sạch vào bát nước ấm pha muối hạt, bắt đầu cẩn thận lau đi lớp máu độc và băng vụn bám quanh miệng vết thương.
Động tác của chàng vô cùng thuần thục và nhẹ nhàng, tựa như đang chăm sóc một gốc linh thảo quý hiếm bị bão tuyết quật gãy cành. Mỗi khi mũi dao cạo đi một mảng thịt thối rữa, chàng lại khẽ hà một hơi ấm áp, vận chuyển mộc linh khí từ lòng bàn tay phủ lên, xoa dịu đi cơn đau buốt thấu xương.
Dạ Thanh Sương cắn chặt môi đến mức bật máu, không để một tiếng r*n r* nào lọt ra khỏi cổ họng. Nhưng cơ thể hắn không thể dối lừa được cảm giác: sự đau đớn tột cùng mà hắn dự liệu lại không hề ập đến. Ngược lại, nơi bàn tay Vân Triệt đi qua, một luồng sinh khí mát lành, tươi mới như chồi non đâm chồi sau cơn mưa xuân chầm chậm thẩm thấu vào da thịt, phong bế các mạch máu đang rỉ rả, ngăn không cho hàn độc tiếp tục lan rộng về phía cuống tim.
Sau khi làm sạch vết thương, Vân Triệt mở chiếc hũ gốm màu nâu, dùng một thanh tre mỏng phết một lớp bột thảo dược dày cộp lên ngực hắn.
Một mùi hương ngai ngái, mộc mạc của lá ngải cứu, rễ địa hoàng và một loại thảo mộc thanh mát lạ kỳ bốc lên. Khác xa với cảm giác nóng rát, công kích dữ dội của những viên đan dược lục phẩm, thất phẩm chốn tiên môn vốn lấy việc áp chế độc tính làm tôn chỉ, thứ cao thuốc thô sơ này lại thẩm thấu một cách vô cùng dịu dàng. Nó như một lớp bùn mềm mại ủ ấm hạt mầm trong mùa đông giá rét, bao bọc lấy vết thương rách nát, từng chút từng chút hút đi hắc khí tanh tưởi.
Cơn sốt hầm hập trong đầu Dạ Thanh Sương dường như hạ bớt vài phần. Hắn nhắm nghiền hai mắt, lồng ngực phập phồng yếu ớt, chìm dần vào một trạng thái nửa tỉnh nửa mê.
“Ngươi nằm yên ở đây, đừng có cựa quậy lung tung làm bẩn chiếc chiếu mới của ta. Ta đi hâm nóng chút đồ ăn.”
Tiếng bước chân của Vân Triệt khẽ vang lên rồi xa dần, kèm theo tiếng then cửa gỗ khép lại cót két.
Căn phòng tây lại rơi vào sự tĩnh lặng tuyệt đối.
Dạ Thanh Sương hé mắt, ngơ ngác nhìn trần nhà lợp bằng cỏ tranh và những cây xà ngang bằng gỗ thông mộc mạc. Trên xà nhà, những túm cúc khô, ngải diệp và bạc hà đung đưa khe khẽ theo ngọn gió xuân lùa qua khe cửa sổ. Ánh nắng ban mai rọi nghiêng nghiêng thành từng vệt bụi vàng nhảy múa trong không trung.
Dưới lưng hắn là lớp rơm nếp dày dặn, tỏa ra mùi hương của nắng mới, của rơm rạ mùa gặt phơi khô trên đồng bãi – một mùi vị của trần thế bình dị, ấm áp mà một trăm mười sáu năm qua, từ lúc bước chân lên ngọn núi tuyết Côn Lôn lạnh lẽo, hắn chưa từng một lần được hít thở.
Ở chốn tiên môn ấy, xung quanh hắn chỉ có gió tuyết gầm thét, có tiếng đao kiếm leng keng, có những bức tường ngọc bích tráng lệ nhưng buốt giá đến tận xương tủy, và những lời chúc tụng giả tạo che giấu dã tâm đoạt bảo.
Hắn từng nghĩ, đạo của hắn là kiếm, kiếm của hắn là cô độc. Muốn chạm tới đỉnh cao, phải chặt đứt thất tình lục dục, phải trở thành một khối băng vĩnh cửu không vướng bụi trần.
Nhưng giờ đây, nằm giữa căn nhà tranh tồi tàn này, ngửi mùi rơm rạ dưới lưng, hắn bỗng thấy cõi lòng mình dâng lên một sự hoang mang chưa từng có.
Từ gian bếp bên ngoài, những âm thanh lách cách của cuộc sống đời thường bắt đầu vọng vào.
Tiếng củi khô gãy giòn tan khi bị bẻ đôi, tiếng ống nứa thổi lửa phù phù, tiếng nước sôi sùng sục trong nồi đất, và cả tiếng dao thớt băm nhuyễn một loại củ quả nào đó thật đều đặn, nhịp nhàng. Không hề có dao động của linh lực bạo liệt, không có áp lực của thần thức dò xét. Chỉ có tiếng khói bếp lượn lờ bay qua mái tranh, mang theo một mùi thơm ấm áp lạ lùng.
Đó là mùi của ngũ cốc chín tới. Mùi của gạo mới quyện lẫn với vị bùi bùi của thảo mộc.
Dạ Thanh Sương khẽ nhíu mày. Đã bao nhiêu năm rồi hắn không ngửi thấy mùi cơm gạo? Sáu mươi năm? Bảy mươi năm? Kể từ ngày Trúc Cơ thành công, hắn đã hoàn toàn tịch cốc, mỗi tháng chỉ nuốt vài viên Tích Cốc Đan không mùi không vị để duy trì thể xác. Giới tu tiên xem việc ăn uống ngũ cốc phàm trần là rước thêm cặn bã, làm nhơ bẩn linh thể thuần khiết.
Thế nhưng, mùi hương đang len lỏi qua khe cửa lúc này lại khiến chiếc dạ dày đã ngủ yên hàng thập kỷ của hắn khẽ co thắt một cái run rẩy.
“Cọt kẹt.”
Cánh cửa gỗ một lần nữa được đẩy ra.
Vân Triệt bước vào, hai tay bưng một chiếc khay gỗ mộc mạc bốc khói nghi ngút. Chàng đã thay một chiếc áo ngắn tay bằng vải thô màu nâu nhạt, vạt áo còn vương chút tro bếp, trên mặt lấm tấm vài giọt mồ hôi mảnh mai.
Đặt chiếc khay lên chiếc kỷ nhỏ đầu giường, Vân Triệt cúi người, đỡ Dạ Thanh Sương ngồi tựa lưng vào vách tường đất. Dù động tác của chàng rất cẩn thận, nhưng việc cử động vẫn kéo căng vết thương khiến Dạ Thanh Sương hừ khẽ một tiếng, sắc mặt trắng bệch, mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán.
“Uống cái này trước.”
Vân Triệt bưng lên một chiếc bát gốm tráng men thô ráp màu da lươn. Trong bát là một thứ nước thuốc màu xanh biếc sóng sánh, trong vắt như nước suối đầu nguồn, bốc lên làn khói mỏng mang theo hương thơm thanh mát làm dịu đi cái rát bỏng trong cổ họng.
Dạ Thanh Sương nhìn chằm chằm vào bát thuốc, đôi mắt phượng lại nheo lại đầy cảnh giác: “Đây là cái gì?”
“Độc dược đấy, uống vào lập tức đứt ruột nát gan, biến thành phân bón cho luống cải ngoài sân.” Vân Triệt liếc mắt nhìn hắn một cái, tức mình múc một thìa thuốc đưa lên miệng tự mình thổi phù phù rồi nuốt xuống: “Thấy chưa? Ta còn sống nhăn răng đây này. Canh Thanh Tâm Thảo phối với ba lá Băng Tâm Thảo hái lúc tờ mờ sáng và nửa lạng rễ cam thảo núi. Bổ khí, giải độc, thanh lọc huyết sát. Mau uống đi, nguội mất thì dược tính tiêu tán hết.”
Dạ Thanh Sương mím chặt môi. Sự ngang bướng của một Kiếm tôn từng tung hoành thiên hạ khiến hắn không muốn nhận sự thương hại của bất kỳ ai. Hắn quay mặt đi, lạnh lùng nói:
“Ta không cần.”
“Ngươi không cần nhưng cái mạng của ngươi thì cần.”
Vân Triệt chẳng thèm chiều chuộng cái thói kiêu ngạo của kẻ tu tiên này. Chàng vươn một tay bóp nhẹ vào huyệt Hạ Quan bên hàm dưới của Thanh Sương khiến miệng hắn bất giác hé mở, tay kia nhanh như cắt kề mép bát gốm vào, nghiêng nhẹ.
“Ưm...”
Dạ Thanh Sương giận dữ trừng mắt, nhưng dòng nước thuốc ấm nóng đã lập tức tràn vào khoang miệng hắn.
Hắn vốn tưởng rằng thứ thuốc sắc từ cỏ cây phàm tục này sẽ đắng ngắt, chát chúa và đầy cặn bã. Nhưng không. Dòng nước thuốc lướt qua đầu lưỡi mang theo một vị ngọt thanh dịu dàng của sương sớm, tiếp đó là một luồng khí mát lạnh lan tỏa khắp khoang họng, xua tan hoàn toàn vị tanh tưởi của máu bầm ứ đọng bấy lâu.
Dưới sự cưỡng ép nửa vời của Vân Triệt và phản xạ tự nhiên của cơ thể đang khô cạn, Dạ Thanh Sương ừng ực nuốt từng ngụm lớn.
Cho đến khi giọt nước thuốc cuối cùng chảy vào cổ họng, chiếc bát gốm đã cạn trơn đáy.
Vân Triệt đặt bát xuống, hài lòng gật đầu: “Thế có phải ngoan không. Người tu đạo các ngươi mở miệng ra là nghịch thiên cải mệnh, nhưng đến lúc cận kề cái chết thì cái tôi lại to hơn cái mạng.”Dạ Thanh Sương không buồn đáp lại lời châm chọc ấy, bởi vì ngay khoảnh khắc dòng dược lực kia trôi xuống dạ dày, một biến chuyển kinh thiên động địa đã diễn ra bên trong cơ thể hắn!
Khác hoàn toàn với những viên thánh đan của Côn Lôn vốn dĩ bộc phát dược lực mãnh liệt như sóng thần cuốn phăng mọi thứ, luồng sinh khí từ bát canh Thanh Tâm Thảo này lại giống như một cơn mưa rào mùa hạ nhẹ nhàng thấm sâu vào lòng đất nứt nẻ.
Nó hóa thành hàng vạn tia tơ sáng màu xanh lục, men theo những kinh mạch rách nát mà chảy xuôi xuống lục phủ ngũ tạng. Nơi nào dòng tơ sáng ấy đi qua, hàn độc đang đông cứng các mạch máu lập tức bị bao bọc lại, tan chảy thành những giọt nước đen li ti rồi bị đẩy dồn về phía lỗ chân lông thoát ra ngoài.
Đặc biệt nhất là nơi đan điền đổ nát.
Thần kiếm Vô Trần đang bị huyết sát và hàn độc quấn chặt, phát ra những tiếng r*n r* u u đầy thống khổ trong vô thức, bỗng nhiên run rẩy khi đón nhận luồng sinh khí mộc linh tinh thuần này. Mộc sinh Hỏa, Thủy dưỡng Mộc – sự tuần hoàn ngũ hành bình ổn, không vướng chút tạp niệm sát phạt của trần gian bao trùm lấy thanh kiếm. Tầng hàn băng dày đặc bao phủ thân kiếm khẽ rạn nứt một góc nhỏ, để lộ ra ánh kim quang sắc bén đã bị chôn vùi từ lâu.
Cơn đau xé rách tâm can giằng xé hắn suốt bảy ngày bảy đêm chạy trốn bỗng chốc lắng xuống, chuyển hóa thành một cảm giác ngứa ran nhè nhẹ khi da thịt non bắt đầu tái tạo.
“Đây là... linh thảo thượng phẩm?” Dạ Thanh Sương mở to mắt, kinh ngạc nhìn Vân Triệt.
Hắn không thể tin được. Một chén canh cỏ dại do một thiếu niên Luyện Khí nấu bằng bếp củi phàm trần, lại có thể làm được điều mà ngay cả “Cửu Chuyển Hồi Hồn Đan” của đan các Côn Lôn cũng khó lòng đạt tới: xoa dịu phản phệ của thần kiếm và áp chế hàn độc mà không gây tổn hại thêm cho kinh mạch đã vỡ vụn!
“Thượng phẩm cái đầu ngươi.” Vân Triệt bĩu môi, bưng chiếc bát thứ hai lên: “Cỏ Thanh Tâm mọc đầy bờ rào, Băng Tâm Thảo thì vặt trên sườn đá sau nhà. Chẳng qua là đất ở chân núi Côn Lôn này được dòng suối Lạc Hà tưới tắm quanh năm, linh khí tuy loãng nhưng lại thuần hậu, không nhiễm phải sát khí đao kiếm trên đỉnh núi của các ngươi. Mau, ăn hết bát cháo này đi cho ấm bụng.”
Bát thứ hai là một bát cháo gạo đặc sánh, bốc khói nghi ngút.
Những hạt gạo nở bung đều đặn, màu sắc đan xen kỳ lạ giữa trắng ngà, vàng óng và tím sẫm. Ở giữa bát cháo điểm xuyết một chút hành hoa thái nhỏ và vài sợi gừng non thái chỉ, tỏa ra mùi thơm ngọt ngào của ngũ cốc nguyên sơ quyện với vị cay nồng ấm áp của gừng.
Lần này, Dạ Thanh Sương không từ chối nữa.
Hắn vươn bàn tay vẫn còn run rẩy vì mất sức, đón lấy chiếc thìa gỗ từ tay Vân Triệt, múc một thìa cháo đưa vào miệng.
Hạt cháo mềm mại tan ngay trên đầu lưỡi. Vị ngọt đậm đà của tinh bột ngũ sắc lập tức đánh thức mọi giác quan đang tê liệt của hắn. Không có đan độc tích tụ, không có cảm giác bài xích của cơ thể. Từng thìa cháo trôi xuống mang theo hơi nóng lan tỏa từ dạ dày ra khắp tứ chi, như ngọn lửa nhỏ nhóm lên giữa một hang băng tăm tối ngàn năm.
Một giọt mồ hôi ấm áp khẽ lăn dài từ thái dương Dạ Thanh Sương xuống cằm.
Đã bao lâu rồi hắn không cảm nhận được hơi ấm thực sự từ bên trong cơ thể mình? Trăm năm qua, hắn chỉ biết đến cái lạnh của kiếm phong, cái buốt giá của đỉnh tuyết, và sự cô độc đến rợn ngợp khi ngồi trên tọa đài ngắm nhìn chúng sinh dưới chân như đàn kiến cỏ. Hắn cứ ngỡ mình đã hóa thành một pho tượng đá vô tri, cho đến tận giây phút này, khi một bát cháo gạo bình dị của phàm trần kéo hắn trở về với sự sống.
Dạ Thanh Sương im lặng cúi đầu ăn. Tốc độ ban đầu còn chậm rãi ngập ngừng, nhưng càng về sau, động tác của hắn càng thêm dứt khoát. Hắn ăn sạch từng hạt cháo cuối cùng dính nơi đáy bát gốm, không để sót lại một chút nào.
Vân Triệt ngồi bên cạnh, tựa cằm vào hai bàn tay, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười ấm áp như nắng sớm. Nhìn một kẻ từng kiêu ngạo đứng trên mây xanh nay lại chăm chú vét sạch đáy bát cháo do chính tay mình nấu, cảm giác thành tựu trong lòng chàng còn lớn hơn cả việc bón phân cho ba luống cải lớn nhanh như thổi.
“Ăn ngon không?” Vân Triệt hỏi.
Dạ Thanh Sương đặt bát xuống kỷ, khẽ hít một hơi sâu. Hắn ngẩng đầu nhìn Vân Triệt, đôi mắt phượng dù vẫn còn vương nét u tối nhưng sự sắc lạnh phòng bị đã tan biến đi hơn nửa. Hắn cất giọng, trầm thấp và chân thành:
“Rất ngon. Đa tạ ân cứu mạng của các hạ.”
Hắn dừng lại một chút, như đang hạ quyết tâm gom góp lại chút tôn nghiêm cuối cùng của một Kiếm tôn: “Hôm nay Dạ mỗ mắc nợ ngươi một mạng. Chờ ta hồi phục vài phần tu vi, đoạt lại những thứ thuộc về mình, ngày sau ắt sẽ đền đáp cho ngươi vinh hoa phú quý ngập trời, linh thạch vạn cân, đan dược vô số, bảo hộ ngươi bước thẳng lên cảnh giới Kim Đan, Nguyên Anh.”
Đây là lời hứa của Hàn Tiêu Kiếm Tôn. Ở bắc cảnh Côn Lôn, một lời này của hắn nặng tựa ngàn cân, đủ khiến vô số tông môn chư hầu quỳ gối tạ ơn rơi lệ.
Thế nhưng, Vân Triệt nghe xong chỉ chớp chớp mắt, sau đó bật cười thành tiếng.
“Vinh hoa phú quý? Đan dược vô số?” Chàng lắc đầu quầy quậy, xua xua tay: “Thôi thôi, ta xin kiễng chân cảm ơn đại hiệp. Đan dược của các ngươi nuốt vào chỉ tổ nóng gan hại thận, tích tụ đan độc nghẽn kinh mạch, ta thà ăn thêm hai bát cơm gạo ngũ sắc còn hơn. Còn cái chuyện ‘chờ ngày sau đền đáp’ ấy à...”
Vân Triệt thò tay vào trong ngực áo, rút ra một tờ giấy bản thô ráp màu vàng ố làm từ vỏ cây dâu tằm, bên trên chằng chịt những dòng chữ viết bằng mực nước lá cỏ màu đen nhánh, còn chưa khô hẳn.
Chàng trải thẳng tờ giấy ấy ra chiếc kỷ nhỏ, đẩy về phía trước mặt Dạ Thanh Sương.
“Tính sổ ngay tại chỗ vẫn thực tế hơn nhiều.” Vân Triệt nhướng mày, ngón tay trỏ gõ nhẹ cồm cộp lên mặt giấy: “Nhìn cho rõ nhé.”
Dạ Thanh Sương sững sờ, cúi đầu nhìn xuống tờ giấy bản. Đập vào mắt hắn là những dòng chữ ngay ngắn, nắn nót nhưng nội dung bên trong lại khiến một cường giả Hóa Thần như hắn phải trợn tròn mắt:
Khoản mục chi phí cứu mạng: 1. Chiếc chiếu cói rơm nếp dệt tay (bị máu đen làm bẩn, dính hàn độc thối rữa, buộc phải đem đốt): 20 đồng tiền đồng. 2. Ba phần bột Dưỡng Cốt Sinh Cơ tán đắp vết thương ngoài da: 100 đồng tiền đồng. 3. Một bát canh cỏ Thanh Tâm phối ba lá Băng Tâm Thảo hái sớm trên vách đá: 50 đồng tiền đồng. 4. Một bát cháo linh mễ ngũ sắc nấu hạt sen rừng: 30 đồng tiền đồng. 5. Tiền công cõng một tảng băng nặng hơn trăm cân từ bờ suối Lạc Hà về nhà, làm trật khớp bả vai trái của chủ nhà: 50 đồng tiền đồng. 6. Tiền thuốc dán bả vai của chủ nhà: 10 đồng tiền đồng. Tổng cộng: 260 đồng tiền đồng (hoặc tương đương nửa khối hạ phẩm linh thạch).
Dạ Thanh Sương nhìn chằm chằm vào bản kê khai chi phí hoang đường nhất trần đời này, khóe mắt giật giật liên hồi.
Hai trăm sáu mươi đồng tiền đồng?
Tiền đồng phàm trần – thứ kim loại hạ đẳng mà ngay cả một đệ tử Luyện Khí tầng một của Côn Lôn cũng chẳng thèm liếc mắt nhìn lấy một cái, nay lại được kê khai chi tiết từng đồng một để tính nợ cho một Kiếm tôn danh chấn thiên hạ? Còn có cả tiền đền chiếc chiếu cói và tiền công cõng người làm trật vai?
“Ngươi...” Dạ Thanh Sương nghẹn lời, ngực phập phồng: “Ngươi cứu ta... chỉ để đòi hai trăm sáu mươi đồng tiền đồng?”
“Hai trăm sáu mươi đồng không phải là tiền à?” Vân Triệt trừng mắt nhìn hắn, vẻ mặt vô cùng nghiêm túc và đúng đắn: “Một đồng tiền đồng mua được hai cái màn thầu trắng, hai trăm sáu mươi đồng đủ cho ta mua một bao hạt giống cải bắp, nửa bao phân bón và hai cái lưỡi cuốc sắt mới tinh từ lò rèn của Lão Trương đầu làng đấy! Ngươi có biết trồng được một đấu linh mễ ngũ sắc ta phải xới đất, nhổ cỏ, bắt sâu ròng rã suốt ba tháng trời không hả?”
Dạ Thanh Sương vô thức đưa tay sờ soạn lên người mình.
Nhưng y phục của hắn đã rách nát, túi trữ vật bên hông từ lâu đã bị kiếm khí của Cố Huyền Lăng đánh nát vụn rơi rụng dưới đáy vực sâu Côn Lôn. Giờ đây trên người hắn, ngoài vết thương chằng chịt và thần kiếm Vô Trần đang ẩn sâu trong đan điền, đừng nói là nửa khối hạ phẩm linh thạch, ngay cả nửa đồng tiền phàm rỉ sét hắn cũng không móc ra nổi.
Sắc mặt của cựu Kiếm tôn từ trắng bệch chuyển dần sang đỏ ửng vì quẫn bách. Đây là lần đầu tiên trong suốt hơn một trăm năm cuộc đời, hắn rơi vào cảnh ngộ túng quẫn, bế tắc và bẽ bàng đến mức này.
“Ta... hiện tại không có tiền.” Dạ Thanh Sương nghiến răng, giọng nói nhỏ như muỗi kêu, ánh mắt dời đi hướng khác để tránh nụ cười ranh mãnh của người đối diện.
“Ta biết thừa là ngươi không có.” Vân Triệt nhếch mép cười, như thể đã đoán trước được kết cục này từ lâu. Chàng lật mặt sau của tờ giấy dâu tằm lại, chấm một chút mực đen vào ngọn bút lông thỏ, thoăn thoắt viết thêm một dòng chữ lớn:
Phương án trả nợ: Khách nợ không có tiền mặt, tự nguyện ở lại làm tá điền trừ nợ cho Vân Hạch Điền Viên. Tiền công mỗi ngày: 5 đồng tiền đồng (bao ăn hai bữa cơm rau). Thời hạn làm việc: Đúng 52 ngày. Trong thời gian này phải tuyệt đối nghe theo sự sai bảo của chủ điền trang, không được lười biếng trốn việc.
Viết xong, Vân Triệt xoay tờ giấy lại, đẩy nhẹ về phía Dạ Thanh Sương, sau đó thong thả khoanh tay trước ngực:
“Quy củ ở thôn Lạc Hà rất rõ ràng: không nuôi kẻ ăn bám. Ngươi không có tiền trả tiền thuốc men cứu mạng, vậy thì lấy sức lao động ra mà gán nợ. Vườn thuốc ba sào của ta đang vào vụ gieo hạt mùa xuân, đất đá lởm chởm, mương nước chưa đào xong, đang thiếu một chân cuốc đất gánh nước khỏe khoắn.”
Chàng nhìn sâu vào mắt Dạ Thanh Sương, nụ cười trên môi thu lại một chút, thay vào đó là sự thấu suốt lạ thường:
“Thế nào? Muốn ở lại đây làm một tên tá điền cuốc đất trừ nợ, ban ngày làm việc chân tay, ban đêm uống trà dưỡng thương thanh tẩy hàn độc; hay là muốn bước ra khỏi cánh cửa kia, để mặc cho kinh mạch đông cứng thành băng, hoặc chờ lũ người đuổi giết ngươi tìm đến chặt đầu?”
Từng lời từng chữ của Vân Triệt như chiếc búa tạ gõ thẳng vào tâm trí Dạ Thanh Sương.
Hắn nhìn tờ giấy nợ viết bằng thứ mực nước lá cỏ mộc mạc đặt trước mắt. Hắn nhìn thấy những vết chai sần vì cầm cuốc trên bàn tay thon dài của thiếu niên đối diện. Và sâu thẳm trong đôi mắt trong veo ấy, hắn nhìn thấy một con đường sống duy nhất dành cho mình lúc này.
Rời khỏi đây? Với thân thể tàn phế này, hắn thậm chí không bò qua nổi con suối Lạc Hà trước khi bị hàn độc nuốt chửng, hoặc bị đám đệ tử tuần tiễu của Cố Huyền Lăng phát hiện xé xác.
Ở lại? Hắn – Hàn Tiêu Kiếm Tôn ngạo nghễ chín tầng mây, người từng coi thường vương hầu khanh tướng, nay phải hạ mình cầm cuốc làm tá điền cho một tên nhóc Luyện Khí tầng ba, đổi lấy năm đồng tiền công mỗi ngày và hai bữa cơm rau đạm bạc?
Sự kiêu ngạo ngút trời của một kiếm tu giãy giụa điên cuồng trong lồng ngực hắn. Hắn muốn gầm lên, muốn cự tuyệt cái giao kèo nực cười và sỉ nhục này.
Thế nhưng, luồng khí ấm áp vẫn đang chầm chậm lan tỏa từ bát cháo gạo trong dạ dày, mùi thảo mộc dịu nhẹ phảng phất quanh chóp mũi, và cảm giác bình yên không vướng bận sát khí của căn nhà tranh nhỏ bé này... lại như một chiếc neo vô hình níu giữ lấy linh hồn rách nát của hắn lại giữa nhân gian.
Hắn muốn sống.
Không chỉ để trả thù, mà trong khoảnh khắc vừa nếm trọn bát cháo nóng kia, hắn chợt khao khát được biết: Cuộc sống bình dị không có đao kiếm chém giết, không có mưu mô hiểm độc dưới chân núi Côn Lôn này... rốt cuộc có tư vị ra sao?
Dạ Thanh Sương nhắm nghiền hai mắt lại. Lồng ngực hắn phập phồng dữ dội, bàn tay buông thõng bên mép giường siết chặt lấy tấm chiếu cói thô ráp, gân xanh nổi lên rồi từ từ chìm xuống.
Khi hắn mở mắt ra một lần nữa, ngọn lửa ngạo mạn lạnh lùng tích tụ suốt trăm năm dường như đã bị chôn sâu vào đáy mắt, chỉ còn lại sự nhẫn nhịn và trầm mặc sâu như vực thẳm.
“Tên ngươi là gì?” Dạ Thanh Sương cất giọng khàn khàn hỏi.
“Vân Triệt. Mây trôi trên trời xanh, nước trong dưới đáy suối.” Chàng mỉm cười đáp: “Còn ngươi?”
Dạ Thanh Sương im lặng một thoáng, rồi thản nhiên nói:
“A Sương. Cứ gọi ta là A Sương.”
Hắn giơ bàn tay gầy guộc run rẩy lên, ngón tay cái ấn mạnh vào vết thương còn đang rớm máu nơi khóe môi, sau đó dứt khoát ấn một dấu vân tay đỏ chói xuống góc dưới cùng của tờ giấy nợ bằng vỏ cây dâu tằm.
Dấu ấn đỏ tươi nổi bật bên cạnh những dòng chữ viết bằng mực lá cỏ.
Nhìn thấy dấu điểm chỉ ấy, nụ cười trên môi Vân Triệt nở rộ rực rỡ như hoa mai nở giữa trời xuân. Chàng cẩn thận cầm tờ giấy nợ lên, thổi nhẹ cho khô vết máu rồi gấp lại cẩn thận, nhét sâu vào trong ngực áo như vừa nhặt được một món bảo bối vô giá.
“Rất tốt, A Sương tá điền.”
Vân Triệt đứng dậy, một tay bê chiếc khay gỗ đựng hai chiếc bát rỗng, một tay vỗ nhẹ lên thành giường thông cọt kẹt:
“Hôm nay cho ngươi nghỉ ngơi trọn vẹn một ngày để hấp thu dược lực. Sáng sớm ngày mai khi tiếng gà đầu làng vừa gáy, ta sẽ mang cuốc đến cho ngươi. Đừng có mơ tưởng đến chuyện ngủ nướng, ba sào đất pha sỏi phía đông đang chờ ngươi xới tơi ra đấy.”
Dứt lời, chàng quay người bước ra ngoài, bước chân thoăn thoắt nhẹ tênh, miệng còn khe khẽ huýt sáo một điệu dân ca mộc mạc của vùng thôn dã Lạc Hà.
Cánh cửa gỗ khép lại, che bớt một phần ánh nắng chói chang bên ngoài, trả lại cho gian phòng tây sự yên bình êm ả.
Dạ Thanh Sương nằm tựa lưng vào vách đất mát lạnh, nhìn chằm chằm vào ngón tay cái vẫn còn dính một vệt máu khô của chính mình. Khóe môi khô nẻ của hắn bỗng nhiên khẽ giật một cái, không rõ là đang cười khổ hay đang tự giễu.
Hàn Tiêu Kiếm Tôn Dạ Thanh Sương, một kiếm định càn khôn, nay đã chính thức trở thành một tên tá điền nợ ngập đầu dưới chân núi Côn Lôn.
Một giao kèo hoang đường đến tột cùng, nhưng kỳ lạ thay, lại là thứ duy nhất khiến cõi lòng băng giá của hắn lần đầu tiên cảm thấy vững chãi đến thế sau hơn một thế kỷ phiêu dạt trong bể máu tanh hôi.