Bắp chân trái của Trần Bình giật thắt từng cơn buốt nhức. Vết đạn sượt từ chiến trường Tây Nam gặp tiết trời nồm ẩm lại tấy lên như có kim châm vào tủy, nhưng toàn bộ tâm trí anh lúc này đã dồn cả vào chiếc ống nứa nằm trơ trọi giữa bàn làm việc.
Gian nhà đông của đình làng An Hòa — nơi tận dụng làm văn phòng Ủy ban kiêm trụ sở Hợp tác xã — chìm trong một bầu không khí đặc quánh, bức bối đến nghẹt thở. Trên bức tường gạch mộc bong tróc từng mảng vôi, tấm khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng” đã bạc màu vì khói thuốc lào và hơi ẩm. Dưới ánh sáng đùng đục hắt qua khung cửa sổ chấn song gỗ, mười bốn dấu điểm chỉ đỏ chót trên tờ giấy bản xòe ra như một bản án tử hình treo lơ lửng giữa phòng.
Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Đặng Cự ngồi bất động sau chiếc bàn gỗ lim mộc cũ kỹ. Chiếc kính lão gọng đồi mồi trễ xuống tận sống mũi, che khuất đôi mắt sâu hoắm khét tiếng là nghiêm ngặt và không khoan nhượng. Đôi bàn tay gầy gò, nổi đầy gân xanh của ông ta miết đi miết lại trên mép tờ giấy bản ngả màu vàng ố vì chôn dưới đất, phát ra những tiếng sột soạt khô khốc.
Bình dịch chân trái lên nửa bước, kín đáo chắn trọn thân hình mảnh mai của Hoài An sau lưng mình. Bàn tay anh xuôi bên hông siết chặt thành nắm đấm, khớp ngón tay trắng bệch. Anh là lính, từng đối mặt với hỏa lực pháo kích và những trận phục kích xuyên rừng, anh không sợ kỷ luật, không sợ bị tước quân tịch hay mất chức Xã đội trưởng. Nhưng An thì khác. Vợ anh đang mang trong mình sinh linh bé bỏng mới qua mười tuần. Vừa rồi lúc đi bộ từ bờ ruộng bãi Soi về đình làng, anh đã nhận thấy bước chân cô hơi run, bàn tay cô nắm lấy gấu áo trấn thủ của anh lạnh ngắt. Cô vừa trải qua đợt lao lực cứu đoàn xe chở thóc quân nhu, cơ thể vốn đã yếu ớt vì ốm nghén, làm sao chịu nổi một cuộc đấu tố tư tưởng nặng nề?
“Đồng chí Bùi Đắc Khoát.” — Giọng ông Đặng Cự cất lên, bằng phẳng, khô khốc nhưng nặng tựa ngàn cân — “Đồng chí là Huyện ủy viên, là Chủ nhiệm Hợp tác xã bậc cao suốt bảy năm nay. Đồng chí giải thích thế nào về mười bốn dấu tay này? Về cái gọi là ‘Cam ước khoán gọn sản phẩm ruộng bãi Soi’ này?”
Chủ nhiệm Khoát ngồi ở góc bàn đối diện, chiếc áo đại nam bốn túi cài kín cổ dường như đang thắt nghẹn lấy hơi thở của ông. Chiếc bút máy Kim Tinh cài bên ngực áo khẽ rung lên theo từng nhịp tim dồn dập. Mồ hôi rịn ra trên vầng trán hói, chảy ngoằn ngoèo qua thái dương.
“Báo cáo đồng chí Trưởng phòng...” — Bình hít một hơi sâu, ngực phập phồng dưới lớp áo Tô Châu bạc màu, bước hẳn ra phía trước — “Việc này là do Đội sản xuất số 3 chúng tôi tự ý làm. Ruộng bãi Soi là đất hoang hóa ngập lụt triều cường, vụ trước cỏ dại mọc lút đầu người, bỏ không thì phí. Tôi là Đội trưởng, lại là Đảng viên phụ trách cơ sở, tôi thấy bà con đói giáp hạt triền miên nên mới liều lĩnh đứng ra vận động bà con tận dụng. Mọi giấy tờ, cam kết này đều do một tay tôi lập ra. Đảng ủy xã và Ban Quản trị Hợp tác xã hoàn toàn không hay biết. Nếu huyện thấy sai quan điểm lập trường, tôi xin chịu kỷ luật trước Đảng, trước pháp luật, xin đừng liên lụy tới người khác!”
Bình vừa dứt lời, định giơ tay nhận hết mọi trách nhiệm về mình thì một tiếng đập bàn chát chúa bất thần vang lên làm rung chuyển cả ấm chén sành trên bàn.
“Rầm!”
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng phắt dậy. Khuôn mặt vuông chữ điền của người đàn ông ngoài năm mươi tuổi đỏ bừng vì uất nghẹn và quyết liệt. Ông nhìn thẳng vào Đặng Cự, ngực thở phập phồng, chiếc bút Kim Tinh bật tung nắp cài rơi xuống mặt bàn gỗ vang lên một tiếng cạch khô khốc.
“Đồng chí Cự! Đồng chí đừng có nghe thằng Bình nó nhận xằng nhận bậy!” — Ông Khoát gằn từng tiếng, giọng khàn đặc nhưng sang sảng chấn động cả gian đình — “Nó là bộ đội phục viên mới về làng được hơn một năm, biết cái cóc khô gì về cơ chế quản lý mà dám tự tiện chia đất xé rào? Tôi là Chủ nhiệm, tôi không gật đầu, tôi không ký nháy ngầm thì thằng Đội trưởng nào dám đem mười lăm mẫu đất bãi chia khoán cho mười bốn hộ?”
Không khí trong phòng lặng đi. Người cán bộ văn phòng huyện ngồi ghi biên bản run tay, ngòi bút sắt dừng khựng lại trên trang giấy kẻ ngang.
Bình sững sờ quay sang nhìn ông Khoát. Trong mắt người lính trẻ, vị Chủ nhiệm Hợp tác xã này xưa nay vốn là hiện thân của sự khuôn thước, giáo điều, mở miệng ra là chỉ tiêu thi đua, sợ sai, sợ mất chức đến mức lúc nào cũng kè kè cuốn sổ tay bên mình. Vậy mà lúc này đây, trước mặt vị Trưởng phòng khét tiếng thanh liêm nhưng lạnh lùng của huyện, ông Khoát lại tự tay xé toang cái vỏ bọc an toàn của mình, đứng ra làm chiếc khiên chắn trước đầu sóng ngọn gió.
“Anh Khoát, anh có biết mình đang nói gì không?” — Đặng Cự nhướng mày, ánh mắt sắc như dao cau lóe lên sau tròng kính — “Đây là vấn đề đường lối, là vấn đề bản chất của kinh tế tập thể! Phân chia tư liệu sản xuất, khoán sản phẩm chui đến từng hộ gia đình... đó là biểu hiện của tư tưởng làm ăn cá thể, là đi chệch khỏi con đường hợp tác hóa nông nghiệp! Anh dám đứng ra nhận sao?”
“Tôi biết chứ! Tôi thừa biết cái tội này nặng đến mức nào!” — Ông Khoát không hề lùi bước, hai tay chống chặt xuống mép bàn, người chồm về phía trước — “Nhưng thưa đồng chí Trưởng phòng, đồng chí về đây thanh tra đất đai, đồng chí có biết đầu năm ngoái dân An Hòa ăn cái gì để sống qua ngày không? Cơm độn tám phần sắn củ mục mốc xanh mốc đỏ, trẻ con trong làng bụng ỏng đít teo, phân nửa xã viên đi làm đồng chỉ mong nghe tiếng kẻng giải lao để bò về nhà nằm thở! Mười lăm mẫu bãi Soi kia, theo kế hoạch hợp tác tập thể thì làm gì? Đánh trống ghi tên, xuất quân rầm rộ vài ba buổi rồi bỏ mặc cho cỏ may, sâu bọ nó ăn sạch. Vụ nào cũng báo cáo lỗ, vụ nào cũng xin huyện cứu tế!”
Ông Khoát th* d*c, mắt hoe đỏ:
“Tôi già rồi, chức Chủ nhiệm này mất thì tôi về vườn cuốc đất trồng rau. Nhưng tôi không thể trơ mắt nhìn dân đói rách trong khi đất đai màu mỡ bên sông Đáy bị bỏ hoang! Tôi cho chúng nó khoán! Tôi bảo thằng Bình với con An phải làm sao cho đất đẻ ra hạt ngô, củ khoai để cứu đói cho xã viên! Nếu huyện muốn cách chức, khai trừ Đảng, cứ việc bỏ tù Bùi Đắc Khoát này! Đừng có dồn ép lũ trẻ, chúng nó chỉ biết cắm mặt xuống bùn mà làm ra củ sắn hạt thóc thôi!”
Lời nói gan ruột của người chủ nhiệm già như tảng đá ném vào mặt hồ phẳng lặng, làm dấy lên những đợt sóng ngầm chấn động. Bình cảm thấy sống mũi mình cay xè. Anh bước lại gần hơn, muốn cùng đứng cạnh ông Khoát thì một bàn tay nhỏ nhắn khẽ kéo nhẹ vạt áo anh.
Hoài An bước lên.
Bình cúi nhìn vợ. Đôi môi cô hơi nhợt nhạt, nhưng nơi đáy mắt lại phẳng lặng như mặt nước giếng khơi, sáng ngời một thứ ánh sáng của sự tự tin và tri thức vững vàng. An không có vẻ gì là một người phạm tội đang chờ xét xử. Cô cởi chiếc túi vải bạt bộ đội đeo chéo bên hông, nhẹ nhàng đặt lên bàn trước mặt Trưởng phòng Đặng Cự một tập tài liệu dày cộp được đóng bằng chỉ dù cẩn thận.
“Báo cáo đồng chí Trưởng phòng, báo cáo Ban Quản trị.” — Giọng An vang lên trong trẻo, rành rọt, âm lượng không quá lớn nhưng có một sức nặng kỳ lạ khiến người ta bất giác phải lắng nghe — “Chủ nhiệm Khoát nói đúng về cái đói và tình thế bức bách của địa phương. Nhưng tôi xin phép được chứng minh bằng những con số thực tế: Việc khoán gọn ruộng bãi Soi không hề làm suy yếu kinh tế tập thể, mà ngược lại, chính là cứu cánh bảo vệ và nâng cao sức mạnh của Hợp tác xã An Hòa trong suốt một năm qua.”
Đặng Cự nheo mắt nhìn cô gái trẻ:
“Cô Hoài An, đồng chí định dùng vài ba con số để biện minh cho một sai lầm về mặt nguyên tắc à?”
“Thưa đồng chí, nguyên tắc sinh ra là để phục vụ đời sống của con người và thúc đẩy sản xuất, chứ không phải để trói buộc sức lao động của người dân vào cảnh bần cùng.” — An bình tĩnh mở trang đầu tiên của tập tài liệu.
Đó không phải là một cuốn sổ ghi công điểm sơ sài thường thấy ở các đội sản xuất, mà là một hệ thống nhật ký nông học và kế toán chi tiết đến kinh ngạc. Từng trang giấy được kẻ cột ngay ngắn bằng mực Cửu Long, có các biểu đồ cột và đường gấp khúc thể hiện sự tăng trưởng sinh khối, hàm lượng mùn trong đất, biểu đồ dịch bệnh và lượng phân bón vi sinh qua từng giai đoạn.
Bình nín thở nhìn vợ. Những đêm đông giá buốt năm ngoái, khi anh ngồi vá từng chiếc cày, chiếc bừa bên bếp lửa, thì An lại chong ngọn đèn dầu hỏa hạt đỗ bên chiếc hòm gỗ, tỉ mỉ ngồi tính toán từng con số, từng biểu đồ này. Khi ấy anh chỉ nghĩ cô có thói quen ghi chép cẩn thận của một cô gái có học, không ngờ rằng những nét mực tím mộc mạc ấy hôm nay lại trở thành thứ vũ khí sắc bén nhất.
“Xin đồng chí Trưởng phòng nhìn vào trang ba.” — An lật giở từng trang, ngón tay thon thả chỉ vào các cột số liệu so sánh — “Vụ đông xuân năm 1977, theo lối canh tác tập thể cũ ‘đánh trống ghi tên’, mười lăm mẫu bãi Soi chỉ thu được vỏn vẹn bốn tấn ngô bắp kẹ, hao hụt giống lên tới ba mươi phần trăm, trừ chi phí công điểm thì Hợp tác xã phải bù lỗ tám trăm đồng tiền mua xăng dầu máy bơm.”
Ngón tay An lướt sang trang bên cạnh:
“Nhưng từ khi áp dụng cơ chế khoán gọn sản phẩm đến từng nhóm hộ gia đình từ giữa năm 1978: Toàn bộ mười lăm mẫu đất được cải tạo triệt để bằng phân xanh ủ bèo hoa dâu và men vi sinh rơm mục. Mười bốn hộ xã viên làm việc không quản ngày đêm, bởi họ biết rõ mồ hôi mình đổ xuống sẽ được đền đáp xứng đáng bằng phần trăm vượt khoán. Kết quả: Vụ thu đông vừa qua, sản lượng ngô hạt thực thu đạt hai mươi tư tấn, đậu tương đạt bảy tấn rưỡi. Năng suất bình quân vượt một trăm sáu mươi phần trăm so với chỉ tiêu cao nhất mà huyện từng giao cho An Hòa!”
Đặng Cự khẽ giật mình, chiếc kính lão trên sống mũi ông ta rung nhẹ. Là một cán bộ nông nghiệp xuất thân từ kỹ sư canh nông thời kháng chiến chống Pháp, ông quá hiểu ý nghĩa của con số hai mươi tư tấn ngô trên một dải đất bãi ven sông Đáy thường xuyên ngập úng. Đó là một con số không tưởng đối với bất kỳ hợp tác xã bậc cao nào trong toàn huyện Chương Mỹ.
“Chưa hết đâu ạ.” — Giọng An tiếp tục đanh lại, từng lập luận sắc bén như nhát dao mổ xẻ sự thật tr*n tr** — “Xin đồng chí xem lại sổ giao nộp lương thực của huyện. Trong hai mươi tư tấn ngô và bảy tấn đậu đó, Hợp tác xã An Hòa đã nộp đủ một trăm phần trăm nghĩa vụ lương thực cho Nhà nước, không thiếu một lạng, không chậm một ngày. Phần sản lượng vượt khoán chia cho mười bốn hộ gia đình đã trực tiếp giải quyết dứt điểm nạn đói giáp hạt cho hơn bảy mươi nhân khẩu của Đội 3. Không một ai phải ngửa tay xin gạo cứu tế của huyện!”
Bình đứng bên cạnh, lồng ngực anh căng tràn niềm kiêu hãnh và xúc động khôn tả. Anh nhìn thấy rõ mồ hôi trên trán vị Trưởng phòng nông nghiệp bắt đầu túa ra.
An hít một hơi thật sâu, ánh mắt hướng về phía bức ảnh Bác Hồ treo trang trọng giữa gian đình, giọng cô chùng xuống nhưng chất chứa niềm xúc động sâu xa:
“Và quan trọng nhất, thưa đồng chí Trưởng phòng... Ba ngày trước, khi lệnh điều động lương thực khẩn cấp của Quân khu 3 ban xuống giữa lúc chiến sự biên giới phía Bắc bùng nổ ác liệt, tại sao Huyện đội chỉ thị cho toàn huyện thu gom mà chỉ có duy nhất xã An Hòa bàn giao đủ năm mươi tấn thóc khô, sạch, đạt chuẩn loại A trong vòng chưa đầy bốn mươi tám tiếng đồng hồ?”
Cả gian đình im phăng phắc. Tiếng gió mùa đông bắc muộn thổi qua rặng tre đầu đình nghe xao xác như một tiếng thở dài của đất trời.
An nhìn thẳng vào mắt Đặng Cự:
“Năm mươi tấn thóc ấy lấy từ đâu ra? Ngoài số thóc giống dự trữ vừa được sấy khô bằng lò đối lưu thủ công của Đội 3, thì hơn một nửa số thóc thịt chi viện cho mặt trận Lạng Sơn, Quảng Ninh chính là do mười bốn hộ dân bãi Soi tự nguyện mang từ bồ thóc gia đình ra đóng góp! Nhờ có khoán gọn, dân có hạt ngô, củ đậu ăn no bụng, nên hạt thóc làm ra từ ruộng tập thể họ mới dành trọn vẹn, không bớt xén một hạt nào để nộp cho Nhà nước, để gửi ra chiến hào cho bộ đội! Nếu cứ giữ khư khư cách làm cũ, đất bỏ hoang, dân đói lả, thì lấy đâu ra năm mươi tấn quân lương kịp chuyến tàu ở ga Thường Tín để chi viện cho đồng đội của chúng tôi đang đổ máu nơi biên ải?”
Từng câu, từng chữ của Hoài An như những hồi chuông gióng thẳng vào tâm can những người có mặt trong phòng.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát thở hắt ra một hơi dài, ngả người ra sau ghế, ánh mắt nhìn An ngập tràn sự thán phục. Người cán bộ văn phòng huyện buông hẳn chiếc bút sắt, hai mắt tròn xoe nhìn người phụ nữ trẻ đang đứng sừng sững giữa đình làng.
Trưởng phòng Đặng Cự không nói một lời nào. Bàn tay ông ta run rẩy lật giở từng trang nhật ký của An. Ông dừng lại rất lâu ở biểu đồ theo dõi độ phì nhiêu của đất, nơi An chứng minh rằng sau ba vụ khoán, hàm lượng mùn trong đất bãi Soi không hề bị khai thác kiệt quệ theo lối “bóc ngắn cắn dài” của tư bản như người ta thường chụp mũ, mà trái lại, nhờ kỹ thuật ủ phân vi sinh và trồng xen canh cây họ đậu, đất bãi Soi ngày càng tơi xốp, màu mỡ hơn bao giờ hết.
Năm phút trôi qua trong sự im lặng nghẹt thở. Bình cảm nhận được từng giây từng phút trôi qua nặng nề như cả thế kỷ. Anh đưa tay ra sau, khẽ chạm vào những ngón tay của An. Những ngón tay cô mềm mại, hơi lạnh, nhưng kiên định siết chặt lấy tay anh đáp lại. Hai vợ chồng đứng tựa vào nhau, sẵn sàng cùng nhau đón nhận bất kỳ phán quyết nào.
Đột nhiên, Đặng Cự tháo chiếc kính lão xuống. Ông rút chiếc khăn mùi xoa ố vàng trong túi áo ra, chậm rãi lau tròng kính. Khi ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc lạnh thường ngày của vị Trưởng phòng nông nghiệp đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một sự trầm ngâm, phức tạp vô cùng.
“Đồng chí Bùi Đắc Khoát, đồng chí Trần Bình, cô Hoài An...” — Đặng Cự cất giọng, thanh âm trầm xuống kỳ lạ — “Các đồng chí có biết tại sao hôm nay tôi lại dẫn đoàn thanh tra đích thân về rà soát mốc giới đất ở An Hòa không?”
Ông Khoát giật mình, ngơ ngác nhìn Đặng Cự. Bình cũng nheo mắt khó hiểu.Đặng Cự không vội trả lời. Ông ta thò tay vào chiếc cặp da cũ kỹ đặt dưới gầm bàn, cẩn thận rút ra một tập công văn có đóng dấu “Tối mật” của Tỉnh ủy Hà Sơn Bình gửi riêng cho Ban Thường vụ Huyện ủy Chương Mỹ.
“Huyện ủy nhận được đơn tố cáo nặc danh về việc An Hòa có dấu hiệu chia ruộng tập thể từ nửa tháng trước.” — Đặng Cự chậm rãi nói — “Nếu là ba năm trước, chỉ với một góc của tờ cam ước khoán gọn này thôi, tôi đã đủ quyền hạn ký lệnh đình chỉ chức vụ Chủ nhiệm của anh Khoát, tước danh hiệu Đội trưởng của đồng chí Bình, và chuyển toàn bộ hồ sơ sang Viện Kiểm sát để điều tra về tội phá hoại kinh tế tập thể.”
Trái tim Bình đập thình thịch trong lồng ngực. Anh cảm nhận được An cũng khẽ nín thở.
“Thế nhưng...” — Đặng Cự gõ nhẹ ngón tay lên tập công văn mật — “Đất nước vừa bước qua một cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại, nay lại đang oằn mình chống chọi với cuộc chiến tranh biên giới hai đầu đất nước. Lương thực khan hiếm, kho tàng trống rỗng, viện trợ bên ngoài bị cắt giảm. Trung ương và Tỉnh ủy đang nhìn thấy một sự thật đau xót: cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp cào bằng đang bóp nghẹt sức sản xuất của người nông dân!”
Đặng Cự đứng dậy, bước đến bên khung cửa sổ, nhìn ra cánh đồng An Hòa bạt ngàn một màu xanh non của lúa xuân đang thì con gái.
“Nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao trên Trung ương đang âm thầm đi tìm một lối thoát thực tiễn. Ở Vĩnh Phú trước đây từng có khoán hộ của đồng chí Kim Ngọc bị phê phán, nhưng bây giờ ở Hải Phòng, ở một số huyện của Hà Sơn Bình chúng ta, người ta đang bắt đầu phải ‘xé rào’ trong bí mật để cứu đói cho dân. Thường vụ Huyện ủy cử tôi về đây, danh nghĩa là thanh tra sai phạm, nhưng thực chất là giao cho tôi một nhiệm vụ sống còn: tìm cho ra một mô hình thực nghiệm có năng suất thực sự, có cơ sở khoa học và chứng minh được hiệu quả kinh tế rõ ràng, để Huyện ủy báo cáo lên Ban Nông nghiệp Trung ương!”
Lời nói của Đặng Cự như một tia sét rạch ngang bầu trời u tối, làm bừng sáng cả gian đình cổ.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát há hốc mồm, hai mắt mở to bàng hoàng:
“Anh Cự... anh nói... Trung ương đang tìm mô hình thực tế ư?”
“Phải!” — Đặng Cự quay người lại, bước đến trước mặt vợ chồng Bình - An. Đôi mắt già nua của ông dừng lại trên tập hồ sơ kế toán của An và bản cam ước mười bốn dấu tay — “Tôi làm nông nghiệp cả đời, tôi thừa biết đất đai cần gì và người nông dân cần gì. Tôi không sợ cái mới, tôi chỉ sợ những kẻ làm ẩu, làm liều, phá hoại tập thể để mưu lợi cá nhân. Nhưng những gì hai vợ chồng đồng chí Bình và An làm ở bãi Soi... nó không phải là phá hoại. Đó là một công trình khoa học thực sự! Là một sáng kiến vĩ đại bắt nguồn từ chính lòng yêu nước và sự thấu hiểu nỗi khổ của người nông dân!”
Đặng Cự cúi xuống, hai tay trân trọng nhặt tờ giấy bản có mười bốn dấu điểm chỉ đỏ, cẩn thận gấp lại theo nếp cũ, rồi kẹp thẳng vào tập hồ sơ công văn mật của Huyện ủy.
“Bản cam ước này, tôi sẽ không tịch thu như một tang vật phạm pháp.” — Đặng Cự dõng dạc tuyên bố, ánh mắt nhìn thẳng vào ông Khoát và Bình — “Tôi sẽ đích thân mang nó về nộp cho đồng chí Bí thư Huyện ủy, kèm theo toàn bộ tập nhật ký số liệu của cô Hoài An. Tôi sẽ đề xuất Ban Thường vụ Huyện ủy chọn Đội sản xuất số 3 của Hợp tác xã An Hòa làm điểm đột phá khảo sát cơ chế mới về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm lao động và hộ gia đình!”
Một tiếng nấc nghẹn ngào bất giác bật ra từ cổ họng ông Bùi Đắc Khoát. Người đàn ông dạn dày sương gió, từng vào sinh ra tử trên chiến trường, vậy mà lúc này hai giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo. Ông đưa tay áo lau vội, cười mà như mếu:
“Trời phật ơi... thế là... thế là chúng ta không sai... Dân An Hòa không phải chịu đói nữa rồi!”
Bình quay sang nhìn vợ. Hoài An mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ, thanh thản như đóa hoa sen vừa hé nở sau cơn giông bão. Anh không kìm được lòng mình, đưa bàn tay thô ráp siết chặt lấy bờ vai mảnh dẻ của cô kéo vào lòng. Bao nhiêu áp lực, bao nhiêu âu lo đè nặng lên ngực anh suốt những ngày qua bỗng chốc tan biến như sương khói gặp nắng mai. Ánh sáng của sự thật, ánh sáng của hạt thóc củ khoai làm ra bằng mồ hôi chân chính rốt cuộc đã xé toang bức màn đen tối của sự nghi kỵ giáo điều.
*
Hoàng hôn buông xuống trên triền đê sông Đáy, nhuộm đỏ cả một vùng trời nước phù sa.
Bình dắt chiếc xe đạp Thống Nhất cũ, đi song hàng cùng An trên con đường mòn quen thuộc dẫn về xóm Trại. Gió chiều thổi lồng lộng qua bãi ngô xanh mướt mát, mang theo hương thơm ngai ngái của đất bãi và mùi cỏ mật ngọt ngào.
“Em có mệt lắm không?” — Bình dừng bước, nhìn vạt áo nâu của An bay bay trong gió, ánh mắt ngập tràn vẻ xót xa và yêu thương — “Vừa rồi ở đình làng, tim anh như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Anh chỉ sợ ông Cự máy móc, làm tổn hại đến em và con.”
An đưa tay vuốt lại lọn tóc mai bị gió thổi lòa xòa trước trán, khẽ tựa đầu vào cánh tay rắn rỏi của chồng:
“Em biết anh sẽ che chắn cho em mà. Nhưng mình không làm gì sai cả, anh Bình ạ. Đất đai không biết nói dối, và hạt thóc hạt ngô nuôi sống con người lại càng không biết nói dối. Em tin những người làm nông nghiệp chân chính như ông Đặng Cự, khi nhìn vào thực tế mùa màng, họ sẽ hiểu ra đâu là con đường đúng.”
Bình buông tay lái xe đạp, để mặc chiếc xe dựa vào bờ cỏ. Anh vòng tay ôm trọn lấy eo An, bàn tay chai sạn nhẹ nhàng áp lên vùng bụng dưới vẫn còn phẳng lặng của vợ. Nơi ấy, mầm sống nhỏ bé của anh và cô đang âm thầm lớn lên từng ngày giữa những tháng năm gian nan nhưng hào hùng của đất nước.
“An này...” — Bình thì thầm bên tai cô, giọng trầm ấm rung rinh trong lồng ngực — “Hôm nay ông Cự nói thế, nghĩa là bãi Soi của chúng ta an toàn rồi. Vụ chiêm này gặt xong, anh sẽ bàn với u và anh em trong đội, gom gạch mộc với ngói sông Cầu, dựng lại cho mẹ con em một căn nhà ba gian đàng hoàng. Căn nhà cũ mái rạ dột nát quá rồi, anh không thể để em nằm ổ trong căn nhà ẩm thấp ấy được.”
An mỉm cười, ngước nhìn gương mặt cương nghị, sạm đen vì nắng gió của chồng, trong lòng dâng lên một niềm hạnh phúc bình dị mà sâu sắc vô bờ:
“Nhà ngói hay nhà tranh không quan trọng, miễn là có anh, có u và có con bên cạnh là em mãn nguyện rồi.”
Hai người dắt nhau về đến đầu ngõ khi trời đã chập choạng tối. U Mẫn đã đứng đợi sẵn ở đầu bờ rào dâm bụt tự bao giờ. Nhìn thấy hai con bình an trở về với nụ cười trên môi, bà cụ rơm rớm nước mắt, vội vàng quay vào bếp múc ra hai bát chè đỗ xanh nấu với đường phên ấm nóng mà bà đã cẩn thận chắt chiu từ đợt phân phối tết. Bữa cơm tối đạm bạc trong gian nhà tranh ba gian trôi qua trong tiếng cười ấm áp, rộn rã hiếm hoi sau chuỗi ngày dài căng thẳng vì chiến sự và thanh tra.
Đêm ấy, không khí bỗng nhiên chuyển biến ngột ngạt lạ thường.
Khoảng nửa đêm, Bình giật mình tỉnh giấc bởi một tiếng sấm rền vang từ phía chân trời xa. Gió bắt đầu nổi lên, rít từng hồi qua rặng chuối sau nhà. Cơn dông lốc đầu hạ — thứ thời tiết quái ác và hung hãn đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ — đang ập đến với tốc độ chóng mặt.
“Ầm! Rắc!”
Một tia chớp xanh lét xé toạc màn đêm đen kịt, kéo theo tiếng sét nổ đanh gọn ngay trên ngọn cây đa đầu xóm. Ngay sau đó, những ngọn gió xoáy cuồn cuộn giật thốc vào mái nhà tranh ba gian. Những lớp rạ mục ngâm qua mùa nồm ẩm không chịu nổi sức gió lốc, bắt đầu bị cuốn phăng từng mảng lớn, bay rào rào vào màn đêm.
“Bình ơi! Tốc mái rồi con ơi!” — Tiếng u Mẫn hoảng hốt kêu lên từ buồng trong.
Mưa rào như trút nước lập tức xối xả ập xuống qua những khoảng thủng hoác trên nóc nhà. Nước mưa đen ngòm hòa lẫn bụi rạ mục chảy ròng ròng xuống nền đất, nhắm thẳng vào góc nhà — nơi đang xếp bốn bồ thóc giống lúa xuân thuần chủng mà An đã dày công lai tạo và chọn lọc suốt cả vụ qua.
“U ở yên trong buồng bế cháu! Đừng ra ngoài kẻo trúng gió!” — Bình hét lớn át tiếng sấm, vơ vội chiếc áo tơi lao ra gian ngoài.
Nhìn thấy nước mưa đang xối thẳng vào bồ thóc giống quý, An cũng không màng đến cơ thể đang mệt mỏi, vội vã vùng dậy khỏi giường. Cô với lấy tấm bạt ni lông rách treo trên vách đất, lao ra góc nhà:
“Anh Bình! Kéo bạt che bồ thóc giống! Ướt nước mưa là nảy mầm hỏng hết giống của vụ tới!”
“An! Em để đấy anh làm! Ngồi yên trên giường đi!” — Bình hét lên, vừa gồng mình trèo lên chiếc thang tre để chằng néo lại cây xà gồ đang rung lắc dữ dội dưới sức giật của mái rạ, vừa lo lắng nhìn xuống vợ.
Gió lốc mỗi lúc một mạnh, giật tung cánh cửa liếp phía sau thông ra bờ giếng. Một luồng gió xoáy thốc mạnh vào nhà làm tấm bạt trên tay An bay phần phật, cuốn tuột ra ngoài sân gạch trơn nhẫy nước mưa.
Không nghĩ ngợi nhiều, An vội vã lao theo ra cửa sau để giữ lấy tấm bạt cứu bồ thóc giống. Nhưng nền sân đất pha sét gặp trận mưa rào đầu hạ đã biến thành một bãi bùn trơn như mỡ.
Chân An dẫm phải một mảng rêu trơn trượt bên bờ thềm. Cả cơ thể cô mất thăng bằng, chới với ngã ngửa ra phía sau.
“Bốp!”
Thắt lưng và hông của An đập mạnh vào thành giếng xây bằng gạch mộc nhô cao giữa sân.
Một cơn đau buốt xé ruột xé gan lập tức chạy dọc từ sống lưng xuống bụng dưới. An quỵ ngã xuống vũng nước mưa lạnh ngắt, hai tay ôm chặt lấy bụng, một tiếng thét nghẹn ứ nơi cổ họng:
“Anh... anh Bình ơi... con...!”
Trên chiếc thang tre, một tia chớp chói lòa vừa rạch ngang trời soi rõ bóng dáng người vợ trẻ đang nằm co quắp dưới chân thành giếng trong làn mưa xối xả. Trái tim Trần Bình như ngừng đập hoàn toàn, chiếc búa trên tay anh rơi tuột xuống đất, để lại một tiếng kêu tuyệt vọng xé toạc màn đêm giông bão.