An nén một hơi thở buốt nghẹn nơi cuống họng, đứng bất động như tượng đồng giữa bậc thềm gạch.
Gió sông Đáy buổi sớm vẫn thốc qua rặng dâm bụt từng cơn ràn rạt, mang theo hơi sương lạnh ngắt và mùi ngai ngái của đất bãi sau cơn mưa dầm. Nhưng hàn khí từ ngọn gió ngoài đồng chẳng thấm tháp gì so với cái lạnh đang chạy dọc sống lưng cô. Ánh mắt An ghim chặt vào từng vết bùn non còn ươn ướt trên nền gạch đỏ. Dấu đế dép rọ cao su đã mòn vẹt mép ngoài bên gót trái, kích cỡ chừng số bốn mốt, bản ngón bè rộng đặc trưng của người vùng chiêm trũng quanh năm lội bùn.
Kẻ đột nhập không chỉ thông thuộc địa hình nhà này, mà còn canh chuẩn xác từng tích tắc. Hắn đợi đúng lúc chiếc xe gát nổ máy ầm ĩ nơi đầu dốc đê, át đi mọi tiếng động nhỏ nhất, đợi lúc Bình vừa bước chân lên đường và An còn đang mải dõi mắt trông theo ở gốc đa cổ thụ để lẻn qua hàng rào chuối phía sau.
Nhưng điều khiến tim An giật thót từng hồi không phải là sự táo tợn của tên trộm, mà là hướng đi của những vết bùn.
Chúng không hề rẽ vào chái bếp nơi đặt hũ gạo, không ngó ngàng tới chum tương hay chuồng gà – những thứ tài sản quý giá nhất mà phường trộm vặt thời buổi đói kém hay rình rập. Dấu chân dẫn thẳng một mạch qua bậu cửa gỗ lim, hướng thẳng vào gian giữa, và dừng lại ngay trước bệ thờ gia tiên họ Trần.
Nơi đó, sâu bên trong hốc gạch non phía sau bài vị cụ tổ ba đời, là bản cam ước mang mười bốn dấu điểm chỉ đỏ chót bằng mực tàu pha máu của các hộ xã viên bãi Soi. Đó là sinh mạng chính trị của Chủ nhiệm Khoát, là chiếc vé đưa Trần Bình ra tòa án binh nếu bị quy kết tội danh “phá hoại kinh tế tập thể”, và cũng là mầm hy vọng ấm no của hàng chục con người đang oằn mình chống chọi với cái đói giáp hạt.
An siết chặt hai bàn tay, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau nhói để giữ cho đầu óc hoàn toàn tỉnh táo. Cô nhẹ nhàng rút chiếc then cài bằng gỗ nghiến dựng ở góc cửa, cẩn trọng bước từng bước không phát ra tiếng động tiến vào trong nhà.
Mùi trầm hương cháy dở từ đêm qua vẫn vương vít trong không gian u tịch. Trên bệ thờ bằng gỗ mít sơn son thếp vàng đã phai màu, chiếc lư hương bằng đồng mắt cua vẫn nằm yên vị. Tuy nhiên, bức rèm nhiễu đỏ che chắn phía trước đã bị vén xếch sang một bên, mép vải còn vương một vệt bùn khô mỏng dính.
Bằng con mắt quan sát tỉ mỉ của một nhà khoa học thực nghiệm, An nhận ra ngay lớp bụi mỏng phủ trên góc bệ thờ đã bị một bàn tay thô ráp quệt đi một mảng lớn. Viên gạch non cổ kính nơi góc khuất sau bài vị hơi lệch ra ngoài chừng nửa đốt ngón tay. Kẻ đó đã tìm thấy hốc ngầm, đã chạm tay vào viên gạch!
Thế nhưng, mép viên gạch vẫn còn khít, lớp vôi vữa khô gắn tạm chưa bị cạy tung hoàn toàn. Có lẽ tiếng bước chân vội vã của An trở về từ đầu ngõ, hoặc tiếng lục đục của u Mẫn cựa mình trong buồng trong đã khiến kẻ gian chột dạ, vội vã tẩu thoát theo đường cũ trước khi kịp lôi thứ bên trong ra ngoài.
An thở hắt ra một làn hơi run rẩy. Cô tiến sát lại bệ thờ, khẽ đưa tay ấn nhẹ viên gạch vào vị trí cũ, rồi xoay người rảo bước thật nhanh vào buồng trong.
Dưới ánh sáng lờ mờ hắt qua khe cửa sổ con tò vò, u Mẫn đang ngồi co ro trên mép giường tre, hai tay ôm khư khư chiếc áo bông trần đã sờn rách nơi cổ áo. Gương mặt già nua chằng chịt nếp nhăn của bà đượm vẻ hoảng hốt, đôi mắt kèm nhem nhìn chăm chú ra phía cửa.
“An đấy à con? Thằng Bình... xe chạy khuất bóng rồi hả con?” Giọng u Mẫn run rẩy, ngắt quãng.
An bước tới, ngồi xuống bên cạnh mẹ chồng, nắm lấy đôi bàn tay gầy guộc lạnh ngắt của bà. Cô hạ thấp giọng xuống mức tối thiểu, chỉ đủ để hai người nghe thấy: “U ơi, nhà mình vừa có trộm vào. Nhưng nó không lấy gà vịt hay gạo thóc đâu u ạ.”
Người mẹ già giật bắn mình, hàm răng đen nhánh lập cập va vào nhau: “Nó... nó nhòm vào đâu hở con?”
“Nó mò thẳng lên bệ thờ gia tiên, chạm tới chỗ giấu bản cam ước bãi Soi rồi u ạ.”
Nghe đến đó, sắc mặt u Mẫn thoắt cái tái nhợt như tàu lá chuối héo. Bà là vợ liệt sĩ chống Pháp, là mẹ của thương binh, cả một đời nếm trải biết bao biến cố phong ba nơi làng quê bão táp. Bà hiểu quá rõ một khi tờ giấy cam kết chia ruộng khoán ấy rơi vào tay kẻ xấu, cái giá phải trả sẽ là nhà tan cửa nát. Nhưng người đàn bà thôn quê từng tiễn chồng rồi lại tiễn con ra trận ấy không hề ngã quỵ. Sau vài giây bàng hoàng tột độ, đôi mắt mờ đục của bà bỗng lóe lên một tia sắc sảo, kiên định lạ thường.
U Mẫn nắm chặt lấy cổ tay An, giọng đanh lại: “Thằng Tiết! Chắc chắn là vây cánh của thằng Đặng Tiết hoặc con mụ Tươi xúi bẩy! Thằng Tiết tuy bị công an huyện tống giam, nhưng họ hàng hang hốc nhà nó ở làng này còn đông lắm. Chúng nó biết thằng Bình đi xa, muốn đào tận gốc trốc tận rễ nhà này để trả thù!”
“U nói đúng ạ.” An gật đầu, ánh mắt lạnh như băng. “Chúng nghĩ anh Bình vừa bước chân lên xe là nhà này mất đi chỗ dựa, chỉ còn một bà già với một đứa con gái trói gà không chặt. Chúng muốn lấy bản cam ước để dâng lên tỉnh nhằm lật ngược bản án vu khống của thằng Tiết, đồng thời kéo cả Chủ nhiệm Khoát lẫn Đội 3 xuống bùn.”
“Bây giờ tính sao hở con? Đem đốt đi ư? Đốt đi thì công sức của cả chục hộ dân, mồ hôi nước mắt của thằng Bình bao tháng ngày qua coi như đổ xuống sông xuống biển...” U Mẫn nghẹn ngào, bàn tay run bần bật.
“Không được đốt, u ạ!” An dứt khoát lắc đầu, ánh mắt ngời lên tia sáng quyết đoán. “Đó là danh dự, là sinh mạng của mười bốn gia đình tin tưởng vợ chồng con. Chúng muốn tìm bằng chứng, con sẽ cho chúng một cái bẫy. Con muốn chúng tự chui đầu vào rọ, để nhổ sạch cái gai ngầm này một lần cho xong, cho anh Bình yên tâm nơi chiến trường Tây Nguyên!”
Nhìn sự điềm tĩnh và bản lĩnh phi thường của cô con dâu trẻ, u Mẫn như được tiếp thêm sức mạnh. Bà hít một hơi thật sâu, gật đầu thật mạnh: “Được! Con bảo mẹ phải làm gì, mẹ làm theo răm rắp!”
An đỡ u Mẫn ngồi vững, rồi nhanh chóng vạch ra kế hoạch tác chiến ngay trong gian buồng chật hẹp.
Năm phút sau, An quay trở lại gian giữa. Đứng trước bàn thờ tổ tiên, cô chắp tay vái ba vái thành kính, đoạn cẩn thận nhấc viên gạch non lỏng lẻo ra ngoài. Thò tay sâu vào bên trong hốc tường ẩm mốc, ngón tay cô chạm vào gói vải dù hoa màu ngụy trang quen thuộc. Bản cam ước mười bốn chữ ký vẫn còn nguyên vẹn, khô ráo.
An ôm bọc tài liệu vào buồng trong. Cô lấy ra một đoạn ống nứa già đã được gác bếp hun khói đen bóng, thành nứa dày và đanh như thép. Bản cam ước được cuộn chặt lại, bọc thêm hai lớp giấy dầu chống ẩm rồi mới nhét gọn vào lòng ống nứa. An nhóm chiếc đèn dầu Hoa Kỳ, dùng một cục sáp ong ruồi nguyên chất hơ trên ngọn lửa liu riu cho sáp chảy ra, trét kín mít quanh miệng nút bấc bằng gỗ sung. Lớp sáp ong nguội đi, đông cứng lại thành một khối niêm phong tuyệt đối kín khí, dù có ngâm dưới đáy sông Đáy cả tháng trời cũng không thể ngấm một giọt nước.
Sau đó, An cầm theo chiếc xẻng cùn nhỏ, lẻn ra khu vườn sau nhà. Dưới gốc cây ổi đào xù xì hàng chục năm tuổi ở góc rào rậm rạp, nơi đất thịt pha cát xốp mịn và phủ kín lá khô rụng, An đào một hố sâu chừng hai gang tay, đặt ống nứa xuống đáy, lấp đất nén chặt, rồi phủ lên trên một lớp lá ổi mục và tro trấu hoai mục. Dưới cái nhìn của người ngoài, đây chỉ là một góc bón phân hữu cơ thông thường cho cây cối, không hề để lại bất kỳ một dấu vết đào xới mới mẻ nào.
Trở vào nhà, An lấy từ đáy hòm gỗ ra một cuốn sổ tay bìa bọc giấy xi măng đã ố vàng. Đây là cuốn sổ cô dùng ghi chép lại các công thức ủ chua cỏ voi, tỷ lệ phối trộn cám ngô, bã sắn lát với tro trấu khử nấm mốc để làm thức ăn dự trữ cho đàn trâu bò trong đợt rét hại vừa qua. Chữ viết trong sổ nắn nót, dày đặc các con số thống kê công điểm và liều lượng thảo dược.
An cuộn cuốn sổ lại bằng đúng kích thước của bản cam ước cũ, cũng bọc ngoài bằng một mảnh vải dù hoa tương tự, rồi thản nhiên nhét sâu vào hốc gạch sau bệ thờ. Cô cẩn thận đẩy viên gạch non về vị trí cũ, chỉ để hở một kẽ nứt rất nhỏ đủ để kẻ có dã tâm dễ dàng cạy ra.
Xong xuôi mọi việc, An khoác chiếc áo tơi lá, thong thả cắp nón bước sang nhà chị Đượm ở xóm Đoài.
Mặt trời lúc này đã vượt qua ngọn tre, tỏa ra ánh sáng nhợt nhạt xua tan bớt màn sương buốt giá. Trong căn bếp bốc khói nghi ngút mùi cám lợn của nhà chị Đượm, An ngồi bên bậc cửa, ghé tai người bạn thân thì thầm to nhỏ suốt nửa tuần trà.
Nghe xong, chị Đượm trừng tròn đôi mắt ốc nhồi, bàn tay đang cầm đôi đũa cả khuấy nồi cám bỗng khựng lại, đập mạnh một nhát xuống mặt chõng tre đánh “chát”:
“Tổ sư bố đứa nào to gan thế! Dám rình mò bệ thờ nhà anh Bình lúc anh ấy vừa đi vắng à? An ơi là An, mày cứ để mặc tao! Tối nay tao với thằng Thao, thằng Khoa đội ba sẽ phục sẵn trong buồng chuối. Tao mà không tóm sống được cái bản mặt quân khốn nạn ấy, tao không thèm làm tổ trưởng phụ nữ đội ba nữa!”
“Chị Đượm, việc này phải kín như bưng.” An nắm lấy tay Đượm, dặn dò cặn kẽ từng lời. “Không đánh trống khua chiêng, không báo động làm kinh động cả xóm. Cứ để nó mò vào tận nơi, thò tay móc bọc tài liệu ra ngoài thì mới bắt tận tay, day tận trán. Bắt được người rồi, ta báo thẳng cho chú Luận công an xã sang lập biên bản. Tuyệt đối không để kẻ đứng sau kịp trở tay phi tang manh mối!”
“Mày yên tâm, tao hiểu rồi! Bắt trộm phải bắt tận tay, bắt gian phải bắt tại giường. Mày cứ về lo việc ngoài bãi, chuyện tối nay cứ để chị mày liệu!” Chị Đượm nghiến răng trét trét, ánh mắt bừng bừng lửa giận nhưng đầy vẻ tự tin.
*
Đêm đó, cả xã An Hòa chìm sâu vào bóng tối đen đặc như mực.
Mùa nồm ẩm khiến bầu trời phủ kín mây mù xám xịt, không một ánh sao, không một mảnh trăng non. Cả làng xóm im lìm dưới tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng chiêm trũng và tiếng gió rít qua rặng tre kẽo kẹt.
Khoảng mười một giờ đêm, ngọn đèn hoa kỳ trong nhà An tắt lịm. U Mẫn nằm trong buồng giả vờ thở đều đều ngáy nhẹ, còn An ngồi nép sau cánh liếp ngăn giữa gian buồng và nhà ngoài, đôi mắt mở to thao thức trong bóng tối mịt mùng.
Ở chái bếp phía sau, chị Đượm cùng hai thanh niên dân quân khỏe mạnh của Đội 3 là Khoa và Thao đã phục sẵn từ lúc chập tối. Họ nín thở, ẩn mình sau đống rơm khô và những bó mây bánh tẻ còn thơm mùi khói sấy.
Đêm càng về khuya, không khí càng buốt lạnh.
Một giờ sáng. Tiếng sủa ngắt quãng của con chó vện nhà ông phó chủ nhiệm đầu ngõ bỗng im bặt.
Ngay sau đó, phía bờ rào chuối sau vườn phát ra một tiếng “sột soạt” cực khẽ. Một bóng đen lù lù tách ra khỏi màn đêm nhờ nhờ, khom lưng luồn qua khoảng rào tre bị bẻ gãy từ sớm, rón rén bước từng bước trên lớp bùn nhão. Hắn dừng lại quan sát hồi lâu, thấy căn nhà ba gian vẫn tối om om tĩnh mịch thì mới thở phào một cái, rón rén tiến lại gần cửa ngách gian bếp.
Bằng một lưỡi dao mỏng sắc lẹm, bóng đen khẽ luồn qua khe cửa, đẩy nhẹ thanh then cài bằng gỗ sang một bên. Cánh cửa liếp khẽ rên lên một tiếng “két” khô khốc trong đêm tĩnh mịch rồi từ từ mở rộng.
Bóng đen lách người vào trong, chân đi đôi dép rọ cao su đã mòn vẹt gót. Hắn di chuyển thành thục như chuột bọ trong hang, nhẹ nhàng lướt qua chái bếp, bước lên thềm gian giữa rồi tiến thẳng về phía bệ thờ gia tiên.
Trong bóng tối nhờ nhờ, bàn tay gầy guộc của kẻ đột nhập run rẩy đưa lên, vén bức rèm nhiễu đỏ. Hắn thò tay vào góc khuất sau bài vị, ngón tay lần mò chạm đúng vào viên gạch non đang lung lay.
Một tiếng thở phào hể hả khẽ bật ra nơi kẽ răng hắn. Kẻ gian dùng hai ngón tay bấu chặt vào mép gạch, từ từ rút viên gạch non ra ngoài. Hắn thọc sâu cả bàn tay vào trong hốc tối, và đầu ngón tay lập tức chạm vào gói vải dù hoa ram ráp!
Đúng khoảnh khắc ngón tay hắn vừa lôi được bọc vải dù ra khỏi hốc tường, một giọng nói sang sảng, sắc lạnh như nhát dao xé toạc màn đêm:
“Muộn thế này rồi, chú sang nhà tìm sổ sách gì đấy hở chú Thược?”
Bóng đen giật bắn người như bị sét đánh ngang tai, toàn thân cứng đờ, gói vải dù suýt chút nữa tuột khỏi tay. Hắn hoảng loạn xoay phắt người lại toan lao đầu ra phía cửa liếp gian bếp.
Nhưng đã quá muộn!
“Bật đèn lên!” Tiếng chị Đượm rống lên như sấm dậy đầu đình.
“Xoạch!” Chiếc đèn bão cỡ lớn treo trên xà nhà lập tức bừng sáng, xua tan toàn bộ bóng tối, rọi thẳng vào gương mặt kẻ trộm. Cùng lúc đó, Khoa và Thao từ chái bếp lao bổ ra, chiếc đòn gánh bằng tre đực trong tay Thao giáng mạnh một đòn trúng khoeo chân kẻ gian, khiến hắn ngã dúi dụi xuống nền gạch, kêu “ối” một tiếng thảm thiết.
Chị Đượm nhanh như cắt nhảy chồm lên, dùng cả thân hình đẫy đà bảy mươi cân đè nghiến lấy lưng hắn, hai tay khóa chặt hai cánh tay gầy nhẳng của tên trộm bẻ quặt ra sau lưng: “Mày chạy đi đâu hở con chuột cống này! Phen này bà cho mày đi tù mọt gông!”
Ánh đèn bão rọi sáng một khuôn mặt nhọn hoắt, lấm lem bùn đất và tái ngắt không còn một giọt máu. Đôi mắt lác đảo điên cuống cuồng nhìn quanh – đích thị là Thược “lác”, em họ con chú con bác ruột của cựu đội phó Đặng Tiết!
An từ tốn bước ra từ sau cánh liếp buồng trong, nét mặt bình thản lạ thường. Cô cúi xuống nhặt gói vải dù hoa rơi lăn lóc dưới đất lên, phủi nhẹ lớp bụi vôi bám trên mặt vải.
Thược “lác” cắn chặt môi, run lẩy bẩy dưới sức nặng của chị Đượm, nhưng trong mắt vẫn lóe lên vẻ hung hãn của kẻ cùng đường: “Thả... thả tao ra! Chúng mày lấy quyền gì trói người? Tao... tao chỉ vào nhặt cành củi khô rơi ngoài ngõ!”“Cành củi khô của mày giấu trên bàn thờ nhà người ta đấy à?” Chị Đượm bạt cho hắn một cái tát nảy lửa vào má, chửi té tát. “Con mắt mày lác nhưng cái bụng mày độc như rắn rết! Anh Bình vừa bước chân lên xe quân đội sáng nay, đêm nay mày đã mò vào cạy bàn thờ tổ tiên nhà người ta! Quân bất nhân thất đức!”
Đúng lúc đó, ngoài ngõ vang lên tiếng bước chân rầm rập và tiếng hô hoán. Trưởng công an xã Đỗ Luận cùng hai dân quân mang súng trường K63 ùa vào sân. Nhìn thấy hiện trường ngổn ngang với viên gạch non bị cạy tung và Thược “lác” đang bị trói gập cánh khuỷu, mặt Luận đanh lại nghiêm nghị:
“Có chuyện gì thế này?”
An bước tới, đưa bọc vải dù cho Đỗ Luận, dõng dạc nói trước mặt mọi người: “Báo cáo đồng chí Trưởng công an xã! Lợi dụng lúc chồng tôi đi công tác đột xuất vào chiến trường, đối tượng Thược đã đột nhập gia cư bất hợp pháp lúc nửa đêm, cạy phá bàn thờ gia tiên nhà liệt sĩ để trộm cắp tài liệu. Nhờ sự cảnh giác của Đội ba, chúng tôi đã bắt quả tang đối tượng cùng toàn bộ tang vật!”
Đỗ Luận cẩn thận mở lớp vải dù hoa ra. Dưới ánh đèn bão sáng trưng, cuốn sổ tay bìa giấy xi măng hiện ra rõ mồn một. Luận giở từng trang, đọc to lên những dòng chữ bên trong: “Phương pháp ủ chua thân ngô non... Tỷ lệ tro bếp khử khuẩn nấm mốc chuồng trại... Cách phối trộn men vi sinh rơm rạ...”
Mặt Thược “lác” từ tái xanh thoắt cái chuyển sang xám ngoét như tro tàn. Mắt hắn trố lồi ra, lắp bắp kinh hoàng: “Không... không thể nào! Không phải tờ giấy ấy... Tờ giấy cam kết có mười bốn dấu tay đỏ lòm cơ mà... Nó ở đâu... Nó ở đâu rồi?!”
“Tờ giấy nào cơ?” An nhìn thẳng vào mắt Thược, giọng nói sang sảng đanh thép. “Hóa ra chú mò vào đây không phải vì cuốn sổ kỹ thuật chăn nuôi này, mà là muốn tìm một thứ tài liệu tưởng tượng nào đó để vu khống Đội ba chúng tôi? Ai sai chú đến đây tìm ‘tờ giấy mười bốn dấu tay’? Khai mau!”
Đỗ Luận lập tức giật phắt chiếc thắt lưng da, bước tới túm chặt cổ áo Thược lôi xốc dậy: “Thược! Mày vừa tự mồm mày khai ra âm mưu phá hoại tổ chức đấy nhé! Chiều hôm qua mụ vợ thằng Đặng Tiết vừa vào trại tạm giam trên huyện tiếp tế cho chồng, tối nay mày đã mò vào đây tìm tài liệu khống để gỡ tội cho nó! Đi ngay về trụ sở Ủy ban xã! Tội đột nhập gia cư nhà quân nhân cách mạng, trộm cắp tài liệu và âm mưu phá hoại trật tự trị an, phen này đủ cho mày bóc lịch trên trại cải tạo Cẩm Thủy!”
Hai dân quân lập tức xốc nách Thược “lác” kéo lê ra khỏi cửa. Tên trộm bẽ bàng r*n r*, hai chân khuỵu xuống bùn, hoàn toàn sụp đổ trước cái bẫy hoàn hảo mà An giăng sẵn.
Chị Đượm nhìn theo bóng Thược bị giải đi, hả hê nhổ một bãi nước trầu cay xè xuống đất, rồi quay sang ôm chầm lấy vai An: “Hả dạ quá mày ơi! Phen này thì cả họ nhà thằng Tiết có mà cúp đuôi không dám ho he nửa lời nữa!”
An chỉ khẽ mỉm cười, nhưng ánh mắt cô vẫn hướng ra khoảng trời đen đặc ngoài cửa sổ. Mắt xích ngầm này đã bị bẻ gãy, nguy cơ bản cam ước bị đánh cắp đã tạm thời qua đi. Nhưng cô biết, cuộc chiến để bảo vệ mảnh đất bãi Soi và danh dự của Trần Bình giờ đây mới thực sự bước vào giai đoạn quyết định nhất.
*
Năm giờ sáng hôm sau.
Tiếng kẻng đồng của Đội sản xuất số 3 ngân vang giòn giã trên ngọn đa đầu làng, xé toạc màn sương ẩm ướt của buổi bình minh.
Không một ai trong Đội 3 bàn tán về vụ bắt trộm đêm qua. Lời dặn của An đã được quán triệt sâu sắc: im lặng là sức mạnh, câu trả lời đanh thép nhất gửi tới những kẻ đố kỵ bảo thủ không phải là những cuộc cãi vã, mà là năng suất ngô đỗ ngoài bãi Soi.
Trên mười lăm mẫu đất bãi bồi ven sông Đáy, một không khí lao động sôi nổi, khẩn trương bùng lên như ngày hội. Toàn bộ mười bốn hộ gia đình xã viên nòng cốt đã có mặt đông đủ từ khi mặt trời còn chưa ló rạng qua rặng tre. Đàn ông vác cuốc xẻng, phụ nữ gánh thùng tưới, tiếng cười nói râm ran xua tan đi cái lạnh se sắt của buổi sớm mùa nồm.
An mặc chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa vá chỉ đều tăm tắp, quần xắn cao quá đầu gối, chân trần lội thoăn thoắt trên từng luống đất phù sa màu mỡ. Đôi mắt cô sáng ngời, toát lên phong thái chỉ huy đĩnh đạc, vững vàng của một người thuyền trưởng thay chồng gánh vác cả con tàu.
“Bà con chú ý!” An đứng trên một gò đất cao, cất giọng trong trẻo vang khắp triền bãi. “Trận mưa phùn kéo dài tuần trước kết hợp với tiết trời nồm ẩm đã làm mặt đất bãi Soi bị đóng váng cứng ngắc. Nếu chúng ta không xới xáo kịp thời, đất sẽ bị bí khí, rễ ngô và đỗ tương sẽ bị ngạt thở, không hấp thụ được dinh dưỡng mà thối rễ! Hôm nay, toàn đội tập trung thực hiện khâu kỹ thuật quan trọng nhất: xới đất phá váng và bón thúc đợt cuối!”
“Đồng chí An ơi, xới sâu hay xới nông thế?” Ông Cả Hợi, một lão nông tri điền tóc hoa râm lớn tiếng hỏi, tay cầm chiếc cuốc cào ba răng sáng loáng.
“Dạ, thưa bác Cả và bà con!” An lập tức bước xuống tận luống ngô của nhà ông Hợi, ngồi thụp xuống cầm lấy chiếc cuốc thị phạm. “Ở dải băng trồng ngô, bộ rễ ăn nông nhưng lan rộng, bà con chỉ xới nhẹ lớp đất mặt sâu chừng hai đến ba đốt ngón tay, cách gốc ngô một gang tay để tránh làm đứt rễ non. Xới đến đâu, vun đất màu tơi xốp vào gốc đến đó để giữ cho cây đứng vững trước gió sông!”
Bàn tay An thoăn thoắt đưa lưỡi cuốc, từng nhát xới dứt khoát, chuẩn xác, lớp váng đất cứng nứt toác ra, để lộ lớp đất thịt tơi xốp, thơm nồng mùi phù sa màu mỡ bên dưới.
“Còn bên dải băng đậu tương thì sao cô An?” Mấy chị em phụ nữ xúm lại hỏi.
“Đậu tương đang bước vào giai đoạn phân cành làm nụ, rễ có rất nhiều nốt sần vi khuẩn cố định đạm.” An giảng giải cặn kẽ bằng thứ ngôn ngữ mộc mạc nhất mà người nông dân ai cũng hiểu được. “Chúng ta chỉ cần xới xáo nhẹ rãnh thoát nước, nhổ sạch cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, tuyệt đối không xới sát gốc làm long gốc đậu!”
Sau khâu phá váng là công đoạn bón thúc đợt cuối – "vũ khí bí mật" mà An đã chuẩn bị suốt một tháng qua.
Bên bờ mương dẫn nước, sáu chiếc hố ủ phân kỵ khí lớn lợp mái rạ che mưa nắng được mở tung. Một mùi chua nồng, ngai ngái đặc trưng của phân hữu cơ lên men sinh học tỏa ra ngùn ngụt. Đó là hỗn hợp bèo hoa dâu ủ kỹ với bùn ao, tro trấu hun khói và một lượng nhỏ phân lân Lâm Thao được hòa tan hoàn toàn. Nhờ quá trình lên men kỵ khí sinh nhiệt độ cao, toàn bộ hạt cỏ dại và mầm mống nấm bệnh đã bị tiêu diệt sạch, biến thành thứ dịch dinh dưỡng đậm đặc giàu đạm hữu cơ và khoáng chất.
An hướng dẫn bà con pha loãng dịch phân ủ với nước sông Đáy theo tỷ lệ một gáo phân mười gáo nước, rồi dùng thùng tôn tưới đều vào rãnh giữa hai hàng cây.
“Nhớ là tưới vào rãnh đất, không tưới đẫm trực tiếp lên lá non, tránh làm cháy lá!” An vừa đi kiểm tra từng luống vừa nhắc nhở.
Dưới sự chỉ huy khoa học và nhịp nhàng của An, mười lăm mẫu bãi Soi như được thay da đổi thịt từng giờ. Những hàng ngô lai bánh tẻ xanh mướt, thân cây mập mạp bằng bắp tay người lớn, vươn những phiến lá to bản hứng trọn ánh nắng ban mai. Xen giữa những hàng ngô là những dải băng đậu tương sum suê cành nhánh, phủ kín mặt đất bằng một màu xanh thẫm mượt mà, những chùm nụ hoa tím li ti bắt đầu hé nở, hứa hẹn một vụ mùa trĩu hạt chưa từng có trong lịch sử đồng đất An Hòa.
Đến giữa trưa, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát chắp tay sau đít, đạp chiếc xe Thống Nhất cũ kỹ ra tận bờ đê thị sát. Đứng trên đỉnh đê nhìn xuống bãi bồi bạt ngàn một màu xanh mơn mởn, thẳng tắp như kẻ chỉ, vị chủ nhiệm vốn nổi tiếng giáo điều và thận trọng bỗng đứng lặng người. Chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo bốn túi rung rinh theo từng nhịp thở dồn dập của ông.
Ông Khoát bước xuống bãi, nhìn An đang mướt mồ hôi cùng bà con gánh nước phân, khẽ gật đầu, ánh mắt lộ rõ sự khâm phục từ tận đáy lòng: “Giỏi... Giỏi lắm cô An ạ! Thằng Thược bị giam rồi, chuyện đêm qua tôi đã nghe chú Luận báo cáo đầy đủ. Đội ba làm ăn quy củ, chặt chẽ thế này thì dù có mười đoàn thanh tra nữa xuống đây, tôi cũng dám vỗ ngực chịu trách nhiệm trước Huyện ủy!”
An đưa tay áo quẹt mồ hôi trên trán, nở một nụ cười rạng rỡ: “Báo cáo Chủ nhiệm, Đội ba chúng cháu chỉ biết dốc lòng dốc sức vì hạt thóc, bắp ngô thôi ạ. Chỉ cần cấp trên tin tưởng, vụ chiêm này bãi Soi nhất định sẽ vượt khoán ít nhất một trăm năm mươi phần trăm!”
“Tốt! Cứ vững tâm mà làm!” Ông Khoát vỗ mạnh vào vai An, ánh mắt đầy vẻ kiên định của một người đồng chí đã cùng chung lưng đấu cật trên một chiến hào.
*
Bốn giờ chiều.
Mặt trời bắt đầu lặn dần sau rặng núi Ba Vì xa xa, nhuộm đỏ rực cả một khúc sông Đáy. Gió chiều thổi lồng lộng xua tan cái oi nồng của ngày làm việc cật lực. Bà con xã viên lục tục thu dọn cuốc xẻng, rửa chân tay nơi bến sông rồi ríu rít rủ nhau ra về, tiếng cười nói rộn rã cả con đường đê rợp bóng tre.
An nán lại sau cùng. Cô đi dọc từng luống ngô, cẩn thận kiểm tra lại độ ẩm của đất và những vết xới xáo ban sáng. Nhìn những ngọn ngô non mơn mởn đung đưa trong gió chiều, lòng cô bỗng dâng lên một nỗi nhớ da diết khôn nguôi.
Cô đưa tay sờ lên chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo mát lạnh cài bên mái tóc tết bím lệch.
“Anh Bình ơi... Giờ này anh đã tới đâu rồi? Đã vào tới đất lửa Tây Nguyên chưa?” An thì thầm vào khoảng không lộng gió. Cô nhớ dáng người cao lớn, nhớ bước chân hơi khập khiễng mà vững chãi như bàn thạch, nhớ ánh mắt đầm ấm và nụ cười kín đáo của anh bên bếp lửa mỗi tối. Lời hứa của anh vẫn văng vẳng bên tai cô: “Đợi lúa xuân chín vàng bãi Soi, anh sẽ cõng anh Nam về trước sân nhà!”
An mỉm cười, một niềm tin mãnh liệt thắp sáng nơi đáy mắt. Cô bước thoăn thoắt lên dốc đê, hướng về phía trụ sở Ủy ban xã để nộp sổ chấm công điểm ngày của Đội 3 cho ban quản trị.
Thế nhưng, vừa bước chân tới cổng đình làng – nơi đặt trụ sở Ủy ban – An bỗng thấy không khí xung quanh tĩnh lặng một cách bất thường.
Chiếc loa truyền thanh mắc trên ngọn đa không phát những bài ca lao động quen thuộc như mọi ngày. Trước sân ủy ban, mấy đồng chí cán bộ xã đứng tụ tập thành từng nhóm nhỏ, xì xào bàn tán với vẻ mặt căng thẳng, âu lo tột độ.
Một tiếng còi xe đạp bóp dồn dập từ phía đường liên huyện lao tới. Trưởng công an xã Đỗ Luận gò lưng đạp thục mạng, chiếc xe đạp Phượng Hoàng không chắn bùn bắn tung tóe những vệt nước bẩn lên lưng áo anh. Chiếc xe trượt bánh dừng phắt lại ngay trước bậc thềm đá xanh.
Đỗ Luận nhảy phắt xuống xe, ngực phập phồng thở không ra hơi, gương mặt thường ngày vốn điềm tĩnh sắt đá nay bỗng tái mét, không còn một giọt máu. Trên tay anh cầm chặt một tờ giấy mỏng màu vàng rơm – mẫu giấy dùng cho các bức điện tín khẩn quân sự.
Nhìn thấy An đang đứng sững bên gốc đa, bước chân Đỗ Luận bỗng khựng lại. Đôi mắt người cựu chiến binh đỏ hoe, hàm răng nghiến chặt lại như đang cố ghìm giữ một nỗi đau đớn khủng khiếp.
Một linh cảm chẳng lành dữ dội ập đến, bóp nghẹt lồng ngực An khiến cô suýt ngạt thở. Tim cô đập thình thịch từng hồi hỗn loạn.
An bước nhanh tới, giọng cô run rẩy nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh: “Chú Luận... Có chuyện gì thế chú? Điện tín... ở đâu gửi về vậy chú?”
Đỗ Luận nhìn An, cổ họng anh nghẹn ứ lại, đôi môi mấp máy hồi lâu mới thốt ra được những thanh âm run rẩy, vỡ vụn:
“Cháu An... Bưu điện huyện vừa chuyển gấp công điện hỏa tốc... của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh... chuyển tiếp từ Bộ Tư lệnh Quân khu Năm ra...”
Bàn tay cầm tờ điện tín của Đỗ Luận run bắn lên bần bật. Anh nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng, khó khăn nói từng tiếng một như những nhát búa giáng thẳng vào thính giác của An:
“Đoàn công tác tìm kiếm hài cốt liệt sĩ của Tỉnh đội... và đồng chí Trần Bình... Khi vừa hành quân qua khu vực đèo Mang Yang thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum... thì bất ngờ gặp lũ quét kinh hoàng đổ về từ thượng nguồn... Núi lở chôn vùi toàn bộ đoạn đường độc đạo...”
Đỗ Luận nhắm nghiền hai mắt lại, hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má sạm đen:
“Toàn bộ đoàn công tác... chiếc xe chở đồng chí Bình và đội K53... đã mất toàn bộ liên lạc suốt bốn ngày bốn đêm trong rừng sâu nước lũ!”
Trời đất xung quanh An bỗng chốc đảo lộn dữ dội.
Âm thanh gió sông, tiếng xì xào của mọi người xung quanh thoái trào biến mất, chỉ còn lại tiếng ù ù xé rách màng nhĩ. Bầu trời chiều tím ngắt trên đầu cô dường như sụp đổ tan tành thành muôn ngàn mảnh vụn.
Tờ giấy điện tín vàng ố trên tay Đỗ Luận nhòe đi trước mắt An. Đôi chân cô mềm nhũn, bàn tay cô vô thức nắm chặt lấy chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn trên đầu, ghì chặt đến mức mép kim loại cứa rách da tay, máu rỉ ra buốt nhói giữa khoảng không vắng lặng của buổi hoàng hôn tàn khốc.