Xuyên không thập niên 70

Chương 29: Khắc tinh dịch bệnh

Gió bấc rít qua những tán bàng trụi lá trước sân đình An Hòa, thổi thốc những hạt mưa phùn buốt như xát muối vào mặt người. Chiếc xe tải quân sự Zil-130 đi đầu sừng sững nằm chắn ngang lối vào trục đường liên xã, đuôi xe chếch về phía mương dẫn nước, nắp ca-pô bốc lên từng luồng hơi nước mỏng manh rồi tan biến vào màn sương sớm lạnh ngắt.

Nguyễn Hoài An khẽ siết chặt vạt áo bông trấn thủ bạc màu, bước nhanh hơn để theo kịp bước chân của Trần Bình. Dù chân trái hơi nhói buốt mỗi khi gặp tiết trời giá lạnh cực điểm, người cựu chiến binh vẫn rảo bước dứt khoát. Người lính lái xe mặc chiếc áo bạt màu cỏ úa phong phanh, tay cầm chiếc cờ-lê mỏ lết cáu bẩn dầu mỡ, đôi bàn tay tím tái vì cóng đang loay hoay gõ côm cốp vào bộ chế hòa khí. Trên thùng năm chiếc xe phía sau, hàng trăm chiến sĩ tân binh ngồi chen chúc, vai sát vai dưới lớp bạt rách mép đang phần phật bay, gương mặt ai nấy non choẹt, môi thâm sì vì gió rét dọc đường hành quân.

“Đồng chí lái xe, bị ngộp xăng hay tắc đường dầu cặn thế?” Bình bước tới, cất giọng trầm ấm, dõng dạc át tiếng gió gầm.

Người chiến sĩ giật mình ngẩng lên, thấy dáng người vạm vỡ cùng tác phong dứt khoát của một người từng trải trận mạc, nét mặt căng thẳng thoáng chùng xuống: “Báo cáo đồng chí… trời rét dưới sáu độ, xe chạy thâu đêm từ mạn Ninh Bình lên, dầu mazút bị đông cặn ở bầu lọc, bu-gi lại đóng muội than ướt sũng. Máy lịm đi từ dốc đê, ráng mãi mới lết vào được tới đây.”

Lúc này, từ cabin chiếc xe thứ hai, một sĩ quan trạc ba mươi tuổi, dáng người quắc thước, quân hàm Thượng úy trên ve áo đã bạc màu sương gió vội vã nhảy xuống. Anh bước lại gần, nhìn chiếc xe nằm chết gí rồi nhìn sang Bình và An, giọng khẩn trương: “Chúng tôi là Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn chi viện, đang có lệnh hành quân gấp lên mặt trận Cao Bằng. Xe hỏng giữa đường ray lầy lội thế này, nếu trễ giờ tập kết ở ga Đông Anh thì lỡ hết kế hoạch của Bộ Tư lệnh.”

Bình giơ tay chào theo điều lệnh quân đội, ánh mắt cương trực nhìn thẳng vào người chỉ huy: “Tôi là Trần Bình, cựu chiến binh Sư đoàn 304, hiện là Đội trưởng Đội sản xuất số 3 của xã An Hòa. Đình làng có sân gạch rộng và mái che kín gió, các đồng chí cho anh em tạm lui xe vào tránh rét. Tôi từng lái và sửa xe vận tải ở đường Trường Sơn, để tôi phụ một tay thông bầu lọc xăng và sấy nóng bu-gi.”

Thượng úy nọ siết chặt tay Bình, đôi mắt ánh lên niềm cảm kích: “May quá gặp được đồng đội! Trăm sự nhờ đồng chí!”

Trong lúc Bình cùng người chiến sĩ lái xe mở nắp máy kiểm tra, Hoài An đứng quan sát thùng xe phía sau. Hàng trăm đôi mắt tuổi mười tám, đôi mươi đang nhìn xuống bỡ ngỡ. Những đôi bàn chân chỉ mang đôi dép cao su đúc mỏng tang co quắp lại vì rét, nhiều cậu lính trẻ run bần bật, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Nhìn những bọc tư trang gói tạm bợ bằng những mảnh vải dù vá chằng chịt ướt sũng nước mưa, lòng An thắt lại. Ký ức về những ngày gian khó của dân tộc, về người anh trai Hoài Nam đã mãi mãi nằm lại chiến trường Tây Nguyên lại dội về nghẹn ngào trong lồng ngực cô.

Không chần chừ, An quay sang nói nhỏ với Bình: “Anh ở đây giúp các đồng chí sửa xe. Em chạy về Đội 3 một lát.”

“Em định làm gì? Vừa thức trắng đêm cứu trâu, người em lạnh ngắt rồi đấy,” Bình lo lắng giữ lấy cánh tay cô.

“Em không sao. Bộ đội đi đánh giặc mà rét mướt, đói lả thế này thì làm sao cầm súng? Nhà kho Đội 3 còn đống sắn sấy thông gió và làn mây đan đêm qua. Em về huy động chị em ngay!”

An thoăn thoắt chạy ngược con đường đê lầy lội về xóm Trại. Vừa về tới cổng đội, cô gặp ngay chị Đượm và thím Ba đang gánh tro bếp chuẩn bị mang ra đồng. Nghe An thông báo tình hình đoàn xe chở tân binh bị kẹt ở cổng đình, chị Đượm buông phắt đôi quang gánh, hai mắt sáng quắc: “Trời đất ơi, con em mình đi bộ đội cả đấy! Chờ tao, tao đi gọi cả xóm!”

Chỉ trong vòng hai mươi phút, bếp lửa hội trường Đội 3 đã rực sáng. Mấy nồi nước vối đặc cắm thêm vài nhánh gừng già đập dập sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút thơm lừng. Năm tạ sắn lát khô trắng phao – thành quả của lò sấy đảo nhiệt cải tiến từ mùa thu trước, được An chỉ đạo bảo quản bằng vôi bột khô ráo, thơm phức không hề có một chấm mốc đen – nhanh chóng được các mẹ, các chị xúc đầy vào những bao tải gai sạch sẽ. Cùng với đó là ba mươi chiếc làn mây đan mỹ nghệ xương rồng dày dặn, quai bện ba tao chắc nịch mà chị em vừa hoàn thành đêm qua để chuẩn bị giao cho Ty Ngoại thương.

Khi những chiếc xe cút kít và đòn gánh của phụ nữ Đội 3 tiến ra sân đình, khói bụi dầu luyn đã quyện đặc quanh chiếc xe Zil-130. Bình vừa dùng giẻ lau sạch bộ lọc gió, hai tay đen nhẻm dầu mỡ nhưng nụ cười rạng rỡ nở trên môi: “Xong rồi! Máy đã thông, bu-gi sấy khô kiệt rồi!”

Đúng lúc đó, tiếng máy xe gầm lên giòn giã: “Ù… rầm… phì…!” Ống xả phụt ra một làn khói xanh mỏng rồi tiếng động cơ nổ đều đặn, mạnh mẽ trở lại.

Từng bát nước gừng nóng rẫy được chuyền tận tay những người lính trẻ. Hơi ấm lan tỏa qua những ngón tay cóng buốt, xua tan đi cái lạnh thấu xương của đợt rét hại. Nhìn năm tạ sắn khô thơm nức mùi nắng và ba mươi chiếc làn mây bền chắc được xếp gọn gàng lên thùng xe để anh em đựng gạo sấy, bi-đông nước và tài liệu hành quân, vị Thượng úy tiểu đoàn trưởng xúc động đến lặng người.

Anh bước đến trước mặt An và Bình, siết chặt tay hai người, giọng nghẹn lại: “Đồng bào hậu phương chu đáo quá! Đơn vị chúng tôi hành quân suốt hai ngày đêm, lương khô đã cạn, gặp được bát nước gừng và số lương thực sạch sẽ này của Đội 3 thì ấm lòng anh em vô cùng. Làn mây này chắc chắn lắm, mùa mưa phùn biên giới có cái này đựng quân trang thì không lo ẩm mốc.”

Người chỉ huy rút từ trong xắc-cốt đeo bên hông ra một lá cờ thi đua bằng vải sa-tanh đỏ thắm, viền tua rua vàng óng, trên thêu dòng chữ bằng chỉ vàng ngay ngắn: “Đơn vị Quyết thắng – Chi viện Biên cương”.

“Chiếc cờ này là phần thưởng thi đua đợt phát động mùa đông của Trung đoàn trao cho Tiểu đoàn chúng tôi. Hôm nay, thay mặt toàn thể cán bộ chiến sĩ, tôi xin trân trọng trao tặng lại cho cán bộ và nhân dân Đội sản xuất số 3 xã An Hòa! Chúc các đồng chí ở hậu phương sản xuất giỏi, giữ vững tay cày tay súng!”

Bình đứng nghiêm trang, đón lấy lá cờ bằng hai bàn tay còn vương dầu luyn, ánh mắt rực lên niềm kiêu hãnh: “Chúc các đồng chí chân cứng đá mềm, bách chiến bách thắng! Hậu phương An Hòa xin thề không để thiếu một cân thóc, một củ sắn cho tiền tuyến!”

Đoàn xe quân sự nổ máy rầm rộ, chầm chậm lăn bánh rời khỏi cổng đình trong tiếng vẫy tay tiễn biệt lưu luyến của bà con. Nhìn lá cờ đỏ thắm bay phần phật trong gió bấc lạnh giá, Hoài An cảm thấy một luồng nhiệt ấm áp trào dâng trong huyết quản. Nhưng niềm vui vừa chớm nở đã lập tức nhường chỗ cho mối lo toan thực tại: trước mắt cô và Bình vẫn còn một trận chiến khốc liệt không kém – mặt trận cứu đàn trâu khỏi lưỡi hái của dịch lở mồm long móng.

*

Rời sân đình, An và Bình lập tức quay trở lại khu chuồng trâu Đội 1. Lúc này, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát cũng đã có mặt, chiếc áo bông bốn túi cài kín cổ, vẻ mặt đăm chiêu lo lắng tột cùng. Đứng bên cạnh là Đặng Tiết, mặt mũi tái mét, đầu cúi gằm không dám nhìn ai sau biến cố đêm qua.

Trong gian chuồng dài u tối, ẩm mốc, mùi hôi thối nồng nặc bốc lên từ những vũng phân lỏng và mủ hoại tử. Tám con trâu – gồm năm con đã bại liệt nằm bẹp dí từ trước, con trâu mà Tiết lùa trộm sang Đội 3 bị chặn lại, cùng hai con trâu mộng khác vừa bắt đầu sốt cao, dãi dớt chảy ròng ròng thành sợi dài chạm đất. Tiếng thở phì phò nặng nhọc của những con vật khổng lồ nghe như tiếng kéo bễ rách nát.

“Cô An… tình hình căng thẳng quá,” ông Khoát giọng run rẩy, chiếc bút máy Kim Tinh cài trên ngực áo lắc lư theo từng nhịp thở gấp gáp. “Trạm thú y huyện vừa cử người chạy xe đạp qua báo, bên xã Thụy Hương chết thêm ba mươi con nữa rồi. Dưới đó họ hoảng loạn, mổ trộm đem bán tháo, dịch lây lan không kiểm soát nổi. Toàn huyện cạn sạch thuốc sát trùng. Giờ trông cậy cả vào cô đấy!”

An điềm tĩnh bước vào chuồng, ngồi xổm xuống bên cạnh con trâu mộng hoa cà to nhất đang nằm th* d*c. Cô vén môi con trâu lên kiểm tra: niêm mạc lợi và vòm họng đỏ rực, chi chít những nốt mụn nước đã vỡ toác thành từng mảng loét sâu hoắm, bốc mùi tanh nồng. Ở bốn chân, kẽ móng sưng vù, mủ trắng đục rỉ ra lẫn với đất cát bẩn thỉu. Con trâu đau đớn đến mức bốn vó co quắp, không thể gượng dậy nổi.

Là một kỹ sư công nghệ sinh học nắm vững nguyên lý dịch tễ, An hiểu rõ: virus lở mồm long móng (Aphthovirus) có tốc độ lây lan kinh hoàng qua đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp và chất thải. Tuy nhiên, điểm yếu chí tử của loại virus này là cực kỳ nhạy cảm với môi trường kiềm (pH > 9) hoặc axit nhẹ (pH < 6), và bị vô hiệu hóa nhanh chóng bởi nhiệt độ cao cùng các chất tannin thực vật tự nhiên. Giữa thời buổi thuốc thú y khan hiếm, rơm rạ mục nát và cơ chế tem phiếu trói buộc, phác đồ điều trị thảo dược kết hợp kiểm soát sinh học chính là con đường sống duy nhất.

“Bác Khoát, anh Bình, mọi người nghe tôi phổ biến quy trình,” An đứng dậy, giọng nói mạch lạc, dứt khoát như một vị chỉ huy trận mạc. “Muốn cứu trâu, tuyệt đối không được chữa mò! Chúng ta phải đánh giặc dịch theo ba mũi: Một là sát khuẩn ổ loét; hai là ức chế vi khuẩn hoại tử kẽ móng; ba là thanh trùng không khí để cắt đứt vật chủ trung gian truyền bệnh.”

Cô quay sang phân công từng nhóm xã viên Đội 1 đang đứng run rẩy bên ngoài:

“Nhóm phụ nữ theo chị Đượm trèo lên các cây bàng cổ thụ quanh đình làng và trường học, hái cho tôi năm gánh lá bàng bánh tẻ. Lá bàng chứa hàm lượng tannin và flavonoid cực cao, có tính kháng viêm, làm se niêm mạc và diệt khuẩn tự nhiên vô cùng mạnh mẽ. Rửa sạch, cho vào ba chảo lớn nấu với nước thật đặc, thêm vào mỗi chảo hai bát muối hạt và một nắm lá trầu không vò nát!”

“Nhóm thanh niên cạo sạch toàn bộ phân trâu trong chuồng, đào rãnh rắc vôi bột dày năm phân. Lấy tro bếp rơm rạ sạch, sàng bỏ than vụn, đem sao nóng trên chảo gang cho thật khô ráo!”

“Còn bồ kết khô dự trữ gác bếp của các nhà, gom hết lại đây cho tôi!”

Mệnh lệnh của An rõ ràng, lớp lang khoa học khiến mọi người lập tức bừng tỉnh, dẹp tan nỗi sợ hãi mơ hồ. Cả Đội 1 bỗng chốc biến thành một công trường hối hả. Mùi khói bếp, mùi lá bàng ngai ngái bắt đầu lan tỏa khắp xóm.

Nửa giờ sau, nồi nước lá bàng đặc quánh màu nâu sẫm, bốc hơi nghi ngút được khiêng tới. An xắn cao tay áo bà ba, quấn chiếc khăn rằn quanh trán, đích thân bưng chậu nước thuốc ấm bước vào sát con trâu bệnh.

“Anh Bình, giữ chặt đầu nó giúp em.”

Bình nhanh nhẹn quỳ một chân xuống nền đất lạnh, hai cánh tay rắn chắc như gọng kìm ghì chặt sừng trâu. Con vật sợ hãi giãy giụa, phì phì bọt mép đỏ ngầu. An dùng chiếc khăn xô sạch nhúng đẫm nước lá bàng ấm, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát lau sạch lớp mủ vàng và màng hoại tử bám đầy trên niêm mạc lợi, lưỡi và vòm họng trâu. Chất tannin đậm đặc vừa chạm vào vết loét khiến con trâu giật nảy mình vì xót, nhưng chỉ vài giây sau, tính chất làm se của thảo mộc đã làm dịu đi cơn đau rát buốt.

Lau sạch khoang miệng xong, An rút từ trong giỏ ra một hũ sành đựng hỗn hợp cao đặc quánh màu vàng sẫm. Đó là phương thuốc cô đã tự tay pha chế đêm qua: mật mía nấu cô đặc trộn với bột nghệ vàng nguyên chất và phèn chua phi giòn tán mịn.

“Nghệ làm lành sẹo, mật mía bọc niêm mạc giữ ẩm và cung cấp năng lượng tức thì, còn phèn phi có tính axit nhẹ sẽ sát trùng và ức chế hoàn toàn virus,” An vừa giải thích cặn kẽ cho bà con đứng xem, vừa dùng thanh tre dẹp khéo léo phết từng lớp cao dày vào khắp các vết loét trong miệng trâu. Nhờ vị ngọt đậm của mật mía, con trâu không còn chống cự dữ dội nữa mà bắt đầu chép miệng, nuốt từng ngụm dịch thuốc ấm vào dạ dày.

Tiếp đó là công đoạn xử lý móng chân – nơi quyết định sự sống còn của sức kéo. Bốn vó của con trâu mộng đã bị lở loét đến tận xương, ruồi nhặng bu kín. An yêu cầu dân quân dùng vòi nước vôi loãng dội sạch bùn đất, sau đó dùng nước lá bàng đặc rửa trôi từng kẽ móng.

Khi các kẽ móng đã sạch mủ và se lại, An bốc từng vốc tro bếp rơm rạ còn âm ấm rắc đều vào kẽ ngón chân trâu.

Nhìn thấy An rắc tro bếp, ông Khoát giật mình thốt lên: “Kìa cô An! Tro bếp bẩn thế, rắc vào vết thương lở loét nhỡ nó mưng mủ hoại tử thì sao?”

An ngước lên, mồ hôi lấm tấm trên sống mũi dù trời rét căm căm, bình tĩnh giải thích: “Bác Khoát yên tâm. Tro rơm rạ đốt từ lửa nhiệt độ cao vốn vô trùng tuyệt đối. Tro bếp có tính kiềm tự nhiên rất cao nhờ chứa muối kali cacbonat. Môi trường kiềm này vừa hút sạch dịch mủ ẩm ướt, vừa tiêu diệt tận gốc virus lở mồm long móng vốn chỉ sống được trong môi trường trung tính. Lại thêm tro nóng giữ ấm cho huyệt đạo ở chân trâu giữa trời rét hại này.”

Rắc tro xong, An dùng những mảnh bao tải gai sạch đã luộc qua nước sôi phơi khô, quấn chặt lấy từng móng chân trâu rồi buộc lại bằng dây chuối hột dẻo dai. Bốn chiếc chân lở loét lập tức được cách ly hoàn toàn khỏi mặt đất ẩm ướt, khô ráo và ấm áp lạ thường.

Khâu cuối cùng là xử lý môi trường. An chỉ đạo treo ba chiếc niêu đất cũ ở ba góc chuồng, bên trong đốt trấu âm ỉ rồi rải những quả bồ kết khô đã bẻ vụn lên trên. Khói bồ kết cay nồng, thơm ngát mùi tinh dầu saponin cuồn cuộn bốc lên, lan tỏa khắp ngóc ngách chuồng trại. Làn khói thảo dược diệu kỳ vừa xua tan sạch bách lũ ruồi trâu, nhặng xanh mang mầm bệnh, vừa sát trùng toàn bộ bầu không khí ẩm mốc ngột ngạt.Chứng kiến từng thao tác thuần thục, chuẩn xác, đầy ắp tri thức thực nghiệm của An, ông Khoát đứng lặng người, hai bàn tay đút trong túi áo khẽ run lên. Ông nhận ra rằng, những bản báo cáo chỉ tiêu sáo rỗng hay những đợt phát động thi đua ồn ào bấy lâu nay chẳng thể cứu nổi một con trâu. Thứ cứu được sinh mạng của làng quê lúc này chính là khoa học thực tiễn, là giọt mồ hôi và lòng quả cảm của đôi vợ chồng trẻ này.

*

Một tuần lễ tiếp theo là cuộc chiến sinh tử không ngơi nghỉ.

An và Bình gần như dọn hẳn ra túp lều canh ở đầu chuồng Đội 1. Mỗi ngày ba bận, bất kể mưa phùn gió bấc hay đêm đông buốt giá, An đều đặn thay băng móng, bôi cao mật nghệ và xông khói bồ kết cho từng con trâu. Bình thì cùng đội dân quân túc trực gác đê 24/24 giờ, tuyệt đối không cho bất kỳ người hay gia súc lạ nào lai vãng vào địa phận xã An Hòa.

Những ngày ấy, thức ăn cho trâu ốm là một bài toán hóc búa. Miệng trâu còn đau, không nhai được rơm khô dai nhách. An hướng dẫn bà con lấy rơm nếp mềm, băm nhỏ như sợi thuốc lào, đem trần qua nước muối gừng ấm rồi trộn với cám gạo nghiền mịn. Từng bát cháo cám ấm bùi ngậy được bà con kiên nhẫn bón từng thìa gỗ vào miệng những con trâu đang kiệt sức.

Đến ngày thứ năm, một kỳ tích đã xuất hiện giữa chuồng trâu Đội 1.

Buổi sớm hôm ấy, khi ánh bình minh nhạt nhòa le lói xuyên qua làn sương đông giá buốt, Hoài An bưng chậu nước lá bàng bước vào chuồng thì bỗng khựng lại. Con trâu mộng hoa cà – con vật bị liệt nặng nhất, từng nằm chờ chết suốt nhiều ngày qua – bỗng cựa mình. Bốn chiếc chân quấn bao tải tro ấm chống vững chãi xuống nền rơm khô.

“Phì… phì…”

Nó thở một hơi dài khoan khoái, vươn chiếc cổ to bè, rồi từ từ đứng thẳng dậy trước ánh mắt sững sờ của mọi người!

Nó bước đi vài bước vững vàng, chiếc đuôi dài quất phần phật vào hai bên hông xua ruồi, rồi thò chiếc mõm ướt mềm vào máng gỗ, ngấu nghiến nhai mớ cỏ mật non được ủ ấm.

An vội buông chậu nước, tiến lại vạch môi nó ra xem: những vết loét đỏ lòm trong vòm họng hôm nào nay đã khô kiệt, kéo một lớp da non màu hồng nhạt lành lặn! Mở lớp bao tải ở kẽ móng ra, mủ tanh đã biến mất hoàn toàn, đáy móng đóng vảy đen cứng cáp, khô ráo lạ thường.

“Đứng dậy rồi! Trâu mộng đứng dậy được rồi bà con ơi!” Tiếng hô hoán của một xã viên Đội 1 vang lên như sấm dậy, phá tan bầu không khí u ám bao trùm xóm làng suốt nửa tháng qua.

Chỉ trong vòng hai ngày sau đó, cả bảy con trâu còn lại của Đội 1 lần lượt hồi phục kỳ diệu. Từng lớp vảy hoại tử bong ra, những đôi chân từng bại liệt nay lại cắm phập những chiếc móng cứng cáp xuống đất. Đàn trâu bước ra bãi cỏ ven đê gặm cỏ trong ánh nắng xuân hanh hao vừa hửng lên sau chuỗi ngày rét hại.

Và điều kỳ diệu nhất: suốt một tuần cao điểm của ổ dịch nguy hiểm, nhờ hệ thống rào chắn vôi bột ba tầng nghiêm ngặt và biện pháp cách ly triệt để của An, toàn bộ hai mươi tư con trâu mộng của Đội sản xuất số 3 hoàn toàn khỏe mạnh, không có lấy một ca lây nhiễm chéo nào! Giữa lúc các xã lân cận bên bờ sông Đáy tang thương vì hàng trăm con trâu ngã quỵ, An Hòa sừng sững như một pháo đài bất khả xâm phạm.

*

Trưa hôm ấy, sân nhà Bình và An rộn rã bước chân người.

Bà cụ Mẫn đang ngồi bên thềm nhặt rau muống cạn thì giật mình đánh thót khi thấy hàng chục xã viên Đội 1 kéo sang. Đi đầu là bác Cả Đoan – một lão nông tri điền kỳ cựu từng vì nghe lời xúi giục của phe Đặng Tiết mà nhiều lần nghi kỵ, gây khó dễ cho vợ chồng An trong các buổi họp bình công điểm. Phía sau là các thím, các chị Đội 1, người bưng rá ngô bung thơm phức, người cắp nải chuối tiêu chín trứng cuốc, người xách chục trứng gà bọc rơm cẩn thận.

Bình và An từ gian bếp bước ra, trên tay vẫn còn dính chút bồ hóng. Thấy bà con đông đủ, nét mặt đầy vẻ ngập ngừng, áy náy, Bình vội bước xuống thềm: “Bác Cả, bà con sang chơi… có việc gì thế ạ?”

Bác Cả Đoan đứng sững lại giữa sân, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy buông chiếc nón cời xuống ngực. Đôi mắt người nông dân già đỏ hoe, ngân ngấn nước mắt. Bất thần, ông cúi gập người trước hai vợ chồng trẻ:

“Anh Bình… cô An! Chúng tôi… chúng tôi sang đây là để tạ cái tội mù quáng, hẹp hòi của bà con Đội 1 đối với hai anh chị!”

Giọng bác Cả nghẹn lại, từng lời thốt ra từ tận đáy lòng gan ruột: “Bấy lâu nay, chúng tôi u mê nghe theo lời xúi bậy của đứa xấu, đố kỵ với Đội 3, nghi ngờ cô An làm ăn mờ ám. Thế mà khi tai họa giáng xuống đầu Đội 1, trâu chết người lo, chính cô An và anh Bình lại thức trắng năm bảy đêm ròng, không quản phân gio dơ bẩn, cứu sống từng con trâu cày – cái cần câu cơm của cả nhà chúng tôi! Nếu không có hai vợ chồng anh chị, vụ chiêm xuân này Đội 1 chúng tôi coi như trắng tay, con cái đói rách méo mồm…”

Mấy thím đi sau cũng sụt sùi gạt nước mắt: “Cô An ơi, con trâu nhà tôi được cô cứu sống rồi. Chúng tôi nghèo chẳng có gì đền đáp, có rá ngô non với mấy quả trứng gà đẻ lứa đầu, xin cô nhận cho chúng tôi nhẹ cái lòng…”

Hoài An vội bước tới, hai tay đỡ lấy đôi bàn tay chai sần, nứt nẻ vì sương muối của bác Cả Đoan. Lòng cô trào dâng một niềm xúc động khôn tả. Mọi nhọc nhằn, cay đắng, những đêm thức trắng rét buốt dường như tan biến sạch trơn trước sự chân thành mộc mạc của những người nông dân chân lấm tay bùn.

“Bác Cả, các cô các bác đừng nói thế!” An cất giọng ấm áp, đôi mắt sáng long lanh. “Đội 1 hay Đội 3 thì cũng đều là xã viên An Hòa, cùng chung một đồng đất, cùng uống chung dòng nước sông Đáy. Con trâu là đầu cơ nghiệp của bà con, cứu được trâu là giữ được vụ mùa cho cả làng. Ơn nghĩa gì đâu ạ, bà con mau vào nhà uống chén nước chè xanh với mẹ con cháu!”

Bình đứng bên cạnh An, bàn tay anh lặng lẽ đặt lên vai vợ, siết nhẹ đầy yêu thương và tự hào. Ánh mắt cương nghị của người cựu chiến binh nhìn khắp lượt bà con xóm giềng. Những vết rạn nứt, nghi kỵ do cơ chế quan liêu và lòng đố kỵ chia rẽ bấy lâu nay bỗng chốc được hàn gắn bền chặt sau cơn bão lửa dịch bệnh. Tình làng nghĩa xóm, sự đoàn kết ruột thịt giữa những con người cùng chung cảnh ngộ nghèo khó lại bừng sáng rực rỡ hơn bao giờ hết.

Bà cụ Mẫn ngồi bên hiên nhìn các con, nụ cười móm mém nở trên gương mặt nhăn nheo, khóe mắt già nua lóng lánh giọt lệ mừng vui.

*

Chiều muộn, khi sương mù bắt đầu là đà buông xuống những rặng tre quanh làng, ông Bùi Đắc Khoát sai một chú liên lạc viên trẻ tuổi đạp xe hớt hải sang tận nhà tìm Bình.

“Đồng chí Bình! Chủ nhiệm Khoát nhắn đồng chí lên ngay văn phòng Hợp tác xã ở gian chái đình làng có việc hệ trọng gấp!”

Bình nhìn sang An, hai vợ chồng thoáng chút ngạc nhiên. Dịch bệnh đã dập tắt hoàn toàn, việc Đội 1 đã êm xuôi, cớ sao ông Khoát lại gọi gấp gáp vào lúc chập choạng tối thế này?

“Anh cứ đi đi, cẩn thận kẻo chân lại nhức đấy,” An với tay lấy chiếc khăn len quàng lại cổ cho chồng, ân cần dặn dò.

Bình gật đầu, rảo bước về phía đình làng. Gian chái nhỏ của ngôi đình cổ – nơi đặt bàn làm việc của Ban Quản trị Hợp tác xã An Hòa – chìm trong bóng chiều chập choạng. Khi Bình bước vào, anh ngạc nhiên khi thấy căn phòng vắng lặng bất thường, không có bóng dáng của kế toán hay các đội phó như mọi khi.

Ông Khoát đang ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ mộc mạc, dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu Hoa Kỳ. Thấy Bình bước vào, ông không đứng dậy chào như thường lệ mà lập tức đứng phắt dậy, bước ra cửa chính nhìn quanh quất một lượt rồi khép chặt cánh cửa gỗ lim nặng nề. Thậm chí, ông còn cẩn thận cài chặt then cửa sổ nhìn ra hồ sen rậm rạp.

Sự bí ẩn và căng thẳng tột độ toát ra từ từng cử chỉ của vị Chủ nhiệm già khiến Bình bất giác cảnh giác.

“Báo cáo Chủ nhiệm, đồng chí gọi tôi có việc gì đột xuất?” Bình cất giọng trầm tĩnh.

Ông Khoát quay lại, hơi thở có phần dồn dập. Gương mặt người đàn ông ngoài năm mươi tuổi hằn sâu những nếp nhăn của bao năm lăn lộn với phong trào hợp tác hóa, nhưng lúc này, trong đáy mắt ông không còn vẻ giáo điều, máy móc thường ngày, mà là một sự giằng xé dữ dội giữa nỗi sợ hãi và niềm khát khao cháy bỏng.

Ông bước lại gần bàn, bàn tay run rẩy thò sâu vào ngăn kéo có khóa sắt dưới gầm bàn. Tiếng chìa khóa lách cách mở ra trong không gian tĩnh mịch đến nghẹt thở.

Từ đáy ngăn kéo bí mật, ông Khoát ngập ngừng rút ra một tập giấy bổi màu vàng ngà, mép giấy đã sờn rách vì bị lật giở nhiều lần. Đó là những trang giấy viết tay bằng mực tím nguệch ngoạc, chi chít những con số tính toán, những dòng gạch xóa và những dấu chấm hỏi đanh thép.

Ông đặt tập giấy xuống mặt bàn gỗ, đẩy nhẹ về phía Bình, giọng hạ thấp chỉ vừa đủ hai người nghe giữa tiếng gió rít qua khe cửa:

“Đồng chí Bình… Đêm qua tôi không ngủ được. Nhìn đoàn xe bộ đội đói khát trên đường ra trận, nhìn đàn trâu suýt chết vì cơ chế quan liêu giấu giếm, nhìn xã viên Đội 1 ôm rá ngô khóc ròng cảm ơn… tôi thấy cay đắng quá. Đất đai An Hòa màu mỡ bãi bồi ven sông Đáy, người nông dân một nắng hai sương cần cù chịu khó… tại sao năm nào cũng giáp hạt? Tại sao bụng người lúc nào cũng đói cồn cào?”

Bình nín thở, ánh mắt dán chặt vào tập giấy viết tay trên bàn. Dưới ánh đèn dầu chập chờn, dòng tiêu đề nắn nót viết hoa ở trang đầu tiên đập vào mắt anh như một luồng điện giật:

“PHƯƠNG ÁN THỬ NGHIỆM GIAO ĐẤT BÃI VEN SÔNG CHO TỪNG NHÓM HỘ TỰ QUẢN LÝ VÀ CHỊU TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM (LƯU HÀNH NỘI BỘ - TUYỆT MẬT)”

Bình ngẩng phắt đầu lên, sững sờ nhìn thẳng vào đôi mắt đang bốc cháy một ngọn lửa liều lĩnh của vị Chủ nhiệm già.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn