Vết kim loại sắc lẹm của chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo cứa sâu vào lòng bàn tay An, buốt nhói. Một giọt máu đỏ tươi rỉ ra, thấm qua kẽ ngón tay rồi nhỏ xuống nền đất đá xanh trước cửa đình làng. Nhưng cơn đau thể xác ấy chẳng thấm tháp gì so với luồng điện lạnh ngắt vừa giáng xuống đỉnh đầu cô, xé toạc màng nhĩ và bóp nghẹt lồng ngực đến mức không thể thở nổi.
Bốn ngày bốn đêm mất liên lạc trong rừng sâu nước lũ.
Cả một vạt núi sạt lở đè xuống con đường độc đạo trên đèo Mang Yang.
Trần Bình, đội K53, cùng chiếc xe tải quân sự của đoàn công tác bặt vô âm tín giữa chốn rừng thiêng nước độc của chiến trường Tây Nguyên xưa.
“Cháu An... Cháu An ơi!”
Tiếng gọi thảng thốt của Đỗ Luận kéo An giật mình thoát khỏi cơn bàng hoàng tê dại. Người cựu chiến binh dạn dày khói lửa, Trưởng công an xã nổi tiếng gan lì của đất An Hòa, lúc này đôi mắt đỏ hoe, vội vàng bước tới chìa tay ra như muốn đỡ lấy cô vì sợ cô sẽ ngã quỵ xuống đất. Cách đó vài bước, mấy cán bộ ủy ban xã vừa nghe phong phanh mẩu tin dữ cũng lặng người đi, nét mặt ai nấy đều xám ngoét lại như tro nguội.
An chớp mắt, hít sâu một hơi dài. Không khí cuối chiều ẩm ướt mang theo mùi bùn sông Đáy sặc sụa xộc vào cánh mũi, làm cay xè cuống họng.
Cô không ngã. Đôi chân mảnh khảnh mang đôi dép cao su đúc của cô vẫn cắm chặt trên thềm đá, vững như một chiếc cọc tre đóng xuống bờ đê. Bằng một sự điềm tĩnh phi thường nảy sinh từ tận đáy tuyệt vọng, An siết chặt bàn tay đang rỉ máu lại thành nắm đấm, giấu ra sau tà áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa.
“Chú Luận...” Giọng An khàn đặc, nhưng từng từ thốt ra đều rành rọt, không hề run rẩy như người ta tưởng. “Điện tín của Tỉnh đội chỉ ghi là ‘mất liên lạc’... chứ chưa có thông báo thương vong, phải không chú?”
Đỗ Luận giật mình trước câu hỏi của cô. Anh ngập ngừng giở lại tờ giấy mỏng màu vàng rơm, gật đầu thật mạnh:
“Đúng... Đúng thế! Chỉ ghi là đứt đường dây thông tin, sạt trượt đất đá cắt đứt giao thông toàn tuyến đường 19 qua đèo Mang Yang, các đội cứu hộ của Quân đoàn Ba và Tỉnh đội Gia Lai đang dồn lực san đường mở lối tìm kiếm. Chưa... chưa có tin gì xấu hơn!”
“Chưa có tin xấu, tức là còn sống.” An nói, ánh mắt rực sáng một cách kỳ lạ giữa gương mặt trắng bệch. “Anh Bình là lính trinh sát Tây Nam. Anh ấy từng lội qua hàng chục bãi mìn, từng sống sót sau những trận phục kích ác liệt nhất ở biên giới. Địa hình rừng núi hiểm trở anh ấy hiểu rõ hơn ai hết. Một trận lũ rừng không thể nào cướp mất mạng sống của anh ấy được!”
Nói đoạn, An quay phắt người lại, nhìn về phía con đường dẫn về xóm Trại:
“U cháu... U Mẫn ở nhà đã biết chuyện chưa chú?”
Câu hỏi ấy khiến Đỗ Luận sực tỉnh, mặt anh biến sắc:
“Chết dở! Lúc nãy tôi đạp xe từ bưu điện huyện về ngang qua quán nước đầu làng, thấy mấy mụ buôn chuyến xì xào việc bưu điện huyện nhận điện khẩn quân sự... Sợ là tin đồn nhảm đã lan về tới xóm rồi!”
Tim An thắt lại như có ai dùng dây thừng siết chặt. Cô không kịp chào Đỗ Luận thêm một câu, lập tức sải bước thoăn thoắt, chạy thục mạng về phía xóm Trại.
Con đường đê chiều muộn gió thổi phần phật. Những rặng tre hai bên bờ sông Đáy ken dày vào nhau phát ra những tiếng cọt kẹt rợn người. An vừa chạy vừa th* d*c, từng nhịp đập nơi lồng ngực gõ dồn dập vào tâm can cô.
Cô không cho phép mình suy sụp. Ở thời hiện đại, cô từng là một nhà khoa học, được rèn luyện để giữ cái đầu lạnh nhất trước những biến cố ngặt nghèo nhất; còn ở thời đại này, cô là vợ của Trần Bình, là con dâu của người mẹ già cả đời đã cạn khô nước mắt vì chiến tranh. Bình đã đi xa, đã trao gửi cơ ngơi và cả gia đình lại cho cô gánh vác. Nếu bây giờ cô ngã xuống, ai sẽ là chỗ dựa cho u Mẫn? Ai sẽ che chở cho bãi Soi đang bước vào giai đoạn quyết định sống còn?
Vừa rẽ vào ngõ tre dẫn tới ngôi nhà ba gian lợp mái rạ, một cảnh tượng nhói lòng đập thẳng vào mắt An.
Mấy người phụ nữ trong xóm đang xúm xít quanh cổng. Tiếng chị Đặng Thị Đượm khóc thét lên thất thanh:
“U ơi! U Mẫn ơi! Tỉnh lại đi u ơi! Bớ làng nước ơi, cụ Khiêm ơi!”
Bên bậc thềm gạch rêu phong, chiếc nón mê rách rưới rơi chỏng chơ bên rổ rau muống hái dở văng tung tóe. Bà cụ Mẫn nằm lịm đi trên tay chị Đượm, gương mặt nhăn nheo xám ngắt không còn giọt máu, đôi môi thâm sì mím chặt lại, hơi thở mỏng manh như sợi khói chiều đông.
Cách đó không xa, cụ giáo Khiêm đang lập cập chống chiếc gậy trúc chạy từ bên nhà sang. Đôi bàn tay gầy gò nổi đầy gân guốc của người cha già run rẩy bám chặt vào then cổng tre, cả thân hình còng rộc chao đảo như sắp quỵ ngã. Tin sét đánh về đứa con rể - người đồng chí mà ông hết mực tin yêu, người đang trên đường đi tìm nắm xương tàn của Hoài Nam con trai ông - như một nhát dao chí mạng đâm thẳng vào ngực cụ.
“U!”
An lao tới như một cơn gió, quỳ sụp xuống bên thềm gạch. Sự hoảng loạn chực chờ bùng lên trong đáy mắt lập tức bị bản lĩnh phi thường của cô đè nén xuống. Cô nhanh chóng đặt ngón tay lên động mạch cổ của u Mẫn, rồi ghé tai vào lồng ngực gầy guộc của bà.
Mạch đập rất nhanh và nông, huyết áp tụt dột ngột do sang chấn tinh thần quá lớn. Đây là triệu chứng trụy mạch do sốc!
“Chị Đượm, đỡ u nằm ngửa thẳng ra thềm, kê cao hai chân u lên!” An quát to, giọng đanh thép và dứt khoát đến mức khiến chị Đượm đang luống cuống khóc lóc cũng phải nín bặt, vội vàng làm theo. “Mọi người tản rộng ra, đừng vây kín lại nữa, để thoáng khí cho u thở!”
An gạt phắt mái tóc lòa xòa trước trán, dùng đầu ngón tay cái bấm thật mạnh vào huyệt nhân trung ngay dưới vòm mũi của u Mẫn. Cô giữ chặt, day đều với một lực chuẩn xác. Được chừng mười giây, bà cụ Mẫn run rẩy giật giật mi mắt, phát ra một tiếng nấc nghẹn ngào từ sâu trong cổ họng:
“B... Bình ơi... Con ơi...”
“U! Con đây, An đây u!” An ghé sát mặt mình vào má mẹ chồng, giọng cô run lên nhưng tràn đầy sự ấm áp, truyền sinh khí vào thân thể cạn kiệt của bà cụ. “U mở mắt nhìn con này, anh Bình không sao cả! Anh ấy chỉ bị tắc đường do lũ rừng thôi, công điện quân đội báo rõ ràng là anh ấy không việc gì!”
Đôi mắt đục mờ của u Mẫn từ từ hé mở. Nhìn thấy gương mặt đẫm mồ hôi của An, hai dòng nước mắt già nua ứa ra từ khóe mắt sâu hoắm, lăn dài trên những nếp nhăn nheo:
“An ơi... Thằng Bình nhà u... Mười mấy năm trời u tiễn anh nó đi, anh nó không về... Giờ lại đến nó... Rừng thiêng nước độc, lũ cuốn đá đè thế kia thì con tôi sống làm sao được hở trời...”
Bà cụ nấc lên từng hồi, đôi bàn tay gầy như cành củi khô bấu chặt lấy vạt áo An, run rẩy bần bật.
Cụ giáo Khiêm lúc này đã bước tới bậc thềm, đứng tựa vào chiếc cột quân bằng gỗ xoan. Người thầy giáo già cả đời nếm trải bao phong trần, từng tiễn con trai cả ra trận rồi nhận về tấm giấy báo tử đỏ lòm màu máu, giờ đây lồng ngực ông phập phồng đau đớn. Ông nhìn con dâu họ Trần, rồi nhìn sang con gái ruột của mình, khóe mắt đỏ hoe, chòm râu bạc rung rinh:
“An... Thật sự... là tin dữ từ miền trong hả con?”
An ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt cha mình, rồi cúi xuống nhìn u Mẫn. Cô nắm chặt lấy đôi bàn tay lạnh ngắt của mẹ chồng, dùng chính hơi ấm từ lồng ngực mình sưởi ấm cho bà:
“Thầy, u, nghe con nói đây! Anh Bình không phải người bình thường, anh ấy là một chiến sĩ trinh sát đã vào sinh ra tử suốt bao năm ở chiến trường miền Tây Nam. Nước lũ đèo Mang Yang dữ thật, nhưng anh ấy biết cách tìm hang đá, biết cách sinh tồn trong rừng sâu. Tỉnh đội và Quân đoàn Ba đang điều cả xe ủi, xe công binh vào mở đường tìm kiếm. Nếu anh ấy có mệnh hệ nào, quân đội đã báo tử rồi, đằng này chỉ là tạm thời mất liên lạc mà thôi!”
An cắn chặt môi, từng lời nói của cô như đinh đóng vào cột, mang theo một sức mạnh tinh thần kiên cố:
“Anh Bình đã hứa với con, hứa trước bàn thờ tổ tiên là sẽ cõng anh Nam bằng xương bằng thịt về trước sân nhà này. Người như anh Bình, một lời hứa nặng tựa thái sơn, chưa làm xong lời hứa thì trời đất cũng không bắt anh ấy đi được! U phải tin con, phải giữ gìn sức khỏe để đợi anh ấy về!”
Lời nói dứt khoát, đĩnh đạc và niềm tin mãnh liệt tỏa ra từ người phụ nữ trẻ như một liều thuốc trợ tim diệu kỳ. Đôi mắt đục ngầu của u Mẫn khẽ chớp, tiếng khóc nghẹn dần chuyển thành những hơi thở sâu hơn. Cụ giáo Khiêm nhắm nghiền mắt lại, khẽ gật đầu, đưa bàn tay run rẩy vỗ nhẹ lên vai An:
“Con nói phải... Nó là người nhà họ Trần, là người lính của Cụ Hồ. Nó kiên cường lắm... Chúng ta ở hậu phương, không được tự mình làm rối lòng mình trước.”
An thở phào một hơi nhẹ nhõm, nhưng cô biết thể trạng của u Mẫn lúc này cực kỳ nguy hiểm. Bà vốn có bệnh tim và chứng huyết áp thấp kinh niên của người già suy dinh dưỡng thời bao cấp, lại phải chịu cú sốc tinh thần quá nặng.
“Chị Đượm, giúp em đỡ u vào giường nằm!” An quay sang dặn dò. “Lấy cho em chiếc chăn chiên đắp kín chân cho u. Em xuống bếp đun nước gừng.”
An thoăn thoắt bước xuống gian bếp ám đầy bồ hóng. Đôi tay cô không hề run rẩy. Cô bới tro bếp, thổi bùng ngọn lửa đỏ từ mớ rơm khô, đặt lên kiềng chiếc ấm sứt vòi. Lấy một củ gừng già trong rổ, cô rửa sạch bùn đất, đập giập trên thớt gỗ rồi thả vào nồi nước sôi sùng sục, thêm vào đó một thìa đường đỏ mậu dịch - thứ đường quý giá cô dành dụm bấy lâu từ tiêu chuẩn thương binh của Bình.
Vị cay nồng của gừng tươi và vị ngọt ấm của đường đỏ sẽ giúp làm ấm kinh mạch, k*ch th*ch tuần hoàn máu và nâng huyết áp cho u Mẫn.
Chưa dừng lại ở đó, An mở chiếc hòm gỗ nhỏ của mình, lấy ra mấy gói lá thuốc thảo mộc phơi khô mà cô đã cẩn thận tích trữ từ mùa đông năm ngoái: hoa hòe sao vàng, ngải cứu khô và củ bình vôi thái lát. Với tri thức sinh học và dược liệu học sâu rộng, An biết rõ củ bình vôi chứa hoạt chất rotundin có tác dụng an thần, trấn tĩnh thần kinh cực mạnh mà không gây độc hại, kết hợp với hoa hòe giúp làm bền thành mạch, ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ do tai biến mạch máu não.
Cô thoăn thoắt bốc từng vị thuốc, rửa qua nước ấm rồi cho vào chiếc siêu đất nhỏ, chụm thêm củi đun liu riu trên bếp than. Mùi thơm ngai ngái, ấm nồng của thảo dược nhanh chóng lan tỏa khắp gian bếp nhỏ, xua đi bầu không khí u ám, lạnh lẽo đang bao trùm lên ngôi nhà.
Mãi đến khi An bón từng thìa nước gừng ấm cho u Mẫn, rồi dỗ bà uống cạn bát thuốc an thần, hơi thở của bà cụ mới dần trở nên đều đặn. Dưới tác dụng của vị thuốc bình vôi, đôi mắt mệt mỏi của u Mẫn dần khép lại, bà chìm vào giấc ngủ sâu hiếm hoi sau cơn chấn động kinh hoàng.
Cụ giáo Khiêm ngồi bên bàn nước, lặng lẽ nhìn con gái thu dọn bát đĩa. Trong ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu hoa kỳ, ông nhìn thấy rõ vệt máu khô trên mu bàn tay con gái, và đôi mắt thâm quầng vì những đêm thức trắng lo toan.
“An này...” Cụ Khiêm cất giọng trầm buồn. “Tay con bị làm sao thế kia?”
An giật mình, vội giấu bàn tay vào túi áo, mỉm cười gượng gạo:
“Dạ không có gì đâu thầy, ban chiều ngoài bãi Soi con vô ý bị vỏ bắp ngô cứa phải thôi ạ.”
Cụ Khiêm thở dài một tiếng, ánh mắt chan chứa tình thương xót:
“Con không cần phải gồng mình lên trước mặt thầy đâu. Thầy hiểu... Con đang đau đớn, đang lo sợ hơn bất kỳ ai. Thằng Bình là chồng con, là người đầu ấp tay gối...”
Cổ họng An nghẹn ứ lại. Đôi vai cô khẽ run lên một thoáng, nhưng cô lập tức ngẩng cao đầu:
“Thầy... Con lo chứ, ruột gan con như có ngọn lửa thiêu đốt. Nhưng con biết, lúc này con tuyệt đối không được khóc. U chỉ còn trông cậy vào con. Và cả Đội 3 nữa, mười bốn hộ xã viên đang nhìn vào con. Nếu con gục ngã, bãi Soi sẽ tan hoang, bản cam ước khoán hộ của chúng con sẽ thành miếng mồi ngon cho những kẻ rắp tâm phá hoại. Con phải đứng vững, thay anh Bình giữ trọn mảnh đất này cho đến ngày anh ấy trở về!”
Nhìn ánh mắt kiên định như ngọn lửa bập bùng trong đêm tối của con gái, cụ giáo Khiêm lặng đi hồi lâu. Người thầy giáo già gật đầu, trong mắt ánh lên niềm tự hào sâu sắc:
“Tốt... Tốt lắm con gái. Họ Nguyễn nhà ta chưa bao giờ lùi bước trước giông bão. Con cứ yên tâm lo việc đồng áng, bên này việc chăm sóc u Mẫn, thầy và bà con chòm xóm sẽ đỡ đần cho con.”
Đêm hôm đó, làng An Hòa chìm vào một sự im lìm ngột ngạt.
Trong gian buồng nhỏ của hai vợ chồng, ngọn đèn dầu vặn nhỏ bằng hạt đỗ hắt bóng An lên vách đất trát rơm. U Mẫn đã ngủ say ở gian ngoài, tiếng thở nặng nhọc thi thoảng lại cất lên từng hồi.
Chỉ còn lại một mình trong căn phòng vắng tanh, An mới cho phép bức tường phòng thủ kiên cường của mình buông xuống. Cô ngồi xuống bên chiếc bàn con mộc mạc, nơi chiếc bi-đông của anh trai cô từng đặt ở đó, nơi chiếc áo bảo hộ sờn vai của Bình vẫn còn vắt trên mắc tre đầu giường, thoang thoảng mùi mồ hôi mằn mặn quen thuộc của anh.
An đưa tay chạm vào vạt áo ấy, kéo nó vào lòng. Những giọt nước mắt kìm nén suốt từ chiều giờ đây mới lặng lẽ trào ra, nóng hổi lăn dài trên má, thấm ướt vạt vải thô ráp.
“Anh Bình... Anh đang ở đâu?” Cô thì thầm, tiếng nấc nghẹn ngào chìm vào màn đêm sâu thẳm. “Anh có nghe thấy tiếng em gọi không? Rừng Tây Nguyên mưa to lắm phải không anh? Anh có bị đói, bị rét không? Vết thương ở chân anh mỗi khi trở trời lại nhức buốt, anh có mang theo cao xoa bóp không?...”
Nỗi sợ hãi nguyên thủy của một người phụ nữ mất đi chỗ dựa lớn nhất trong đời cuộn trào lên như sóng dữ. Thời đại này không có điện thoại, không có mạng viễn thông, cách nhau một dãy Trường Sơn là cách biệt cả một thế giới mịt mù. Một trận lũ quét nơi rừng sâu có thể xóa sổ tất cả chỉ trong chớp mắt.
Nhưng rồi, ký ức về ánh mắt cương trực, về cái nắm tay ấm áp và giọng nói trầm ấm của Bình lại hiện về rõ mồn một trong tâm trí cô: “An này, dù có chuyện gì xảy ra, em cũng phải nhớ rằng lòng anh luôn hướng về mái nhà này, hướng về em. Em cứ yên tâm ở nhà, anh nhất định sẽ về!”
An quệt mạnh giọt nước mắt trên khóe mi. Đôi mắt cô lại trở nên trong vắt và sắc lạnh.
Cô đứng dậy, bước ra phía chái nhà sau vườn. Dưới gốc cây ổi cổ thụ, nơi cô đã cẩn thận chôn chiếc ống nứa niêm phong bản cam ước mười bốn dấu tay chỉ điểm của Đội 3, mặt đất vẫn phẳng lặng, lớp lá khô phủ kín không hề có dấu vết xáo trộn.
Kẻ thù chưa bỏ cuộc, khó khăn chưa dừng lại. Càng trong bão tố, cô càng phải tỉnh táo hơn bao giờ hết.
Năm giờ sáng.
Tiếng gà rừng eo óc gáy đầu thôn xua tan màn sương mù dày đặc đang phủ trắng xóa mặt sông Đáy. Gió cuối xuân vẫn mang theo cái rét ngọt căm căm, luồn qua từng kẽ lá buốt thấu xương tủy.
Khi bà con xã viên Đội 3 lục tục kéo ra ngõ, họ sững sờ khi nhìn thấy bóng một người phụ nữ mảnh khảnh, đầu đội nón mê, chân quấn xà cạp cẩn thận, tay cầm chiếc sào tre dài đang rảo bước thoăn thoắt ra phía bãi Soi.
Đó là An!Đôi mắt cô có quầng thâm đen vì một đêm ròng không ngủ, nhưng dáng đi của cô thẳng tắp, vầng trán ngẩng cao, không hề có một chút dấu vết nào của sự suy sụp hay hoảng loạn.
“Cô An!” Chị Đượm từ đầu dốc đê chạy bổ tới, trên tay cầm chiếc liềm cắt cỏ, giọng thảng thốt: “Trời ơi cô An ơi! U Mẫn đỡ chưa mà cô đã ra đồng sớm thế này? Việc đồng áng cứ để chúng tôi lo, cô ở nhà mà trông nom u chứ!”
Từ phía sau, anh Thao, anh Khoa cùng mười mấy xã viên nòng cốt của Đội 3 cũng vội vã chạy lại. Trên gương mặt những người nông dân chất phác ấy hằn sâu nỗi âu lo, hoang mang tột độ. Trần Bình là linh hồn, là người đứng mũi chịu sào của Đội 3; tin Bình gặp nạn ở Tây Nguyên chẳng khác nào một tiếng sét đánh ngang tai, khiến cả đội như rắn mất đầu, mấy hôm nay ai nấy đều bồn chồn, chẳng còn bụng dạ nào mà làm lụng.
An dừng bước, quay lại nhìn mọi người. Cô cất tiếng, giọng nói trong trẻo mà vang dội giữa không gian lộng gió của triền đê:
“Bà con nghe tôi nói đây! U tôi ở nhà đã uống thuốc an thần, có thầy tôi và bà con chòm xóm túc trực chăm sóc rồi. Còn anh Bình, công điện của Tỉnh đội chỉ thông báo là mất liên lạc tạm thời do lũ quét cắt đứt đường dây thông tin, hoàn toàn chưa có bất kỳ tin báo xấu nào! Bộ đội công binh và quân khu đang dồn toàn lực mở đường vào cứu hộ. Anh Bình nhất định sẽ an toàn trở về!”
An đưa mắt nhìn khắp lượt những gương mặt đang hoang mang của bà con, ánh mắt cô bừng lên một ngọn lửa kiên định:
“Tôi biết bà con đang lo lắng, ruột gan tôi cũng như lửa đốt. Nhưng chúng ta không thể ngồi yên một chỗ mà than khóc! Mười lăm mẫu bãi Soi này là mồ hôi, nước mắt của anh Bình, của tôi và của cả mười bốn gia đình chúng ta suốt mấy tháng trời qua. Ngô đang kỳ trổ cờ phun râu, đậu tương đang vào độ kết quả rộ. Nếu vì lo lắng mà chúng ta bỏ bê đồng ruộng, mùa màng thất bát, thì khi anh Bình trở về, chúng ta ăn nói làm sao với anh ấy? Lấy gì nộp nghĩa vụ cho nhà nước, lấy gì nuôi sống gia đình qua mùa giáp hạt?”
Từng lời nói của An như rót thêm sức mạnh vào lồng ngực những người nông dân đang chao đảo. Chị Đượm quệt nước mắt, gật đầu lia lịa:
“Cô An nói đúng! Thằng Bình nó vì cả cái đội này mà chịu khổ, chúng ta không thể để bãi Soi này lụi bại được!”
Anh Khoa nắm chặt chiếc cán cuốc trong tay, nghiến răng:
“Cô An! Cô bảo chúng tôi phải làm gì, chúng tôi làm nấy! Đội 3 này xin nghe theo cô!”
“Được!” An nở một nụ cười ấm áp, dù đôi môi cô vẫn còn nhợt nhạt. “Bà con nhìn xem, mấy hôm nay trời nồm ẩm, sương muối nhiều nhưng gió lại lặng. Bắp ngô trên bãi đang trổ cờ rộ, nhưng vì thiếu gió nên phấn ngô không thể phát tán đều sang các râu ngô ở nách lá phía dưới. Nếu để tự nhiên, bắp ngô khi thu hoạch sẽ bị khuyết hạt, lép ở đầu bắp, năng suất có thể giảm tới ba mươi phần trăm!”
Nói đoạn, An nhấc chiếc sào tre dài khoảng ba mét trên tay lên, thị phạm cho mọi người:
“Hôm nay, chúng ta sẽ tiến hành ‘thụ phấn bổ sung’ nhân tạo! Cứ hai người một luống, cầm chiếc sào tre này quét nhẹ qua ngọn cờ ngô khi sương mai vừa tan, khoảng từ tám giờ đến mười giờ sáng. Khi sào tre rung lắc nhẹ, hạt phấn vàng trên cờ ngô sẽ rơi rào rào xuống bám chặt vào từng sợi râu ngô bên dưới. Mỗi sào ngô chỉ cần quét qua hai lần, đảm bảo bắp nào bắp nấy sau này hạt cũng mẩy tròn, bắp đều tăm tắp từ gốc đến ngọn!”
Nhìn cách An giải thích mạch lạc, khoa học mà lại cực kỳ đơn giản, dễ làm, ánh mắt của bà con xã viên sáng rực lên. Sự âu lo, sợ hãi dường như bị cuốn phăng đi trước tinh thần lao động hăng say và trí tuệ mẫn tiệp của người phụ nữ trẻ.
Thế nhưng, vừa bước xuống đầu dải băng số bốn - nơi trồng xen canh đậu tương và ngô hạt - anh Thao bỗng giật thót mình kêu lên:
“Chết dở rồi cô An ơi! Cô nhìn xem này!”
An lập tức bước tới. Vén những tán lá ngô xanh mướt lên, nụ cười trên môi cô vụt tắt.
Ở phần bẹ lá ngô sát gốc và mặt dưới lá đậu tương, những chấm màu nâu xám li ti đang bu kín lại thành từng mảng lớn, di chuyển lổm ngổm. Những chiếc lá non bên dưới đã bắt đầu xuất hiện những đốm vàng úa, rũ xuống vì bị chích hút nhựa cây.
“Rầy nâu và sâu cắn lá!” An thốt lên, lông mày khẽ nhíu lại.
“Ối giời đất ơi!” Chị Đượm hoảng hốt kêu lên: “Dịch rầy từ bên cánh đồng trũng Đội 2 tràn sang rồi! Năm ngoái Đội 2 cũng bị một ổ thế này, chỉ ba ngày là cháy rụi cả sào hoa màu! Giờ biết lấy đâu ra thuốc trừ sâu Wofatox mà phun bây giờ? Lên kho vật tư của xã xin thì thủ tục xét duyệt phải mất cả tuần, lúc ấy thì ngô đậu thành củi khô hết rồi!”
Không khí vừa mới phấn chấn bỗng chốc lại chùng xuống, căng thẳng tột độ. Trong cơ chế bao cấp, việc xin cấp phát vài chai thuốc trừ sâu hóa học nhập từ Đông Đức là cả một quá trình nhiêu khê, phải có chữ ký của Chủ nhiệm Khoát, duyệt của trạm bảo vệ thực vật huyện, mà thuốc thì lại cực kỳ khan hiếm. Đợi được thuốc về thì bãi Soi đã bị rầy cắn nát.
Nhìn đàn sâu bọ đang đe dọa nuốt chửng thành quả lao động của chồng và bà con, ánh mắt An lóe lên tia nhìn kiên quyết. Bằng vốn tri thức chuyên sâu về công nghệ sinh học và bảo vệ thực vật thực nghiệm, cô không hề nao núng:
“Không cần đến thuốc hóa học! Chúng ta sẽ tự chế thuốc thảo mộc sinh học dập dịch ngay trong sáng nay!”
“Thuốc thảo mộc sinh học?” Mọi người ngơ ngác nhìn nhau.
“Đúng vậy!” An phân công rành rọt từng việc: “Anh Khoa, anh dẫn ba thanh niên chạy ngay về các nhà trong xóm, vét sạch tro bếp mịn trong các gian bếp mang ra đây. Nhớ là tro rơm rạ hoặc tro củi mịn, không lẫn than cục! Chị Đượm, chị cùng các chị em về nhà gom hết ớt chỉ thiên cay, tỏi củ và gừng già, giã thật nát ra, ngâm vào nước vôi trong loãng cho tôi!”
Nhìn An chỉ đạo đâu ra đấy, không một chút lúng túng, anh Khoa lập tức vỗ đùi đánh đét:
“Rõ! Chúng tôi đi ngay!”
Chỉ trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ, góc bãi Soi đã biến thành một công trường thu nhỏ náo nhiệt.
An trực tiếp đứng ra pha chế dung dịch. Cô hòa nước cốt ớt, tỏi, gừng đã giã nhuyễn vào những thùng nước vôi trong đã lắng cặn. Vôi tôi loãng có tính kiềm nhẹ giúp sát trùng nấm mốc và làm bỏng rát lớp vỏ kitin mỏng manh của rầy non; trong khi đó, hoạt chất capsaicin cực mạnh trong ớt cay kết hợp với allicin trong tỏi sẽ tấn công trực tiếp vào hệ thần kinh và đường hô hấp của sâu bọ, khiến chúng bị ngạt thở và tê liệt ngay lập tức.
Bên cạnh đó, An hướng dẫn cánh đàn ông dùng rổ thưa lắc nhẹ tro bếp mịn rắc đều lên những tán lá ướt sương mai. Tro bếp giàu kali và silic, không chỉ tạo một lớp màng kiềm ngăn chặn rầy chích hút mà còn bón thẳng một lượng phân bón lá tự nhiên giúp cây trồng cứng cáp, tăng sức đề kháng.
Tin An dẫn dắt Đội 3 dập dịch rầy nâu bằng mẹo thảo dược nhanh chóng lan truyền khắp làng An Hòa.
Khoảng chín giờ sáng, trên bờ đê bỗng xuất hiện một tốp người đông đúc đang hối hả gánh gồng, mang theo bình bơm tay và những xô chậu bằng tôn gỉ. Dẫn đầu đoàn người không ai khác chính là ông Bùi Đắc Khoát - Chủ nhiệm Hợp tác xã, và theo sau là hơn hai mươi xã viên của... Đội sản xuất số 1!
Đội 1 - nơi từng có hiềm khích sâu sắc thời Đặng Tiết làm đội phó, nơi từng bị xua trâu bệnh sang phá hoại - nay lại rầm rộ kéo sang bãi Soi.
“Cô An ơi! Chú Khoát đưa người sang tiếp sức đây!” Tiếng ông Khoát vang lên từ xa.
An ngẩng đầu lên, quệt vệt mồ hôi trên trán, ngạc nhiên nhìn đoàn người kéo tới.
Bác Cả Tính - một xã viên lớn tuổi của Đội 1, người từng được An cứu sống con trâu mộng đợt Tết vừa qua - bước tới trước mặt An, đôi mắt rơm rớm xúc động:
“Cháu An... Chuyện thằng Bình gặp nạn trên đèo, cả làng này ai cũng thắt ruột thắt gan. Thằng Bình nó sống trọn tình trọn nghĩa với bà con, cháu lại vừa cứu cả đàn trâu của Đội 1 chúng tôi khỏi chết rét. Nay thằng Bình gặp nạn nơi xa, cháu một thân một mình vừa chăm mẹ già vừa gánh vác bãi Soi... Đội 1 chúng tôi bàn nhau rồi, không thể đứng nhìn được! Chúng tôi gác việc nhà lại, mang bình bơm sang đây cùng Đội 3 dập dịch, giữ bằng được ruộng ngô này cho thằng Bình!”
“Bác Cả... Mọi người...” An nghẹn ngào, cổ họng tắc nghẽn.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát bước tới, chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo bốn túi rung rinh. Ông nhìn An với ánh mắt đầy cảm phục và trân trọng:
“Đồng chí An! Đảng ủy và Ban Quản trị hợp tác xã đã họp khẩn ban sáng. Tôi đã cử đồng chí Luận lên tận Tỉnh đội để cập nhật thông tin từng giờ về đoàn công tác của đồng chí Bình. Còn ở hậu phương, Ban Quản trị quyết định: toàn xã dồn sức chi viện cho Đội 3! Tôi đã cắt cử hai chị bên Hội Phụ nữ sang túc trực sắc thuốc, nấu cháo chăm sóc bà cụ Mẫn thay cô. Cô cứ yên tâm chỉ huy dập dịch ngoài này!”
Một làn sóng ấm áp trào dâng, sưởi ấm cõi lòng đang băng giá của An.
Giữa những năm tháng gian khó nhọc nhằn của thời bao cấp, khi hạt gạo củ sắn còn phải chia năm xẻ bảy, thì tình người, sự đùm bọc và lòng trượng nghĩa của những người nông dân chân lấm tay bùn lại tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết. Sự nghi kỵ, ranh giới giữa Đội 1 và Đội 3 hoàn toàn tan biến, chỉ còn lại sự chung lưng đấu cật của những con người cùng chung một khúc ruột làng quê.
Hơn ba mươi con người lao vào trận chiến bảo vệ bãi Soi. Tiếng bình bơm xịt xoẹt xoẹt, tiếng cười nói, tiếng giục giã rộn rã xua tan đi bầu không khí tang tóc, u ám mấy ngày qua. Dung dịch tỏi ớt ngâm vôi cùng tro bếp mịn phủ trắng xóa các luống ngô, luống đậu.
Chỉ sau ba tiếng đồng hồ cật lực, toàn bộ ổ rầy nâu trên dải băng số bốn đã bị khống chế hoàn toàn. Những con rầy non rơi rụng lả tả xuống gốc đất, co quắp lại chết khô dưới ánh mặt trời rực rỡ buổi trưa. Mười lăm mẫu ngô và đậu tương bãi Soi lại vươn mình xanh ngắt, kiêu hãnh đung đưa trong gió xuân.
Những ngày tiếp theo trôi qua dài như cả thế kỷ.
Ngày thứ năm... rồi ngày thứ sáu.
Mỗi một ngày trôi qua là một ngày An phải đối mặt với ngọn lửa thiêu đốt trong ruột gan. Cô gầy rộc đi trông thấy, đôi mắt trũng sâu, gò má nhô cao trên gương mặt rám nắng. Nhưng chưa một buổi sáng nào cô vắng mặt ngoài đồng, và chưa một đêm nào cô lơ là việc chăm sóc từng ngụm cháo, thìa thuốc cho u Mẫn.
Nghị lực phi thường của An như một ngọn đèn hải đăng dẫn lối cho cả làng An Hòa. Nhìn An đứng vững, u Mẫn không còn ngất lịm nữa mà gắng gượng ngồi dậy lần tràng hạt cầu kinh; nhìn An lao động, xã viên Đội 3 không ai dám lơ là một tấc đất nào trên bãi Soi.
Chiều muộn ngày thứ sáu.
Trời đất lại chuyển vần. Một đợt gió mùa đông bắc muộn tràn về mang theo cơn mưa phùn giăng kín khắp lối đi. Không khí lạnh buốt thấu da thấu thịt.
An đứng trên đỉnh dốc đê, hai tay ôm chặt lấy đôi vai đang run lên vì lạnh. Ống quần vải thô của cô bết dính bùn đất phù sa đỏ quạch, chiếc áo tơi lá cọ khoác trên lưng ướt sũng nước mưa. Cô phóng tầm mắt nhìn về phía con đường độc đạo dẫn từ thị trấn huyện xuyên qua rặng tre ngà vào làng.
Mưa phùn mờ mịt giăng một bức màn trắng xóa, nuốt chửng cả không gian. Đã sáu ngày trôi qua kể từ khi có bức điện tín định mệnh ấy. Sáu ngày đêm không một cánh thư, không một tin tức xác thực.
Trái tim An bỗng thắt lại từng cơn buốt nhói. Cô đưa tay sờ lên chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo trên đầu, những ngón tay run rẩy chạm vào vết rỉ sét mờ mờ trên thân kim loại.
“Bình ơi... Anh ở đâu?...” Tiếng thì thầm của cô bị gió mưa cuốn phăng đi.
Bỗng nhiên, từ sâu trong màn mưa phùn mờ mịt phía đầu làng, một âm thanh trầm đục, gầm rú dữ dội của động cơ xe tải hạng nặng vọng lại.
“Ụt... Ụt... Ầm... Ầm...”
Tiếng máy gầm rú xé tan không gian tĩnh mịch của buổi chiều muộn.
An giật bắn mình, tim cô đập thình thịch liên hồi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Cô căng mắt nhìn xuyên qua màn mưa dày đặc.
Một vệt sáng vàng vọt từ đôi đèn pha tròn xoe quét qua rặng tre đầu ngõ. Chiếc xe tải quân sự ba cầu Zil-130 khổng lồ, toàn thân bám đầy bùn đất đỏ ba-zan quánh đặc của miền đất lửa Tây Nguyên, đang gầm rú vượt qua vũng lầy lội, từ từ tiến vào đầu làng An Hòa!
Tiếng còi xe bóp vang lên một hồi dài trầm hùng: “Kính... roong!”
Lũ trẻ con trong xóm hò reo chạy ùa ra: “Xe bộ đội! Xe bộ đội về làng chúng mày ơi!”
Chiếc xe tải từ từ giảm tốc độ, rồi phanh kịt lại ngay bên gốc đa cổ thụ cạnh cổng đình, bánh xe ken két nghiến trên sỏi đá, hơi nóng từ nắp ca-pô bốc lên nghi ngút giữa làn mưa lạnh.
Cả người An run bắn lên. Đôi chân cô như bị đóng đinh tại chỗ, hơi thở dồn dập nghẽn ứ nơi cuống họng.
Cánh cửa buồng lái bằng sắt nặng nề cọt kẹt mở ra.
Từ trên cabin cao ngất, một bóng người cao lớn, vạm vỡ, mặc bộ quân phục dã chiến bạc màu loang lổ vết bùn đất đỏ khô cứng, chầm chậm bước xuống bậc sắt.
Đôi chân anh chạm xuống mặt đường đá xanh.
Chân trái hơi khập khiễng nhẹ.
Trên vai người lính ấy khoác một chiếc ba lô con cóc màu cỏ úa cũ kỹ, được bọc cẩn thận bên ngoài bằng một tấm vải bạt dù hoa rừng.
Gương mặt sạm đen vì nắng gió Trường Sơn, đôi mắt sáng cương trực ngước lên nhìn về phía triền đê.
Bốn mắt nhìn nhau xuyên qua màn mưa phùn buốt giá.
Trần Bình đã trở về!