Mùi xú uế nồng nặc bốc lên từ vũng bùn trước mặt khiến sống mũi Trần Bình giật thắt.
Là một người lính từng luồn sâu trong những cánh rừng khộp, từng ngửi đủ thứ mùi của sự hủy diệt và thối rữa nơi chiến địa, Bình nhận ra ngay cái mùi chết chóc quen thuộc ấy. Đó không đơn thuần là mùi phân gia súc ngày mưa rét, mà là mùi tanh nồng của máu mủ hoại tử, mùi dịch rỉ nhớp nháp bốc ra từ những vết thương đang rữa nát trên cơ thể một sinh vật sống.
Dưới màn sương đêm mờ đục và mưa phùn lạnh thấu xương, Đặng Tiết vẫn đang nghiến răng trèo trẹo. Gã cúi gập người, hai tay nắm chặt đầu gậy có cắm chiếc đinh mười phân gỉ sét, thẳng cánh chọc mạnh vào hông con trâu tội nghiệp:
“Vào! Mày không vào thì tao chọc mù mắt! Sang bên đấy mà chết!”
Con trâu rống lên một tiếng nghẹn ứ nơi cổ họng. Khối thân xác đồ sộ gần năm tạ run rẩy dữ dội, bốn chân quỵ xuống, cùi thịt ở móng trước quẹt vào đất bùn tóe máu. Nó thở hồng hộc, bọt mép sùi ra từng bọc lớn, trắng xóa lẫn sợi máu đỏ tươi, rơi tõm xuống bãi cỏ non trước rào râm bụt của Đội 3. Chỉ cần nó lết thêm ba bước nữa, nguồn mầm bệnh khủng khiếp này sẽ cọ xát trực tiếp vào hàng rào bảo vệ mà bà con Đội 3 đã thức trắng mấy đêm để che chắn.
Máu trong người Bình sôi lên sùng sục. Cơn giận dữ bùng phát không phải vì tư thù cá nhân, mà bởi sự đê hèn tột cùng của một kẻ từng mang danh cán bộ: vì sự ghen ghét nhỏ nhen mà sẵn sàng bức tử cả một cơ nghiệp của tập thể, đem hiểm họa rải vào bát cơm của những người dân vô tội.
Bình không thèm lên tiếng đánh động. Bản năng trinh sát bao năm tôi luyện giúp anh lướt đi êm như một bóng ma trên mặt đất nhão nhoét. Vết thương cũ ở đùi chỉ hơi nhói lên trong tích tắc rồi lập tức bị sự tập trung cao độ đè bẹp. Khi Đặng Tiết vừa giơ cao chiếc gậy đinh định bồi thêm một cú đâm ác độc vào sườn con vật, Bình đã áp sát sau lưng gã.
Chiếc đòn gánh tre đực trong tay Bình vung lên xé gió, không giáng vào đầu mà nện chuẩn xác một cú ngang cổ tay cầm gậy của Tiết.
“Rắc!”
“Ái chà mẹ ơi!”
Đặng Tiết rú lên một tiếng the thé, chiếc gậy cắm đinh rơi tõm xuống bùn. Chưa kịp định thần xem chuyện gì vừa xảy ra, một bàn tay cứng như kìm sắt đã túm chặt lấy cổ áo tơi của gã, giật ngược ra sau. Bình xoay nửa vòng người, dùng thế gạt chân điêu luyện của bộ đội đặc công, quét thẳng vào khoeo chân run rẩy của Tiết.
“Bịch!”
Thân hình gầy gò của Đặng Tiết ngã sấp mặt xuống rãnh nước ven bờ rào. Bùn đất lạnh ngắt táp đầy vào mồm vào mũi gã. Gã điên cuồng giãy giụa, miệng ú ớ chửi rủa:
“Đứa nào… đứa nào dám đánh trộm tao… Cứu… cướp…”
“Câm mồm!”
Tiếng quát trầm đục, đanh thép của Bình vang lên ngay đỉnh đầu như một tiếng sét giữa đêm đông. Cùng lúc đó, đầu chiếc đòn gánh tre nhẵn bóng ấn thẳng vào gáy Đặng Tiết, ghim chặt gã xuống mặt đất buốt giá. Một bàn chân đi dép cao su đúc của Bình dẫm lên lưng gã, vững chãi như một tảng đá ngàn cân.
Đặng Tiết run bắn người khi nhận ra giọng nói quen thuộc. Gã cố ngoẹo cổ lên, ánh mắt lờ đờ vì sợ hãi bắt gặp đôi mắt Bình đang rực sáng lên trong bóng tối – đôi mắt đanh lại, lạnh lùng và sắc bén như lưỡi lê tuốt trần.
“Trần… Trần Bình? Mày… mày làm cái gì thế? Buông tao ra!” Đặng Tiết lắp bắp, giọng méo xệch đi vì rét và vì kinh hoàng.
Từ phía sau lùm chuối, ánh đèn bão bỗng bừng sáng. Hoài An bước nhanh tới, chiếc áo chần bông màu cỏ úa dính đầy hạt sương đêm. Cô không nhìn Đặng Tiết, mà giơ cao chiếc đèn bão về phía con trâu đang nằm th* d*c. Ánh sáng vàng vọt quét qua đầu con vật, soi rõ cảnh tượng thảm khốc: toàn bộ niêm mạc môi trên, môi dưới của con trâu lở loét thành từng mảng lớn, mủ vàng đọng quánh quanh lỗ mũi, hai mắt đục ngầu gỉ mắt bết dính. Móng chân trước của nó tróc hẳn lớp sừng ngoài, lộ ra phần thịt đỏ lòm đang rỉ nước vàng tanh tưởi.
An hít sâu một hơi, giọng nói đanh lại nhưng vô cùng bình tĩnh:
“Đúng là lở mồm long móng thể ác tính rồi. Móng đã bong cùi, niêm mạc miệng loét sâu, sốt rất cao. Con trâu này phát bệnh ít nhất đã bốn ngày nay.”
Bình cúi gập người xuống, tay siết chặt chiếc đòn gánh ấn sâu thêm một phân, gằn từng tiếng vào tai Đặng Tiết:
“Anh Tiết! Mở to mắt ra mà nhìn con súc sinh này! Anh vừa bị huyện kỷ luật cách chức, giờ lại nửa đêm lén lút dắt trâu ốm sắp chết sang bãi cỏ Đội 3 để làm gì? Trả lời!”
Đặng Tiết run lẩy bẩy dưới sức ép của Bình, mặt gã tái mét không còn một hột máu, hai hàm răng va vào nhau cầm cập:
“Tôi… tôi không có… Trâu của đội nó xổng chuồng… Tôi thấy nó đi lạc nên… nên dắt về…”
“Anh nói dối!” An cất tiếng, giọng cô rành rọt, khúc chiết từng chữ một. Cô chỉ ngọn đèn bão xuống gốc râm bụt: “Trâu bệnh lở móng đến mức này, đi từng bước là đau thấu xương tủy, tự bản thân nó chỉ muốn nằm liệt một chỗ chờ chết, làm sao tự xổng chuồng đi bộ gần nửa cây số từ chuồng Đội 1 sang đây được? Trên mông nó đầy vết đâm mới toanh, máu còn đang ứa ra từ đầu đinh của cái gậy anh cầm trên tay kìa! Anh định lừa ai?”
Bình nắm lấy cổ áo Đặng Tiết, xốc mạnh gã ngồi dậy nhưng vẫn ghì chặt hai tay gã ra sau lưng. Sức mạnh của người lính khiến Đặng Tiết đau đến nhăn nhúm mặt mày, không thể nhúc nhích:
“Tôi hỏi anh lần cuối: Chuồng trâu Đội 1 hiện giờ thế nào? Đã có bao nhiêu con phát bệnh như thế này rồi? Khai thật ra, nếu không tôi trói anh giải thẳng lên phòng Trực ban Công an huyện ngay trong đêm nay với tội danh cố ý phá hoại tài sản nhà nước và phá hoại an ninh kinh tế!”
Nghe đến hai chữ “Công an huyện”, Đặng Tiết như bị sét đánh ngang tai. Sau vụ vu khống đạm urê đợt trước, gã đã mang một án phạt cảnh cáo treo lơ lửng trên đầu, bà Phó Tươi thì đang bị giữ trên huyện để thẩm vấn. Nếu đêm nay gã bị bắt quả tang rành rành thế này, cái tội phá hoại tài sản hợp tác xã trong mùa giáp hạt đủ để gã phải ngồi tù mọt gông.
Nỗi sợ hãi tột cùng đánh sụp chút sĩ diện hão và sự hung hãn cuối cùng của kẻ tiểu nhân. Đặng Tiết bỗng sụp xuống, hai đầu gối quỳ lún vào vũng bùn, nước mắt nước mũi giàn giụa hòa lẫn với bùn đất trên mặt:
“Tôi lạy anh Bình… Tôi lạy cô An… Tôi trót dại… Tôi mê muội quá rồi! Đừng giải tôi lên huyện… Tôi van các người!”
“Nói! Chuồng Đội 1 bị lây từ bao giờ?” Bình quát lớn, giọng nghiêm nghị không cho phép thoái thác.
“Bị… bị từ ba hôm trước…” Đặng Tiết mếu máo, giọng run rẩy đứt quãng. “Đợt rét đậm hôm mùng Một Tết, chuồng Đội 1 bị sập một góc rào, trâu xổng ra ngoài bãi sông. Lúc lùa về thì có con trâu mộng hoa cà bị trước. Đến chiều qua… chiều qua thì đã có năm con… năm con bị lở loét mồm miệng, sốt bỏ ăn, chân rụng cả móng…”
“Năm con?!” Bình giật mình, lồng ngực thắt lại.
Đội 1 là đội có đàn trâu đông nhất xã, gánh vác hơn một nửa diện tích cày bừa vụ chiêm xuân của toàn bộ cánh đồng phía Tây. Năm con phát bệnh nặng, nghĩa là cả cái chuồng hơn ba mươi con ở đó coi như đã nằm trọn trong ổ dịch!
“Sao các người không báo cáo lên Ban Quản trị? Sao không báo cho thú y huyện?” Bình nghiến răng hỏi.
Đặng Tiết cúi gầm mặt, giọng lí nhí đầy nhục nhã:
“Tại… tại bên Đội 1 sợ… Vừa rồi tôi bị cách chức, thằng Thuận lên thay làm quyền đội trưởng. Nó sợ báo dịch ra thì Đội 1 bị cắt hết điểm thi đua đầu năm, bị huyện phê bình là lơ là quản lý… Nó bảo cứ giấu đi, nhốt kín trong góc chuồng rồi lấy rơm đốt hun khói xem có khỏi không. Nhưng càng nhốt thì bệnh càng nặng… Chiều nay con trâu đực này quỵ hẳn, sùi bọt mép thở không ra hơi. Thằng Thuận… thằng Thuận nó bảo tôi tìm cách kéo vứt ra bãi hoang… Tôi… tôi nghĩ quẩn, tôi tức… tôi nghĩ Đội 3 của anh chị trúng mùa ngô, lại được khen ngợi đủ điều, còn tôi thì mất hết… nên tôi mới… tôi mới dắt nó sang đây…”
Từng lời thú nhận trơ trẽn của Đặng Tiết như những nhát dao cứa vào sự nhẫn nại của Bình. Anh siết chặt nắm tay, nếu không phải vì kỷ luật quân đội đã ăn sâu vào máu, có lẽ anh đã không kìm được một quả đấm vào cái bản mặt hèn hạ kia. Vì một chút đố kỵ, vì cái bệnh thành tích giả dối mà chúng sẵn sàng đem cả cơ nghiệp của hàng trăm xã viên ra đánh cược!
“Bình, buông anh ta ra đi.”
Tiếng nói dịu dàng nhưng đầy uy lực của An vang lên, kéo Bình về với thực tại. An bước tới bên con trâu đang nằm thoi thóp. Con vật dường như cảm nhận được sự dịu dàng của người phụ nữ, đôi mắt đục ngầu ứa ra hai giọt nước mắt lớn, chảy dài trên lớp lông xám ngoét.
“Bây giờ không phải lúc trừng phạt anh ta,” An nói, ánh mắt nhìn thẳng vào Bình. “Con trâu này đã nằm ngay cửa ngõ Đội 3. Nếu chúng ta xua đuổi nó quay lại đường làng, nó sẽ lê bước qua các ngõ xóm, rải mầm bệnh ra khắp đất cát, nước đọng. Ngày mai bà con đi làm, trâu bò Đội 2, Đội 3 đi qua dẫm phải bùn đất ấy thì toàn bộ hệ thống phòng dịch của chúng ta coi như sụp đổ hoàn toàn.”
Bình lập tức hiểu ra tính toán chiến lược của vợ. Trong chiến tranh, khi phát hiện một quả bom nổ chậm chưa phát nổ nằm ngay lối vào sở chỉ huy, điều cấm kỵ nhất là dịch chuyển bừa bãi hay hất nó sang chiến hào bên cạnh. Phải khoanh vùng, cách ly và vô hiệu hóa nó ngay tại một điểm an toàn.
“Ý em là… giữ nó lại để cách ly?” Bình hỏi dồn.
“Phải cách ly dã chiến ngay lập tức,” An gật đầu dứt khoát. “Nhưng tuyệt đối không được đưa vào khu chuồng tập trung của Đội 3. Phía cuối bãi Soi, chỗ doi cát bồi sát mép sông Đáy, có cái chòi canh ngô bỏ trống từ vụ trước. Chỗ đó nằm cuối hướng gió, cách biệt hoàn toàn với làng xóm, xung quanh là dải cát trắng khô ráo có tính sát khuẩn tự nhiên. Chúng ta phải đưa nó xuống đó ngay trong đêm nay!”
“Nhưng chân nó tróc hết móng rồi, làm sao đi nổi cả cây số xuống bãi cát?” Bình nhìn bốn cái chân trâu be bét máu mủ mà ái ngại.
An nhanh nhẹn tháo chiếc khăn len quàng cổ xuống, ngồi thụp xuống bên cạnh con vật:
“Chúng ta phải bọc móng cho nó. Đặng Tiết! Đứng dậy!”
Tiếng gọi bất ngờ của An làm Đặng Tiết giật thót, co rúm người lại: “Dạ… dạ cô An…”
“Anh muốn lập công chuộc tội để không phải lên công an huyện thì nghe tôi bảo đây!” Ánh mắt An sáng quắc, toát lên phong thái chỉ huy sắc sảo. “Chạy ngay vào cái chái bếp nhà u Mẫn đằng kia, lấy cho tôi ba cái bao tải gai cũ và một thúng tro bếp mịn. Nhớ là đi đường bờ rào, không được bước chân vào sân! Nhanh lên!”
“Vâng… vâng, tôi đi ngay! Tôi đi ngay!” Đặng Tiết như vớ được cọc, lồm cồm bò dậy, co giò chạy như ma đuổi về phía bếp nhà Bình.
Trong lúc đó, An quay sang nói với Bình:
“Anh Bình, anh chạy về nhà lấy cho em gói phèn chua hôm nọ em mua ở hiệu thuốc huyện để dành lọc nước, một liễn mật mía ở chạn bát, và bảo u giã nát cho em một củ nghệ già thật to. Nhanh lên anh, con trâu này sốt cao quá rồi, niêm mạc họng nó sưng tấy thế kia, nếu không hạ sốt và thông họng thì đến sáng nó sẽ chết vì ngạt và kiệt sức.”
Nhìn vẻ điềm tĩnh, tự tin và quyết đoán của vợ, nỗi lo lắng căng thẳng trong lòng Bình bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho một niềm tin tuyệt đối. Anh gật đầu thật mạnh: “Được, em ở đây cẩn thận, anh về lấy ngay!”
Bình sải những bước chân dài thoăn thoắt trong đêm tối. Gió bấc vẫn gầm rít từng cơn, nhưng trong lồng ngực anh, ngọn lửa của trách nhiệm và tình yêu thương đang bùng cháy rực rỡ.
Chưa đầy mười phút sau, mọi thứ đã được tập kết đầy đủ tại bờ rào râm bụt.
Đặng Tiết thở không ra hơi, hai tay ôm thúng tro bếp nóng và mấy chiếc bao tải gai đứng nép một bên, run như cầy sấy. Bình mang tới một bọc phèn chua, một liễn mật mía vàng óng sánh đặc và bát nghệ già đã được bà cụ Mẫn giã nát thành một thứ bột màu vàng cam sực mùi cay nồng.An ngồi xổm bên con trâu, bắt đầu thao tác một cách thuần thục như một bác sĩ thú y thực thụ. Đầu tiên, cô lấy tro bếp mịn rắc đều lên những vết lở loét ở kẽ móng con trâu. Tro bếp tính kiềm nhẹ, lại khô ráo, lập tức hút bớt thứ dịch mủ tanh tưởi và làm se miệng vết thương. Sau đó, cô lấy những mảnh bao tải gai xé dọc, quấn thật chặt quanh bốn móng chân con trâu như những chiếc ủng bảo hộ, dùng dây chuối khô buộc chặt lại.
“Làm thế này nó sẽ đỡ đau khi dẫm xuống đất, và mầm bệnh từ vết loét sẽ không rơi vãi ra dọc đường,” An giải thích ngắn gọn cho Bình.
Tiếp theo là phần xử lý vòm họng – khâu sống còn để cứu mạng con vật.
Bình dùng sức mạnh của hai cánh tay lực lưỡng nhẹ nhàng giữ chặt sừng trâu, ghì đầu nó nghiêng sang một bên. Đặng Tiết theo lệnh của An, run rẩy cầm chiếc đèn bão soi sát vào mõm con vật.
An lấy nắm phèn chua cục, đặt lên một mảnh ngói vỡ rồi dùng lửa của chiếc đèn dầu hơ nóng. Dưới sức nóng, phèn chua sôi sùng sục, mất nước và nở xốp ra thành một thứ bột trắng tinh, mịn màng như tuyết – đó chính là phèn phi. Cô nhanh tay dùng chuôi dao nghiền nát lớp phèn phi xốp ấy, trút thẳng vào bát nghệ giã, rồi rót thêm nửa bát mật mía đặc sánh, dùng que tre khuấy đều tạo thành một thứ cao lỏng màu nâu sẫm, quánh lại và thơm nồng mùi mật lẫn nghệ.
“Bình, giữ chắc hàm nó giúp em. Đừng để nó ngậm miệng lại.”
Bình gật đầu, một tay nắm chặt vành mũi, một tay luồn vào khóe mép trâu tách rộng hai hàm răng. Con trâu đau đớn giãy giụa nhẹ, hơi thở phả ra nóng rực như lò than.
An không hề sợ bẩn hay sợ lây nhiễm. Đôi bàn tay thanh mảnh của cô cầm chiếc thìa gỗ lớn, múc từng thìa cao mật nghệ phèn phi, khéo léo bôi thẳng vào sâu trong vòm họng, quét đều lên lớp niêm mạc đang lở loét, sưng đỏ tấy của con vật.
Hỗn hợp thuốc dân gian này mang một cơ chế sinh học cực kỳ tài tình mà An nắm rõ như lòng bàn tay: Phèn phi có tính săn se niêm mạc, diệt khuẩn cục bộ cực mạnh và làm đông dịch mủ; nghệ già chứa hàm lượng curcumin đậm đặc giúp chống viêm, k*ch th*ch tái tạo biểu mô non; còn mật mía đóng vai trò như một lớp màng sinh học bao bọc lấy các đầu m*t dây thần kinh đang bị tổn thương, ngăn cản sự cọ xát gây đau đớn, đồng thời cung cấp ngay lập tức một lượng đường glucose dễ hấp thụ để hồi phục năng lượng cho cơ thể đang kiệt quệ.
Vừa được bôi lớp thuốc vào họng, con trâu bỗng ngừng giãy giụa. Vị ngọt của mật và tính chất làm dịu của nghệ phèn dường như đã xoa dịu cơn rát bỏng nghẹt thở trong cổ họng nó. Nó khẽ chép miệng một cái, cổ họng phát ra một tiếng ực nhỏ – phản xạ nuốt đầu tiên sau nhiều ngày bị dịch bệnh hành hạ!
“Nó nuốt được rồi!” Bình reo lên khẽ, trong mắt ánh lên niềm vui sướng tột cùng.
An mỉm cười, mồ hôi lấm tấm trên trán dù gió bấc đang thổi từng cơn buốt lạnh:
“Mật mía làm dịu vết loét rất nhanh. Bây giờ chúng ta phải đưa nó xuống bãi Soi ngay. Đặng Tiết, anh đi trước dẫn đường, tay cầm đèn bão soi thẳng xuống chân. Anh Bình với tôi dắt nó đi sau.”
Được bọc đệm tro vôi ở chân và làm dịu cơn đau trong họng, lại thêm sự khích lệ của con người, con trâu dường như hồi sinh một phần sinh lực. Dưới sự trợ lực của Bình, nó r*n r* gượng gạo chống bốn chân đứng dậy. Dù dáng đi còn khập khiễng, run rẩy, nhưng nó đã có thể cất bước.
Đoàn người lặng lẽ di chuyển trong màn sương đêm lạnh giá. Họ men theo con đường mòn ven đê hoang vắng, tránh xa khu dân cư, tiến thẳng về phía bãi bồi ven sông Đáy.
Đến chòi canh ngô ở doi cát, Bình lập tức thu dọn rơm khô, trải một lớp đệm dày dưới nền cát rồi rắc một lớp vôi bột trắng xóa xung quanh để cô lập hoàn toàn. Con trâu mệt lả đổ ập xuống lớp rơm ấm, nhắm nghiền mắt thở đều hơn, không còn tiếng rít nghẹn ngào như lúc nửa đêm.
An múc một gáo nước cháo loãng nấu với gừng tươi và muối hạt mang từ nhà ra, đổ nhẹ vào khóe miệng trâu. Con vật khẽ há môi, từ từ l**m láp từng ngụm cháo ấm. Nhìn cảnh tượng ấy, Đặng Tiết đứng chết trân ở cửa chòi, hai mắt trố tròn kinh ngạc. Một con trâu mà chiều nay cả Đội 1 đã lắc đầu bảo nhau chờ chết để đem chôn, vậy mà qua tay người đàn bà này chỉ trong một canh giờ đã có thể tự nuốt được cháo!
Đúng lúc ấy, từ phía triền đê bỗng có tiếng bước chân dồn dập kèm theo ánh đuốc bập bùng xé toạc màn sương mù.
“Đồng chí Bình đâu? Có phải ở dưới chòi bãi Soi không?”
Tiếng gọi thất thanh của Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát vang lên giữa đêm vắng. Đi cùng ông là hai dân quân xã khoác súng trường K63 và bác Cả Sắn – tổ trưởng tuần tra Đội 3.
Hóa ra lúc nãy, khi thấy bóng người lén lút ngoài bờ rào, bác Cả Sắn đã bí mật chạy đi báo động cho Ban Quản trị. Ông Khoát nghe tin có kẻ dắt trâu bệnh vào làng thì sợ đến mức mặc vội chiếc áo đại hàn chưa kịp cài hết khuy, tất tả cùng dân quân chạy xuống hiện trường.
Vừa bước chân vào chòi canh, nhìn thấy con trâu Đội 1 đang nằm th* d*c với bốn chân quấn bao tải và Đặng Tiết đang quỳ sụp dưới đất, mặt ông Khoát cắt không còn hột máu. Chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo ông lắc lư theo từng nhịp thở dồn dập.
“Trời đất ơi… Rõ ràng là lở mồm long móng rồi!” Ông Khoát ôm lấy trán, giọng run rẩy như sắp khóc. “Thế là hết… Huyện Thụy Hương bên cạnh vừa chết trắng hơn hai trăm con trâu bò… Giờ nó tràn sang đến tận An Hòa rồi! Vụ chiêm xuân này lấy cái gì mà cày bừa? Lấy cái gì mà nộp chỉ tiêu lương thực cho nhà nước đây trời ơi!”
Sự hoảng loạn của người đứng đầu hợp tác xã khiến hai anh dân quân trẻ tuổi cũng tái mặt, nắm chặt báng súng lúng túng.
“Chủ nhiệm bình tĩnh đã!” Bình bước tới, giọng nói trầm ổn, đanh thép của anh như một chiếc neo vững chắc giữ cho con thuyền khỏi chao đảo giữa cơn bão táp. “Mầm bệnh ở con trâu này đã được vợ chồng tôi khống chế và cách ly an toàn tuyệt đối dưới bãi cát này rồi. Không có một giọt mủ hay vết chân trâu bệnh nào lọt vào trong xóm Đội 3 đâu!”
Lúc này, Đặng Tiết bò lết tới chân ông Khoát, khóc lóc thảm thiết:
“Báo cáo… báo cáo đồng chí Chủ nhiệm… Tôi có tội… Đội 1 bị dịch ba ngày nay rồi… Thằng Thuận nó giấu… Hiện trong chuồng Đội 1 đã có năm con bị liệt nằm chờ chết… Tôi… tôi trót dại…”
“Cái gì?! Năm con nữa?!”
Ông Khoát loạng choạng lùi lại hai bước, nếu không có anh dân quân đỡ thì ông đã ngã ngửa ra đống rơm. Cơn giận dữ bốc lên ngùn ngụt, ông giơ ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Đặng Tiết:
“Quân… quân khốn nạn! Đồ phá hoại! Các người vì cái ghế đội trưởng, vì mấy cái điểm thi đua hình thức mà nỡ lòng nào giấu dịch bệnh để g**t ch*t cả hợp tác xã này à? Đội 1 có ba mươi hai con trâu cày, giấu ba ngày thì cả cái chuồng ấy coi như vứt đi rồi! Dân An Hòa vụ này ăn cám hết cả lũ rồi!”
Giữa lúc ông Khoát đang rơi vào tuyệt vọng cùng cực, Hoài An từ tốn bước ra, tay vẫn còn cầm chiếc thìa gỗ dính mật mía và nghệ. Cô nhìn thẳng vào vị Chủ nhiệm già đang hoang mang tột độ, giọng nói rõ ràng, rành mạch từng câu từng chữ:
“Báo cáo đồng chí Chủ nhiệm! Tình hình rất nguy cấp, nhưng chưa phải là đã hết cách.”
Ông Khoát quay phắt lại, nhìn An như nhìn vào một chiếc phao cứu sinh cuối cùng: “Cô An… Cô bảo sao? Chưa hết cách là thế nào? Thuốc thú y của huyện đã cạn kiệt từ tuần trước, trên tỉnh thì không có hàng chi viện… Lấy cái gì mà chữa cho cả đàn trâu đang thối móng rữa miệng?”
An chỉ tay vào con trâu đang nằm nhai trệu trạo ngụm cháo loãng dưới chân:
“Chủ nhiệm nhìn xem, con trâu này của Đội 1 lúc nửa đêm đã sốt co giật, móng bong tróc và họng tắc nghẽn sắp chết. Nhưng chỉ cần dùng đúng phác đồ thảo dược và khoáng chất tự nhiên: tro bếp hút mủ sát trùng móng, phèn phi làm se niêm mạc loét, củ nghệ già tiêu viêm kháng khuẩn và mật mía bọc lót chống rát, nó đã hạ sốt và bắt đầu ăn uống được. Bệnh lở mồm long móng là do tà khí dịch độc phát tác qua đường niêm mạc và móng chân. Trâu chết chủ yếu không phải vì bản thân mầm bệnh, mà chết vì đói, vì khát do họng loét không nuốt được, và chết vì nhiễm trùng máu khi vết loét ở chân bị giòi bọ, vi khuẩn xâm nhập trong điều kiện chuồng trại ẩm thấp, rét buốt!”
Từng lời của An như những luồng ánh sáng soi rọi vào mớ bòng bong tăm tối trong đầu ông Khoát. Vốn là người xuất thân từ nông dân, từng lội ruộng cày bừa, ông Khoát nghe qua là hiểu ngay cái lý lẽ thực tế và vô cùng khoa học ẩn sau những vị thuốc dân dã ấy.
“Cô… cô nói thật chứ?” Mắt ông Khoát sáng bừng lên, tia hy vọng le lói bùng cháy. “Cách này… có thể cứu được năm con trâu đang nằm liệt bên Đội 1 thật sao?”
“Không chỉ cứu năm con đó, mà phải phòng ngừa khẩn cấp cho hai mươi bảy con còn lại trong chuồng Đội 1 và toàn bộ đàn trâu của Đội 2!” Bình tiếp lời vợ, giọng dứt khoát như đang giao nhiệm vụ trước giờ nổ súng. “Nhưng muốn làm được, phải hành động ngay trong đêm nay. Phải phong tỏa toàn bộ khu vực Đội 1, rải vôi bột lập chốt kiểm soát, cách ly triệt để từng con trâu ốm, và quan trọng nhất: Ban Quản trị phải thống nhất một đầu mối chỉ huy, không được để tình trạng giấu giếm, làm ẩu tiếp diễn!”
Ông Khoát hít một hơi thật sâu. Bao nhiêu sự giáo điều, bảo thủ, bệnh thành tích tích tụ bao năm qua trong con người ông lúc này hoàn toàn bị gạt phăng trước bờ vực sinh tử của hợp tác xã. Ông nhìn Bình – người cựu chiến binh bản lĩnh, cương trực; rồi nhìn An – người phụ nữ thông tuệ, dũng cảm và tràn đầy lòng nhân ái.
Không một chút do dự, ông Khoát bước tới, nắm chặt lấy tay Bình và An, giọng xúc động nghẹn ngào:
“Đồng chí Bình! Cô An! Thay mặt cho Ban Quản trị Hợp tác xã An Hòa, tôi trao toàn quyền chỉ huy mặt trận phòng chống dịch bệnh này cho hai vợ chồng đồng chí! Tôi sẽ phát lệnh báo động toàn xã ngay lập tức. Cần bao nhiêu vôi bột, bao nhiêu rơm rạ, bao nhiêu nhân lực thanh niên dân quân, hai đồng chí cứ việc điều động! Miễn sao… miễn sao cứu lấy đàn trâu, cứu lấy vụ mùa cho bà con!”
“Rõ! Chúng tôi xin nhận nhiệm vụ!” Bình đứng nghiêm, siết chặt bàn tay vị Chủ nhiệm già.
Ngay trong đêm tối buốt giá ấy, guồng máy của xã An Hòa lập tức chuyển mình. Tiếng kẻng báo động từ đình làng gióng lên từng hồi dồn dập, xé tan màn sương mù dày đặc. Lệnh phong tỏa Đội 1 được ban bố khẩn cấp. Bình trực tiếp chỉ huy đội dân quân lập rào chắn bằng vôi bột quanh chuồng trâu Đội 1, cách ly năm con trâu phát bệnh nặng ra khu vực riêng, đồng thời bắt đầu áp dụng phác đồ rửa móng bằng nước lá bàng đặc và bôi cao mật nghệ phèn phi theo đúng chỉ dẫn của An.
Suốt từ nửa đêm đến lúc rạng đông, An và Bình không chợp mắt lấy một phút. Họ lặn lội giữa những chuồng trâu ẩm ướt, đôi tay dính đầy tro vôi, nghệ vàng và dịch thuốc, tận tình cứu chữa từng con vật, hướng dẫn từng xã viên cách chăm sóc giữ ấm. Đến khi vệt sáng màu xám tro của ngày mới bắt đầu rạng lên ở chân trời phía đông, tình hình ổ dịch nguy hiểm ở Đội 1 bước đầu đã được khống chế trong tầm kiểm soát, không một con nào bị chết thêm, những con ốm nặng nhất đã bắt đầu nhai được rơm ấm tẩm nước muối gừng.
Mưa phùn đã ngớt hạt, nhưng cái rét căm căm vẫn như kim châm vào da thịt.
Bình kéo chiếc khăn len quấn lại cổ cho An, xót xa nhìn gương mặt hốc hác, quầng mắt thâm quầng vì thức trắng đêm của vợ:
“Xong đợt sơ cứu ban đầu rồi, em về nhà ngả lưng một lát đi. Việc còn lại ở chuồng Đội 1 cứ để anh với bà con lo.”
An ngước nhìn chồng, nở một nụ cười mệt mỏi nhưng ngập tràn sự thanh thản: “Thấy trâu nuốt được thuốc là em mừng rồi. Mình cũng thức trắng cả đêm, chân lại đau…”
Hai vợ chồng đang cùng nhau bước dọc con đường liên thôn hướng về phía ngã ba đình làng thì bỗng nhiên, từ phía trục đường liên huyện chạy qua đầu xã, một chuỗi âm thanh gầm rú nặng nề, dồn dập vang lên.
“Rầm… rầm… ù… ù…”
Mặt đất rung chuyển nhè nhẹ. Bình giật mình khựng lại, đôi tai người lính lập tức phân biệt được tiếng động cơ quen thuộc: đó là tiếng gầm của những chiếc xe tải quân sự hạng nặng Zil-130 và Gaz-66!
Giữa màn sương sớm bảng lảng, một đoàn xe vận tải quân sự gồm sáu chiếc phủ bạt xanh kín mít, trên mui xe cắm cờ đỏ sao vàng cắm nghiêng, đang lừng lững tiến vào đường làng An Hòa. Qua những mép bạt rung lên bần bật trong gió rét, có thể nhìn thấy rõ những gương mặt lính trẻ măng, mặc những chiếc áo trấn thủ mỏng manh, vai đeo ba lô con cóc, súng trường khoác chéo trước ngực. Đó là những tân binh tuổi mười chín, đôi mươi đang trên đường hành quân thần tốc chi viện cho mặt trận biên giới phía Bắc!
Nhưng khi chiếc xe đi đầu vừa tiến đến khoảng sân rộng trước cổng đình làng An Hòa thì bỗng nhiên khựng lại.
“Khẹc… khẹc… ục!”
Một luồng khói đen đặc phụt ra từ ống xả phía sau. Chiếc xe rung bần bật một hồi rồi lịm hẳn tiếng máy, chết đứng ngay giữa tim đường ray trơn trượt giữa trời đông giá buốt.
Bình và An đứng sững lại, ánh mắt hai người cùng hướng về phía đoàn xe quân sự đang bị kẹt cứng giữa tiết trời buốt giá thấu xương.