Vào Ngày Kiến Sơn, Ca Tang dắt đến một con cừu. Đó là một chú cừu non trắng muốt, xinh xắn, lại rất nhát gan. Khi bị nhốt vào chuồng, con cừu đầu đàn tiến lại ngửi nó làm chú cừu non sợ đến mức co rúm trong góc, run lẩy bẩy.
Hạ Quy Sơn nói với Lục Yểu việc tặng cừu là phong tục ở nơi họ. Vào Ngày Kiến Sơn, nếu có khách mang tặng cừu non, họ sẽ nuôi lớn nó để sau này dùng chiêu đãi những vị khách khác, còn buổi tối thì sẽ mổ cừu nhà mình mở tiệc đãi những vị khách của ngày hôm nay.
Nguồn gốc và điểm đến của thức ăn cũng thuận theo vòng tuần hoàn của tự nhiên. Trên mảnh đất này, điều ấy vừa chân thành vừa hiển nhiên.
Buổi tối ba người nướng đùi cừu trong sân sau của homestay. Mỡ cừu rơi xuống than hồng bắn lên từng chuỗi tia lửa li ti. Mùi thơm cháy đậm quyện cùng hương thì là lan tỏa khắp không gian.
Ca Tang định rắc thẳng bột ớt lên thịt cừu thì bị Hạ Quy Sơn ngăn lại. Anh cắt một miếng thịt vàng óng béo ngậy thật lớn đặt vào cái đĩa trước mặt Lục Yểu.
“Dạ dày cậu ấy không tốt, không ăn cay.”
Thật ra sau hơn một tháng điều dưỡng, dạ dày của Yểu đã gần như khỏi hẳn. Nhưng Hạ Quy Sơn vẫn luôn để mắt đến cậu: không được ăn cay, không được ăn đồ lạnh, đồ quá cứng cũng không được. Thậm chí anh còn khóa cả hộp trái cây sấy trong tủ lại, mỗi ngày chỉ cho cậu một phần.
Ca Tang cười lớn: “Cậu lo cho cậu ấy hơn cả bố ruột của cậu ấy nữa à?”
Lục Yểu ngồi lẳng lặng gỡ thịt. Câu này Ca Tang nói không đúng, bởi ông bố ruột thịt của cậu vốn chẳng hề bận tâm đến cậu chút nào.
Sau khi cởi đồng phục và uống thêm ba chén rượu vào, Ca Tang dần nói nhiều hơn. Anh ta cùng Hạ Quy Sơn tán gẫu đủ chuyện trên trời dưới đất. Từ vụ mùa năm nay, việc du lịch, việc an ninh đến việc thu hồi đất. Họ nhắc đến cả Thẩm Trường Thanh. Hai người họ nói tiếng phổ thông nên Lục Yểu nghe hiểu hết nhưng không xen vào, chỉ lặng lẽ ngồi một mình gặm thịt.
Ca Tang cảm thấy Thẩm Trường Thanh này khá thú vị, không giống những thương nhân bình thường. Quan trọng hơn là anh ta rất đẹp. Sống đến chừng này tuổi rồi, Ca Tang vẫn chưa từng gặp ai đẹp đến thế. Phải nói sao nhỉ? Dịu dàng mà vẫn cứng cỏi, đẹp đẽ nhưng không tầm thường.
Đó là một lời đánh giá cực kỳ cao. Lục Yểu ngạc nhiên liếc Ca Tang một cái.
Ca Tang giơ cao hai tay như để minh oan cho mình:
“Tôi hoàn toàn đánh giá một cách khách quan thôi nhé. Tôi là trai thẳng.”
Không ai đáp lại câu đó, mà Lục Yểu cũng chẳng bận tâm. Hạ Quy Sơn không nghĩ ngợi gì nhiều, vừa gỡ thịt cho Lục Yểu vừa nói:
“Đám tư bản với dân thường như bọn tôi chẳng liên quan gì đến nhau. Họ đi đường lớn của họ, tôi qua cầu độc mộc của tôi”.
Ca Tang nói: “Cũng không hẳn như vậy. Trưởng thôn mấy lần nhờ tôi khuyên cậu bán mảnh đất đó. Theo cách nói thịnh hành bây giờ thì là gì nhỉ…cứ ung dung nằm yên hưởng thụ ấy. Tôi không đồng ý. Tôi không làm thuyết khách cho ông ấy. Dù sao cậu không bán thì chắc chắn cũng có lý do của cậu.”
Hạ Quy Sơn khẽ đấm một cái vào vai Ca Tang.
Chủ đề đó cứ thế được bỏ qua, hai người lại nhắc đến chuyện dạo trước lên huyện tình cờ gặp Tạ Minh. Lúc ấy Lục Yểu mới biết thì ra trước đây Tạ Minh, Ca Tang và Hạ Quy Sơn từng ở cùng một đội. Sau khi xuất ngũ, mỗi người một ngả. Ca Tang thi vào làm công chức, đúng lúc năm đó có chính sách ưu đãi nên được phân về đồn công an. Tạ Minh thì nói mình không hợp làm công chức, thế là xuống tiền làm kinh doanh luôn. Vậy mà chớp mắt mà đã hơn mười năm kể từ ngày ba người chia tay.
Ngọn lửa nướng thịt lép bép nhảy múa trong màn đêm. Hai người đều mang tâm sự riêng nên im lặng. Lục Yểu lén lút dịch bàn tay nhỏ của mình về phía ly rượu của Hạ Quy Sơn, ngay lập tức bị anh dánh “chát” một cái vào mu bàn tay.
Hạ Quy Sơn hỏi Ca Tang: “Bình thường nếu các cậu bắt quả tang tại trận thì xử lý thế nào?”
Ca Tang nghiêm túc đáp: “Bắn ngay tại chỗ.”
Lục Yểu vội rụt móng vuốt lại, ôm cốc nước cam của mình tu ừng ực trút nỗi bực bội.
Bọ họ ăn uống no nê đến tận nửa đêm. Ca Tang đã lảo đảo say nhưng vẫn nhất quyết đòi về. Trước lúc về, anh ta còn cố nhét mấy trăm tệ vào tay Lục Yểu, nói đứa cháu lớn đến chơi mà chẳng có gì hay để cho, vậy thì cứ theo phong tục của người Hán, lì xì một phong bao đỏ lấy may đi. Lục Yểu không từ chối nổi, đành phải nhận.
Hạ Quy Sơn lái xe đưa Ca Tang về. Đến khi anh quay lại, Lục Yểu đã tự giác tắm rửa xong.
Hai tháng trước trong lúc Lục Yểu không ở đây, Hạ Quy Sơn đã dọn thêm một phòng ở tầng hai của homestay. Căn phòng nằm ngay cạnh phòng ngủ chính, giữa hai phòng có một cánh cửa thông nhau. Sở dĩ mở cửa thông là để tiện cho những lúc như bây giờ.
Ví dụ như lúc này anh thấy Lục Yểu để chân trần, không sấy tóc, cũng chẳng mặc quần, giẫm trên tấm thảm chăm chú nghiên cứu đống đá của mình. Lò sưởi trên tầng hai cháy rực, gió lạnh gào thét bị chặn lại ngoài ban công khiến cả căn phòng trở nên vô cùng ấm áp và dễ chịu.
Mái tóc mềm mại áp sau gáy vẫn ướt khiến từng giọt nước men theo chiếc cổ trắng ngần của Lục Yểu chảy xuống. Hạ Quy Sơn nhìn một lúc lâu, phát hiện cậu nhóc hoàn toàn không nhận ra, đành bất đắc dĩ kéo cậu lại sấy tóc.
“Tối nay ngủ sớm một chút, sáng mai chúng ta đi Triều Sơn.”
Lục Yểu ngẩng đầu, đôi mắt hạnh to tròn chăm chú nhìn cằm của Hạ Quy Sơn, ánh mắt mờ mịt không có tiêu điểm.
Hạ Quy Sơn tiếp tục: “Triều sơn là nghi thức lên núi tế bái Sơn Thần, là hoạt động được tổ chức hằng năm vào Ngày Kiến Sơn.”
Người Khương Lan tin rằng lời cầu nguyện dâng lên Sơn Thần sẽ được gió mang đi. Vào Ngày Kiến Sơn, chỉ cần lên núi hành lễ với đủ lòng thành, điều ước sẽ trở thành hiện thực.
Lục Yểu chậm rãi gật đầu rồi đưa tay bám lấy cánh Hạ Quy Sơn.
Hạ Quy Sơn lặng lẽ nhìn bàn tay ấy rồi nhìn hai mảng hồng khả nghi trên gương mặt cậu. Anh bỗng ghé sát lại ngửi:
“Có phải cậu đã uống…”
Lục Yểu lập tức đứng nghiêm, giơ tay chào theo kiểu quân đội, lớn tiếng đáp:
“Báo cáo chỉ huy! Em không có!”
Hạ Quy Sơn đau đầu vô cùng. Biết thế ngay từ đầu anh đã không cất lon bia uống dở vào tủ lạnh ngay trước mặt Lục Yểu.
Mỗi lần uống rượu Lục Yểu lại như một cái đuôi nhỏ, cứ bám theo anh trước sau không rời. Ngay cả lúc Hạ Quy Sơn đi tắm cậu cũng đòi đi theo. Anh đẩy cậu ra, đặt lên giường, Lục Yểu nhất quyết không chịu, cứ đòi vào phòng tắm cùng. Hết cách, Hạ Quy Sơn chỉ có thể kéo một chiếc ghế đẩu nhỏ đặt trước cửa phòng tắm.
“Ngoan ngoãn ngồi đây đợi tôi, được không?”
Lục Yểu gật đầu.
Hạ Quy Sơn xác nhận thêm một lần nữa mới yên tâm đi vào. Thế nhưng vừa c** q**n áo, mở nước nóng thì bên ngoài đã vang lên tiếng đập cửa rầm rầm. Đợi mãi mà tiếng động vẫn không ngừng, Hạ Quy Sơn đành quấn khăn tắm đi ra. Anh vừa mở cửa, Lục Yểu đã oạng choạng ngã nhào vào người anh. Hơi nóng mang theo mùi rượu phả lên cơ bụng khiến Hạ Quy Sơn lập tức cứng người.
Lục Yểu vừa kêu wow wow vừa đưa bàn tay nhỏ sờ tới sờ lui: “Anh! Anh to quá!”
Hạ Quy Sơn hít một hơi lạnh, lập tức bế cậu nhét vào trong chăn rồi lấy cả đống đá quý mình cất kỹ trong tủ ra dỗ dành. Lúc này sự chú ý của Lục Yểu mới bị thu hút sang chỗ khác.
Bộ sưu tập đá của Hạ Quy Sơn quả thật rất đẹp. Có hai viên trông giống hệt những viên đá trên chuỗi đeo ở cổ tay cậu. Trong tủ ghi chú tên của chúng là “Lạc thạch” . Lục Yểu luôn có cảm giác mình đã từng nhìn thấy chúng ở đâu đó. Cậu mơ mơ màng màng nghĩ ngợi rất lâu, cuối cùng bất giác ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau quả nhiên Lục Yểu dậy muộn.
Khi tỉnh dậy, cậu sờ thấy dưới gối có một xấp gì đó cứng cứng, lấy ra xem thì hóa ra là một phong bao lì xì dày cộp trị giá đúng một vạn tệ. Cậu giật nảy mình, cuống cuồng đến mức chưa kịp đánh răng rửa mặt đã chân trần chạy xuống tầng tìm người, nhưng mới đi được đã bị ai đó túm cổ áo kéo ngược trở về.
“Mặc quần vào, đánh răng rửa mặt đi.”. Hạ Quy Sơn co ngón tay gõ nhẹ lên trán cậu.
Lục Yểu định trả lại bao lì xì cho anh, thấy vẻ mặt nghiêm nghị của Hạ Quy Sơn cậu bỗng chùn bước.
Trong lúc còn mơ mơ màng màng, cậu bị anh đẩy đi vệ sinh cá nhân rồi kéo ra ăn sáng. Bữa sáng đầu tiên của năm mới Hạ Quy Sơn chuẩn bị cho cậu đặc biệt thịnh soạn: một bát sữa cừu trắng ngần ăn kèm những thanh thịt bò khô được xếp ngay ngắn. Nghĩ đến khẩu vị của Lục Yểu, anh còn chu đáo chuẩn bị thêm hai lát bánh mì nướng giòn ăn cùng thịt nguội và rau xà lách, cùng một hũ nhỏ mật ong tỏa hương thơm ngọt ngào.
Hạ Quy Sơn ăn xong trước, lúc này đang ở trong bếp chuẩn bị đồ ăn mang theo. Anh rót đầy một bình rượu rồi gói chung vào hành lý. Lục Yểu giúp anh xếp mọi thứ ngay ngắn vào túi.
Đến khi hai người chuẩn bị xong và ra khỏi nhà thì đã gần trưa.
Đa số những người đi Triều Sơn đều xuất phát từ lúc trời còn chưa sáng, vì thế lúc này con đường dẫn lên núi đặc biệt yên tĩnh.
Tuyết dày đến tận bắp chân khiến mỗi bước đi đều trở nên khó khăn. Trước khi ra khỏi nhà, Hạ Quy Sơn đã quấn cho Lục Yểu mấy vòng khăn choàng thật dày. Hơn nửa khuôn mặt nhỏ của cậu vùi trong lớp khăn, lại thêm mũ len và mũ áo lông vũ trùm bên ngoài, trông chẳng khác nào một con búp bê Nga.
Trước khi đến đây Lục Yểu vẫn nghĩ nghi lễ Triều Sơn sẽ có rất nhiều nghi thức phức tạp phải hoàn thành, nhưng sau khi tới nơi, cậu mới phát hiện không có lễ nghi rườm rà, cũng chẳng cần tụng niệm kinh văn gì cả. Họ chỉ cần buộc một dải vải lên một cây cổ thụ rồi thành tâm lễ bái là xem như đã hoàn thành nghi thức, thậm chí còn không cần chuẩn bị lễ vật.
Trên ngọn núi phía sau có một cây cổ thụ cành nhánh uốn lượn. Khắp thân và cành cây treo kín từng lớp dải vải đủ màu: đỏ, xanh lam, trắng, vàng. Có dải được viết chữ, cũng có dải không viết gì.
Lục Yểu không đọc được những dòng chữ bằng tiếng Khương Lan. Hạ Quy Sơn liền giải thích:
“Người ở đây sống dựa vào chăn nuôi và trồng trọt nên điều ước lớn nhất của mọi người là mưa thuận gió hòa. Khung Thổ Nhĩ sẽ che chở cho từng người trên mảnh đất này, sẽ bảo vệ những người con xa xứ rời khỏi nơi đây, đồng thời cũng sẽ trừng phạt mọi kẻ tham lam.”
“Khung Thổ Nhĩ có thể nhìn thấy đôi tay nhuốm đầy máu, cũng có thể nghe thấy mọi lời dối trá cất giấu trong lòng.”
Hạ Quy Sơn lấy ra một dải vải trắng mới tinh mới đưa cho Lục Yểu. Lục Yểu không viết chữ lên đó, chỉ vẽ một cành cây hơi xiêu vẹo rồi cẩn thận buộc dải vải lên cành. Dải vải trắng nhanh chóng hòa vào vô số dải vải đủ màu đã treo kín trên cây.
Lục Yểu nhìn dải vải rồi nói:
“Em không có điều ước gì cả. Nếu nhất định phải nói một điều, thì em mong Sơn Thần sẽ vui vẻ.”
Khung Thổ Nhĩ phải thực hiện bao nhiêu điều ước của mọi người, chắc hẳn rất bận. Còn bản thân cậu thì chỉ cần dựa vào chính mình là đủ.
Hạ Quy Sơn lặng lẽ nhìn nghiêng gương mặt của thiếu niên thật lâu. Một lúc sau, anh đưa tay xoa nhẹ lên đầu cậu.
Sau khi rời khỏi nơi hành lễ Triều Sơn, hai người men theo một con đường nhỏ trên sườn núi hẻo lánh. Họ đi một đoạn rất xa, mỗi bước chân giẫm xuống lớp tuyết dày đều phát ra tiếng bộp bộp. Ánh tuyết phản chiếu thứ ánh nắng nhạt nhòa khiến mắt người nhìn đến cay xè. Phóng tầm mắt ra xa, khắp bốn phía chỉ còn hai gam màu đen trắng trải dài nối tiếp nhau.
Hạ Quy Sơn đi phía trước, bóng lưng anh giữa khung cảnh tuyết mênh mông trông tĩnh lặng đến lạ. Lục Yểu đi theo phía sau dần dần không theo kịp bước chân anh. Bên tai cậu chỉ còn tiếng gió rít gào và tiếng hơi thở nặng nề của chính mình.
Một con chim Cắt Bắc Cực rít vang, lượn vòng trên đỉnh đầu. Hạ Quy Sơn chợt nhận ra mình đi quá nhanh, áy náy đứng lại chờ cậu. Anh chỉ về phía bên phải mình cho Lục Yểu nhìn theo:
“Đội tuần tra biên giới của Khương Lan phải tuần tra dọc theo đường biên. Phía dưới kia là sông, ngã xuống thì không còn gì nữa.”
Năm đó, bố anh cũng như vậy.
Hai người tiếp tục men theo sườn núi, không biết đã đi thêm bao lâu, cuối cùng tới một khoảng dốc nhỏ khá bằng phẳng. Ở đó có một ngôi mộ cô độc.
Hạ Quy Sơn dừng bước, ánh mắt dừng lại trên bia mộ. Khi gió lướt qua nơi này, dường như cũng dịu đi đôi chút, chỉ còn lại sự tĩnh lặng nặng nề đến nghẹt thở. Anh cúi người phủi lớp tuyết đọng trên bia mộ, dùng khăn lau sạch sẽ, lần lượt bày từng món ăn ra trước mộ. Anh lấy ra hai chén chén rượu rồi rót đầy rượu gạo.
Thì ra những thứ anh đã cẩn thận chuẩn bị bấy lâu nay không phải để dâng lên Khung Thổ Nhĩ.
Trong tấm ảnh trên bia mộ là một người đàn ông trẻ tuổi, gương mặt khôi ngô hiền hòa. Hạ Quy Sơn quỳ xuống, khẽ gọi một tiếng: “Bố”
” Đây là bố tôi”. Anh cất lời, giọng nói bị gió thổi có phần tan tác.
“Ông ấy thuộc nhóm thanh niên đầu tiên được cử đến Khương Lan xây dựng vùng biên từ những năm trước. Sau đó ông gặp mẹ tôi, rồi ở lại Khương Lan lập nghiệp, sinh ra tôi.”
Năm ấy Khương Lan gặp trận tuyết lớn hiếm thấy suốt cả trăm năm khiến hàng trăm con gia súc bị thất lạc, một nhóm cán bộ bảo vệ biên giới phải lên núi tìm kiếm. Đồng chí Hạ Kiến Quốc bị trượt khỏi sườn núi trong lúc đi tìm đàn cừu rồi bị tuyết lớn vùi lấp. Không tìm được thi thể nên chỉ có thể dựng một tấm bia mộ để tưởng niệm. Bên cạnh bia còn có những chồng đá được xếp cao, trải qua biết bao năm mưa tuyết, chúng vẫn sừng sững không đổ. Những chồng đá ấy tượng trưng cho cột mốc biên giới. Bởi thuở rất sớm nơi đây còn chưa có cột mốc chính thức, bố của Hạ Quy Sơn đã tự tay khắc hai chữ “Trung Quốc” lên đá, rồi chồng chúng lên thật cao.
Giờ đây ông được yên nghỉ ngay bên cạnh cột mốc do chính tay mình khắc lên, có lẽ cũng xem như đã toại nguyện.
“Ở Khương Lan vẫn còn rất nhiều người như ông ấy. Những bức ảnh cậu nhìn thấy treo trên tường trước đây đều là như vậy. Bố tôi còn được xem là may mắn. Ít ra ông ấy cũng có thể nghỉ ngơi rồi, có thể ở bên mẹ tôi. Như thế… cũng tốt.”
Lục Yểu không biết nên nói gì. Dường như nói gì cũng không đúng, nói gì cũng chẳng đủ sức nặng. Cậu chỉ có thể lặng lẽ ở bên Hạ Quy Sơn, cùng anh đứng thật lâu giữa gió núi gào rít, cạnh tấm bia mộ lạnh lẽo rắn rỏi ấy.