16
Ba năm đầu ở bệnh viện huyện, tôi gần như sống luôn tại khoa.
Khoa Phụ sản thiếu người, một mình tôi làm việc bằng hai. Ban ngày khám ngoại trú, tối trực cấp cứu, phòng sinh gọi là có mặt ngay.
Một đêm mùa đông năm 68, có một sản phụ bị bệnh nặng được chuyển từ vùng núi xuống. Chứng sản giật, huyết áp vọt lên hơn hai trăm, co giật không ngừng.
Bác sĩ trực hôm đó là một nam bác sĩ trẻ, mới được phân công từ tỉnh về không lâu, lý thuyết trong sách giáo khoa thì thuộc lòng, nhưng tình huống này cậu ta chưa từng gặp.
Cậu ta hoảng sợ.
Lúc tôi chạy đến, tay cậu ta đầy mồ hôi, miệng lầm bầm lật giở cuốn sổ tay.
"Bác sĩ Tống, chuyện này... chuyện này tôi không chắc lắm, có nên chuyển lên bệnh viện tỉnh không?"
Chuyển lên tỉnh? Hơn tám mươi dặm đường núi, nhiệt độ âm mười mấy độ, sản phụ còn chẳng thể lên nổi xe.
"Không kịp đâu."
Tôi rửa tay, khoác áo blouse trắng rồi bước vào phòng sinh.
Đêm đó, tôi nhớ lại tất cả những gì mọi người từng dạy mình.
Thứ thảo dược cha tôi dạy nhận biết.
Cuốn sách giáo khoa cô giáo Tề tặng tôi.
Lời dặn của chú Trần: "Ra tay phải chắc, không được hoảng".
Phương pháp cấp cứu bác sĩ Giang giảng trong lớp đào tạo.
Kỹ thuật châm cứu mà bác sĩ Hứa bắt tôi luyện đi luyện lại.
Từng động tác đỡ đẻ mà giáo sư Mạnh đã chỉnh sửa cho tôi.
Và bốn mươi bảy đứa trẻ chào đời trong núi ấy – đứa nào cũng dạy tôi thêm được chút gì đó.
Trời sáng, sản phụ qua cơn nguy kịch, đứa trẻ cũng được giữ lại.
Bác sĩ trực trẻ tuổi đứng sau lưng tôi, nhìn tôi dùng nước ấm lau mặt cho sản phụ, đôi tay cậu ta vẫn còn run.
"Bác sĩ Tống... sao chị bình tĩnh thế?"
Tôi vắt khô khăn, đắp lên trán sản phụ.
"Vì hoảng loạn chẳng giúp ích được gì cả."
---
17.
Năm 69, huyện tổ chức đại hội biểu dương.
Tôi được bình chọn là "Nhân viên y tế tiên tiến" toàn huyện.
Lễ tuyên dương tổ chức tại Hội trường Nhân dân huyện, băng rôn đỏ giăng trên sân khấu, bên dưới có ba bốn trăm người. Đại diện các đơn vị đều có mặt – hậu cần, công xã, nhà máy mỏ, trường học, bộ đội.
Khi bước lên nhận giải, tôi mặc chiếc áo blouse trắng đã giặt đến bạc màu nhưng được ủi phẳng phiu.
Người dẫn chương trình đọc thành tích của tôi: "Đồng chí Tống Quế Trân, từ khi tham gia đào tạo bác sĩ chân đất năm 1963, đã cắm chốt tại cơ sở sáu năm liền, đỡ đẻ thành công 73 ca, trong đó cứu sống 11 ca nguy kịch, không xảy ra một tai biến y khoa nào..."
Tiếng vỗ tay bên dưới vang dội.
Lúc nhận tấm bằng khen, tôi vô tình liếc nhìn đám đông bên dưới.
Trong hàng đại diện bộ đội, tôi thấy một gương mặt quen thuộc.
Triệu Trường Quân.
Cậu ta mặc quân phục – cậu ta cũng đã tòng quân rồi. Trông cậu ta lớn hơn nhiều, vai rộng ra, đường nét cằm cứng cáp hơn, chẳng còn là đứa trẻ nửa lớn nửa bé đứng ở cửa ngập ngừng gọi "chị dâu" ngày nào nữa.
Thấy tôi lên sân khấu, cậu ta ngẩn người, rồi ra sức vỗ tay.
Tiếng vỗ tay vang vọng khắp hội trường.
Tôi không nhìn cậu ta.
Tôi nhìn gương mặt những nữ đồng chí bên dưới – có người làm ở căng tin, người ở nhà máy dệt, cửa hàng cung tiêu, có những người cũng giống như tôi, bước ra từ những khe núi nghèo khó.
Tôi chợt nhớ đến bốn chữ mà cô Tề đã viết trong buổi học đầu tiên ở lớp bổ túc văn hóa: Tự lực cánh sinh.
Và cả lời cô dặn: "Không phải vì chồng các cô, không phải vì con cái các cô, mà là vì chính bản thân các cô."
Tôi đứng trên bục, tay ôm bằng khen, trên ngực cài đóa hoa hồng lớn.
Tiếng vỗ tay dưới khán đài vang lên không ngớt.
Tôi mỉm cười.
Đây là lần tôi cười thoải mái nhất kể từ sau năm hai mươi sáu tuổi.
---
18
Sau buổi tuyên dương, Triệu Trường Quân đứng đợi ở cửa hội trường suốt nửa tiếng đồng hồ.
Khi người chị dâu cũ bước ra từ cửa bên, anh gần như không nhận ra chị.
Chị mặc áo blouse trắng, bên trong là áo sơ mi vải tơ tằm màu xanh, mái tóc cắt ngắn ngang tai. Không còn đen đúa, cũng chẳng còn gầy gò nữa. Dáng người chị đi thẳng tắp, hiên ngang.
Đi cùng chị còn có vài đồng nghiệp, họ trò chuyện rất vui vẻ. Trong đó có một bác sĩ trung niên - chính là người bác sĩ trực ban trẻ tuổi năm xưa, nay đã trở thành cộng sự của chị - đang khom lưng xách giúp chị hộp đựng bằng khen và tài liệu, thái độ vô cùng cung kính.
"Bác sĩ Tống -" Anh vội chạy theo gọi.
Chị dừng bước, liếc nhìn anh.
Ánh mắt bình thản. Không oán hận, cũng chẳng thân thiết. Chỉ là sự bình thản đến lạ.
"Trường Quân, cậu cũng đi bộ đội rồi à."
"Vâng. Năm ngoái em nhập ngũ." Anh xoa xoa hai bàn tay, ngập ngừng nói: "Bác sĩ Tống, anh cả em..."
"Anh cả cậu sao rồi?"
"Anh ấy..." Triệu Trường Quân nuốt khan, "Việc lên chức của anh ấy cuối cùng cũng xong xuôi từ năm ngoái. Lên Chính doanh rồi. Nhưng lại bị điều đến đoàn biên phòng ở Tây Bắc, điều kiện ở đó khắc nghiệt lắm."
Tôi gật đầu: "Vậy thì tốt quá, Chính doanh, anh ta đã đợi mong ngày này từ lâu rồi."
Triệu Trường Quân nhìn tôi, có vẻ không ngờ tôi lại bình tĩnh đến thế.
"Anh ấy... còn một việc nữa." Anh do dự một chút, hạ thấp giọng xuống: "Anh ấy bảo em nhắn với chị một câu - nếu như gặp được chị."
"Lời gì?"
Triệu Trường Quân hít một hơi thật sâu.
"Anh ấy nói: Quế Trân, những năm qua vất vả cho cô rồi."
Gió từ cửa hội trường thổi qua, làm vạt áo blouse trắng của tôi bay nhẹ.
Câu nói này.
Tôi đã đợi bốn năm, nhưng không nhận được.
Lại thêm sáu năm nữa trôi qua, cuối cùng lại nghe được từ miệng người khác.
Tôi rũ mắt xuống.
Im lặng chừng mười giây.
Sau đó, tôi ngẩng đầu lên, mỉm cười nhạt với Triệu Trường Quân.
Nụ cười đó rất nhẹ, rất nhạt.
Tựa như mầm cỏ đầu tiên nhú lên dưới lớp tuyết trong khe núi tháng Ba.
"Thay tôi cảm ơn anh ấy." Tôi nói, "Nhưng mà, câu này đến muộn quá rồi."
Hốc mắt Triệu Trường Quân đỏ ửng.
Tôi nhìn anh, nói thêm một câu nữa -
"Cũng nhắn với anh ấy rằng - bảy trăm mười bốn đồng ba hào đó, tôi nhận được rồi. Nợ nần thanh toán xong. Từ nay về sau, ai nấy đều sống tốt phần mình."
Tôi quay người bước đi.
Bóng dáng trong chiếc áo blouse trắng khuất dần nơi cuối phố trong buổi hoàng hôn mùa đông.
Triệu Trường Quân đứng tại chỗ, hồi lâu vẫn không cử động.
Anh bỗng nhớ lại buổi sáng sáu năm trước, ngày chị dâu rời khỏi nhà họ Triệu.
Anh đứng ở cửa, muốn nói gì đó mà lại thôi.
Khi chị dâu đi ngang qua đầu làng, trời còn chưa sáng. Chị khoác chiếc tay nải, bước đi trên con đường đất đã đóng băng, nhịp bước rất chậm, nhưng chưa một lần ngoảnh lại.
Đó là lần đầu tiên anh nhận ra - có những người khi đã bước đi rồi, là sẽ thật sự không bao giờ trở lại nữa.
---
19
Năm 1970.
Tin tức của Thẩm Lệ Hoa truyền đến.
Tin tức này là do Cán sự Phương viết thư kể cho tôi - không phải tôi đi dò hỏi đâu, mà là bà ấy thấy tôi nên biết chuyện này.
Sau ba năm ở Tây Bắc, Thẩm Lệ Hoa lấy một người là chủ nhiệm cửa hàng cung tiêu ở đó. Nghe đâu cuộc sống cũng chẳng mấy êm đẹp, ông chồng đó nóng tính, hở tí là đập phá đồ đạc. Cuối cùng cô ta ly hôn, lặn lội đi về phía Nam, làm vai phụ trong một gánh hát nhỏ.
Cán sự Phương viết trong thư: "Nghe nói giờ cô ta già nua tiều tụy lắm, chẳng còn dáng vẻ uốn tóc, mặc áo kiểu Lenin như năm nào nữa. Người ta bảo, rốt cuộc thì vận mệnh cũng công bằng cả thôi."
Tôi đọc xong thư, lòng không có cảm giác gì đặc biệt.
Chẳng vui, cũng chẳng thấy đồng cảm.
Cô ta đi đường cô ta, tôi đi đường tôi. Cuộc đời chúng tôi đã rẽ nhánh tại cái ngã ba năm 63 ấy, từ đó về sau là hai dòng sông hoàn toàn khác biệt.
Tôi gấp lá thư lại, kẹp dưới gối.
Rồi mở một cuốn tạp chí chuyên ngành sản phụ khoa mới nhận được ra đọc tiếp.
Ngoài cửa sổ đang đổ mưa. Tôi pha một tách trà mạn thầy Tề gửi đến, lá trà xoay vòng vòng trong chiếc ca tráng men.
Đời là của mình, ngày nào cũng là một khởi đầu mới.
---
20.
Năm 72.
Dự án của Bệnh viện Phụ sản Bảo vệ Sức khỏe tỉnh cuối cùng cũng khởi động.
Lần này, đích thân giáo sư Mạnh xuống tận huyện tìm tôi.
"Quế Trân, năm năm trước tôi gọi cô đi, cô bảo muốn ở lại cơ sở cho vững đã. Giờ năm năm trôi qua rồi, thành tích của cô tại bệnh viện huyện cả tỉnh này đều nhìn thấy rõ. Tôi không khách sáo với cô nữa - dự án này cần cô."
Bà đặt tờ quyết định bổ nhiệm trước mặt tôi.
"Phó giám đốc Trung tâm Đào tạo Vệ sinh Phụ sản Nông thôn tỉnh. Phụ trách công tác đào tạo nhân viên đỡ đẻ và cán bộ bảo vệ sức khỏe phụ nữ ở các vùng nông thôn trong toàn tỉnh."
Phó giám đốc.
Tôi nhìn ba chữ đó, đầu ngón tay hơi tê dại.
"Giáo sư Mạnh, tôi chỉ có cái nền là lớp đào tạo bác sĩ chân đất thôi ạ -"
"Cô có chín năm kinh nghiệm ở cơ sở." Giáo sư Mạnh ngắt lời tôi, "Cô biết sản phụ nông thôn cần gì, cô biết trạm y tế cơ sở thiếu những gì. Những thứ đó, trong sách vở không có đâu."
Bà nhìn thẳng vào mắt tôi.
"Quế Trân, năm xưa cô từng nói với Đào Mẫn một câu - cô muốn làm một người thầy thuốc chân chính. Nhưng tôi thấy cô có thể làm được nhiều hơn thế. Cô có thể giúp cho biết bao người phụ nữ không phải chờ đợi mòn mỏi bên ngoài phòng sinh mà không gặp được bác sĩ."
Tôi ký vào tờ bổ nhiệm.
Ngày rời bệnh viện huyện, các đồng nghiệp khoa sản đứng xếp hàng ở cửa để tiễn tôi. Cậu bác sĩ trực năm nào từng cuống quýt lật sổ tay - giờ đã là bác sĩ điều trị chính đứng vững một phương - nắm c.h.ặ.t t.a.y tôi lắc mạnh.
"Bác sĩ Tống, cháu là người được cô dìu dắt. Sau này khoa có cháu lo, cô cứ yên tâm ạ."
Tôi vỗ vỗ vai cậu ấy: "Đừng chỉ dựa vào sách vở, chịu khó xuống nông thôn mà xem thực tế nhé."
Cậu ấy đỏ mặt cười.
Cán sự Phương cũng tới. Bà ấy già hơn mười năm trước, tóc mai đã lấm tấm bạc, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời như xưa.
Bà ôm lấy vai tôi - y hệt như mười năm trước ở bến xe khách.
"Quế Trân à, nhìn xem." Giọng bà nghẹn lại, "Mười năm trước khi đi khỏi chỗ tôi, trong túi cô còn chẳng có nổi mười đồng. Thế mà giờ đã là Phó giám đốc cấp tỉnh rồi."
Tôi cười: "Đều nhờ có chị giúp cả. Nếu không nhờ chị giới thiệu cho công việc ở nhà ăn, giới thiệu lớp học buổi tối -"
"Thôi đi," bà xua tay, "đường là do cô tự bước. Tôi chỉ là người mở cửa thôi. Có bước vào hay không, đi thế nào, đều là chuyện của bản thân cô cả."
Bà buông tôi ra, lùi lại một bước, nhìn tôi thật kỹ.
"Quế Trân, cô còn nhớ ngày đầu tiên đến Hội Phụ nữ, tôi đã hỏi cô 'ly hôn rồi cô định sống thế nào' không?"
"Nhớ chứ ạ."
"Cô bảo: 'Tôi sống cho chính mình.'"
Bà cười, những nếp nhăn nơi đuôi mắt xô cả vào nhau.
"Cô làm được rồi."