Diện mạo y so với lúc mới vào phủ đã gầy đi trông thấy, dung tư vốn dĩ diễm lệ nay cũng hao tổn mất vài phần, không còn vẻ kiều diễm như xưa.
Dạo gần đây Lâm Thư Ngữ chẳng ăn uống được gì, mỗi ngày đều chỉ có cháo trắng với rau xào. Nha hoàn hầu hạ y là Lục La phải ăn uống cùng phòng, tự nhiên cũng không có món gì ngon, sau lưng cứ oán trách liên miên.
“Lục La, sắc trời tối rồi, đi thắp đèn lên đi.” Lâm Thư Ngữ liếc nhìn nàng ta một cái rồi bảo.
Lục La là hạng người thiếu tinh ý, tuy vì Lâm Thư Ngữ đang mang thai mà ngoài mặt tỏ vẻ cung kính, nhưng nếu y không mở miệng sai bảo thì nàng ta cũng chẳng chủ động làm việc. Trong phòng đã tối om thế kia mà nàng ta vẫn không nhớ đến chuyện thắp đèn.
Lục La lúc này mới không tình nguyện đi xuống bếp lấy gậy đánh lửa, đốt sáng từng chiếc đèn lồng trong sương phòng, lại rút chiếc trâm bạc trên đầu ra khều bấc đèn cho sáng hơn.
Mấy nha hoàn từ ngoài bước vào tây sương phòng, hành lễ với Lâm Thư Ngữ rồi nói: “Lâm tiểu ca nhi, chủ tử mời ngươi qua hậu viện một chuyến.”
Lục La nghe vậy liền mừng rỡ ra mặt, định bụng sẽ trang điểm lại cho Lâm Thư Ngữ thật lộng lẫy.
Nàng ta nghe đồn lúc ở biệt uyển Lâm Thư Ngữ rất được sủng ái, vậy mà từ lúc trở về đến nay, dẫu đã mang thai nhưng Tạ đại công tử lại chưa từng truyền y đến gặp mặt lấy một lần.
Lục La còn ngỡ Lâm Thư Ngữ đã thất sủng nên mới bị người ta vội vã đưa từ biệt uyển về đây, không ngờ hôm nay Tạ đại công tử lại chịu gặp y, chứng tỏ Lâm Thư Ngữ vẫn còn vị trí trong lòng hắn.
Thấy Lục La sốt sắng muốn tô son điểm phấn cho mình, Lâm Thư Ngữ chỉ cười lạnh một tiếng, nhàn nhạt từ chối.
Y chỉ khoác thêm chiếc áo ngoài rồi bước ra cửa, Lục La định cất bước đi theo thì bị hai nha hoàn kia đưa tay cản lại: “Thiếu gia chỉ truyền một mình Lâm tiểu ca nhi, người làm bên cạnh khi chưa có lệnh không được phép đến hậu viện quấy rầy, ngươi cứ ở đây đợi đi.”
Lục La ngẩn người, sắc mặt cứng đờ nhìn theo bóng lưng Lâm Thư Ngữ, đành phải hậm hực quay vào phòng.
Nhìn bộ dạng kiêu căng ngạo mạn, hoàn toàn không xem mình ra gì của hai nha hoàn kia, nàng ta càng thêm tức tối, thầm tính ngày mai phải tranh thủ lên huyện tìm trạm dịch để gửi tin tức Lâm Thư Ngữ mang thai về cho Tạ phu nhân.
Tạ đại công tử dù có ngạo mạn đến đâu thì chẳng phải vẫn bị Tạ phu nhân nắm thóp trong lòng bàn tay đó sao? Lục La thầm nghĩ.
Lúc mới đến đây, nàng ta vốn cũng có chút tâm tư riêng, nghĩ bụng nếu dựa dẫm được vào Tạ đại công tử để kiếm một chân thiếp thị hay thông phòng thì cũng tốt.
Thế nhưng ở Tạ gia lâu như vậy, Tạ đại công tử trước sau chưa từng cho nàng ta một sắc mặt tốt. Lục La đành một lòng một dạ đầu nhập dưới trướng Tạ phu nhân, cứ cách mười ngày nửa tháng lại mật báo hành tung của Tạ Hòe Ngọc về kinh một lần.
Lâm Thư Ngữ đi tới hậu viện, được dẫn vào một căn phòng trống.
Gian phòng này bày biện đồ đạc vô cùng đầy đủ nhưng lại phủ một lớp bụi mờ, chứng tỏ đã lâu không có người ở.
Lâm Thư Ngữ được xếp ngồi đợi ở bên trong, một nha hoàn bưng lên chút trà bánh thanh đạm rồi cũng đóng cửa lui ra ngoài.
Y ngồi đợi rất lâu, mắt thấy vầng trăng đã nhô lên cao rồi treo lơ lửng giữa trời đêm.
Trong lúc rảnh rỗi, Lâm Thư Ngữ uống không ít nước trà, còn phải đứng dậy đi tiểu giải một lần.
Đến lúc mí mắt đã trĩu nặng chịu không nổi, đầu cứ gật gù liên tục thì y mới nghe thấy tiếng cửa phòng bị đẩy ra.
Y giật mình tỉnh táo hẳn, cứ ngỡ Tạ Hòe Ngọc đã đến.
Nào ngờ người bước vào lại là Tiểu Thụ, trên tay bưng chiếc khay đựng vài thứ thuốc bổ thượng hạng, bước đến trước mặt y nói: “Lâm tiểu ca nhi, đã lâu không gặp.”
Thấy người đến là Tiểu Thụ, Lâm Thư Ngữ lập tức rũ bỏ chút tinh thần vừa nãy, cũng chẳng buồn giả vờ nữa, chỉ uể oải bảo: “Cậu đến đây làm gì? Định đưa ta về sao? Vở kịch này các người diễn cũng đạt thật đấy, Tạ công tử đã không muốn gặp ta, thế mà còn bày đặt gọi ta ra hậu viện ban thưởng, cốt để làm màu cho Lục La xem đúng không.”
Nghe Lâm Thư Ngữ nói vậy, Tiểu Thụ cười lạnh một tiếng: “Ngươi giờ đã mang thai thì chính là người chung thuyền với chúng ta rồi. Nếu ngươi không phối hợp hành sự, chúng ta hoàn toàn có thể giao ngươi cho Tạ phu nhân, nói rõ thân phận của đứa trẻ này, để xem lúc đó ngươi có còn giữ nổi mạng nhỏ này không?
”
Lâm Thư Ngữ nghe xong, nét mặt lộ rõ vẻ u uất, tự cảm thấy thân thế mình thật quá đỗi bẽ bàng, đường đường là thân cành vàng lá ngọc sinh ra mà nay lại sa sút đến nông nỗi này.
Tiểu Thụ thấy vậy liền bảo: “Ngươi cũng đừng cảm thấy ủy khuất, tuy ngươi do Tạ phu nhân đưa tới, thân bất do kỷ, nhưng nếu ngươi cứ thành thành thật thật ở tiền viện làm việc thì thiếu gia nhà ta trạch tâm nhân hậu, tuyệt đối không làm khó ngươi. Ngược lại chính ngươi tự tiện xông vào bếp sau, khiến ba bà tử, hai nha hoàn cùng một gã sai vặt trong bếp đều bị bán sống bán chết ra ngoài, họ đều là những người làm lụng lâu năm ở Tạ gia, giờ họ biết đi đâu mà đòi lại công lý?”
Lâm Thư Ngữ mặt cắt không còn giọt máu, nghẹn ngào: “Ta… ta thật sự không cam tâm… Xét về tư sắc lẫn tài tình, ta có điểm nào kém cỏi, cớ sao Tạ công tử đến một cái liếc mắt cũng chẳng màng bố thí cho ta, mà lại đi chung tình với một ca nhi thôn quê thô kệch chứ!”
Tiểu Thụ chẳng thèm đôi co, chỉ đặt chiếc khay lên bàn rồi nhàn nhạt nói: “Thứ này ngươi cầm về đi, sau này cứ cách năm ngày lại sang đây một chuyến, đợi đủ thời gian rồi hãy quay về.”
Nói đoạn, Tiểu Thụ quay người đẩy cửa bước ra, nhưng đến ngưỡng cửa thì dừng bước, ngoảnh đầu nhìn Lâm Thư Ngữ: “Ta tuy không biết vì sao thiếu gia lại nhìn trúng Bạch tiểu ca nhi, nhưng có một điều ta chắc chắn, Bạch tiểu ca nhi tốt hơn ngươi gấp vạn lần. Y đối với thiếu gia là chân tình thành ý, kính trọng yêu thương. Nếu ta là thiếu gia, đặt ngươi và Bạch tiểu ca nhi lên bàn cân, ta cũng chọn y chứ quyết không chọn ngươi.”
·
Tháng bảy âm lịch, thôn Bạch Đường đón một tin hỷ.
Ca nhi nhà Bạch lão tam xuất giá, gả cho một đại thương nhân họ Hoàng trên phủ thành làm thiếp.
Vì là nạp thiếp nên dĩ nhiên chẳng có hôn thư chính thức gì, đôi bên chỉ đến nhà Bạch Bảo Sơn lập một tờ công văn, ghi rõ từ ngày tháng năm này trở đi, Bạch Hòa chính thức trở thành thiếp thất nhà Hoàng lão gia, sau này dù sống hay chết cũng không còn liên can gì đến nhà Bạch lão tam nữa.
Chẳng biết vị đại lão gia kia có phải thật lòng sủng ái Bạch Hòa hay không mà dẫu chỉ là nạp thiếp, lão cũng cho nhà Bạch lão tam một phen nở mày nở mặt với xóm giềng.
Ngoài đống quần áo lụa là cùng trang sức đã tặng trước đó, vào ngày rước dâu, Hoàng lão gia còn thuê hẳn một phường nhạc, đánh trống thổi kèn tưng bừng khắp đường làng ngõ xóm trước sự chứng kiến của toàn thể dân thôn Bạch Đường.
Lão còn sai hai gã sai vặt bưng một chiếc khay phủ vải đỏ, bên trong xếp ngay ngắn một trăm lượng bạc trắng phau.
Bạch lão tam được một phen phổng mũi, Bạch Trâu thị lại càng đắc ý ra mặt. Hai vợ chồng diện bộ quần áo mới tinh do Hoàng lão gia sắm sửa cho, hớn hở đứng đón khách ở ngay cổng hông.
Một loáng sau, Bạch Đạo đã cõng Bạch Hòa từ trong phòng bước ra.
Ngày đại hỷ, Bạch Hòa khoác lên mình chiếc áo màu thủy hồng, người đeo đầy trang sức bằng bạc, gương mặt được bà đỡ đánh phấn trắng bệch như vôi.
Được huynh trưởng cõng trên lưng, trong lòng hắn không giấu nổi vẻ đắc ý, vừa nhác thấy Lý Tam Lang cũng đang đứng xem trong đám đông, hắn liền hếch cằm lườm nguýt một cái đầy khiêu khích.
Lý Tam Lang thấy vậy thì sắc mặt tối sầm, hừ lạnh một tiếng rồi quay ngoắt vào nhà.
Bạch Thuật đứng xem mà buồn cười, nghĩ bụng hai kẻ này thật ra vô cùng xứng đôi vừa lứa, chỉ tiếc giờ đây đôi bên đều chướng mắt nhau, đành phải đường ai nấy đi.
Sau khi tiễn Bạch Hòa lên kiệu, nhà Bạch lão tam cũng chẳng để bản thân rảnh rỗi. Dẫu chỉ là gả con làm thiếp, họ vẫn mở tiệc linh đình thiết đãi cả thôn.
Mỗi bàn tiệc đều có đủ tám món, năm chay ba mặn, lại còn có cả sủi cảo nhân thịt.
Sự thể diện này ở thôn Bạch Đường quả thực là xưa nay chưa từng có.
Tất nhiên, số tiền này chẳng phải do họ tự bỏ túi ra, mà đều do vị Hoàng lão gia kia bao trọn gói.
Hầu hết dân làng trong thôn Bạch Đường đều kéo đến góp vui, không tiếc lời chúc tụng tốt đẹp.
Đến cả người nhà Lý tú tài cũng lén lút mò sang đánh chén tì tì mấy bát thịt, kết quả bị Bạch Trâu thị bắt quả tang rồi buông lời mỉa mai cho một trận, đành phải xám xịt cúp đuôi ra về.
Lo liệu xong xuôi hôn sự của Bạch Hòa, Bạch Trâu thị lập tức đi khắp nơi nghe ngóng xem trong vùng có cô nương hoàng hoa khuê nữ nào đến tuổi cập kê hay không, bà ta muốn cưới thêm một phòng vợ kế cho Bạch Đạo.
Nhờ khoản hời một trăm lượng bạc cưới vừa nhận được, những hộ dân trước đây vốn chướng mắt nhà bà ta nay bỗng chốc trở nên đon đả lạ thường. Thậm chí có vài nhà còn tranh nhau muốn gả con gái cho Bạch Đạo, hoàn toàn quên sạch bách việc trước đây chính họ từng chửi rủa Bạch Trâu thị là mụ mẹ chồng độc ác bức tử con dâu, khiến Bạch Thuật được một phen mở mang tầm mắt.
Tối hôm đó khi dùng bữa, Bạch Thuật liền đem chuyện này kể lại cho Tạ Hòe Ngọc nghe.
Vừa nghe nhắc đến vị phú thương họ Hoàng kia, Tạ Hòe Ngọc khẽ nhướng mày, cười lạnh một tiếng: “Vị Hoàng lão gia đó ta có biết, lão khá có tiếng tăm trong giới thương nhân trên phủ thành. Nhưng tên đó chẳng phải hạng lương thiện gì, trong phủ cưới mười mấy phòng thiếp thị nhưng số người sống sót lại chẳng được bao nhiêu. Sau này em có gặp lão thì nhớ né xa một chút, Bạch Hòa gả vào nhà đó e là ngày vui ngắn chẳng tày gang.”
Bạch Thuật giật mình: “Chẳng lẽ Hoàng lão gia kia là kẻ giết người không ghê tay sao?”
Tạ Hòe Ngọc thu lại nụ cười, nghiêm nghị bảo: “Nếu giết người thì quan phủ đã hỏi tội, chỉ sợ lão không trực tiếp ra tay mà lại dùng những thủ đoạn tàn độc khó nói để hành hạ thê thiếp, khiến người ta sống không bằng chết. Những phòng thiếp thị trước đây đa phần đều treo cổ tự vẫn, bấy nhiêu đó đủ hiểu thủ đoạn của lão tàn nhẫn đến mức nào.”
Khi Tạ Hòe Ngọc từ kinh thành xuôi nam, lúc đi ngang qua phủ thành có được vị tri phủ địa phương giữ lại dùng cơm. Trong bữa tiệc năm đó, hắn từng chạm mặt Hoàng lão gia một lần.
Gã đàn ông đó tuổi tác không quá lớn, tầm ngoài ba mươi, nhưng sắc mặt xám xịt, trông rõ vẻ một thân xác đã bị tửu sắc bào mòn đến rỗng tuếch.
Khi ấy bên cạnh lão có dắt theo hai phòng thiếp thị, một nữ tử và một ca nhi, cả hai đều có thần sắc không tự nhiên, suốt buổi tiệc cứ đứng ngồi không yên, run rẩy sợ hãi.
Thấy Tạ Hòe Ngọc đưa mắt nhìn sang, một kẻ nịnh bợ ngồi bên cạnh liền ghé tai kể cho hắn nghe về chiến tích của Hoàng lão gia.
Hóa ra tên họ Hoàng kia là một kẻ b**n th** cuồng dâm, lại thích dùng những trò kỳ quái để hành hạ người khác. Những thủ đoạn của lão tàn bạo đến mức khiến người nghe phải rùng mình nổi gai ốc. Mười mấy phòng thiếp thị cưới về đều bị lão bức tử quá nửa.
Hôm nay nghe Bạch Thuật nhắc đến chuyện Bạch Hòa xuất giá, hắn liền lập tức khớp nối với gã phú thương họ Hoàng này.
Tuy nhiên, Tạ Hòe Ngọc dĩ nhiên không muốn đem những chuyện bẩn thỉu ấy kể chi tiết cho Bạch Thuật nghe để tránh làm ô uế tai cậu, bởi vậy hắn nói năng vô cùng hàm súc.
Bạch Thuật nghe xong vẫn có chút mơ hồ, chỉ lắc đầu cảm thán: “Bạch lão tam và Bạch Trâu thị trước giờ nhìn thì có vẻ rất thương tiếc Bạch Hòa, vậy mà nay lại nhẫn tâm gả hắn cho một kẻ như thế để làm thiếp, tính ra thà cứ nuôi hắn ở nhà còn hơn.”
Tạ Hòe Ngọc thản nhiên đáp: “Thương tiếc cái nỗi gì, chẳng qua là nuôi lớn để gả vào nhà quyền quý kiếm chác chút đỉnh thôi. Mắt thấy mối bên Lý Tam Lang không thành, họ liền vội vàng đổi mục tiêu. Nhận được một đống lợi lộc của Hoàng lão gia như thế, họ còn màng gì đến sống chết của Bạch Hòa nữa.”
Bạch Thuật quay sang nhìn Tạ Hòe Ngọc, chớp chớp mắt nói: “Tạ Hòe Ngọc, huynh tuy sinh trưởng ở phủ bá tước tận kinh thành, thế mà đối với chuyện cưới gả của đám thường dân bách tính lại am hiểu thế nhỉ.”
Tạ Hòe Ngọc nghe vậy thì khẽ nhếch môi, gắp một miếng thức ăn bỏ vào bát cho Bạch Thuật rồi nhàn nhạt bảo: “Chẳng phải ta am hiểu chuyện cưới gả của thường dân, mà là chuyện hôn nhân ở chốn dân dã này suy cho cùng cũng chẳng khác gì việc liên hôn của đám hầu môn huân quý.”
Những gia tộc quyền quý kia, vì muốn mưu cầu lợi lộc hoặc kết giao đồng minh, cũng thường đem những đứa con vốn được nuôi nấng bằng cẩm y ngọc thực của mình ra làm vật tế thần giao dịch với kẻ khác.
Mẫu thân hắn năm xưa chính là một quân cờ được Đường gia đem đi liên hôn với quý tộc. Còn đệ đệ Tạ Lăng của hắn, tuổi còn nhỏ đã bị ép phải tinh thông đủ thứ cầm kỳ thi họa, mục đích chẳng phải vì tốt cho nó, mà là để sau này mang đi liên hôn trông cho có giá hơn mà thôi.
Tạ Hòe Ngọc không muốn bàn luận sâu về những chuyện thương tâm này với Bạch Thuật. Bạch Thuật vốn tự do tự tại như một chú chim trời, muốn đi đâu liền đi đó, thích ai liền có thể đường đường chính chính ở bên người đó.
Cũng chính vì thế mà cậu mới giữ được mảnh xích tử chi tâm thuần khiết như hiện tại. Tạ Hòe Ngọc thích ngắm nhìn dáng vẻ này của cậu, tuyệt đối không muốn để những chuyện trần tục chốn hồng trần làm vẩn đục tâm hồn cậu.
Dùng bữa xong, Tạ Hòe Ngọc mở ngăn kéo lấy ra một chiếc tráp nhỏ bằng gỗ, đặt xuống trước mặt Bạch Thuật: “Em mở ra xem đi.”
Bạch Thuật ngơ ngác mở tráp ra, kinh ngạc phát hiện bên trong là hai chiếc nhẫn vô cùng tinh xảo. Màu sắc của chúng tựa vàng mà không phải vàng, tựa bạc mà chẳng phải bạc, trên mặt mỗi chiếc nhẫn có nạm một viên đá thạch lựu màu đỏ tím sáng loáng đến mức có thể soi bóng người, trông vô cùng lộng lẫy.
Đây chính là hai viên đá thạch lựu thô mà Tạ Hòe Ngọc đã mua tặng cậu trong chuyến đi lên phủ thành hôm trước.
Cặp nhẫn này phải mất khá nhiều thời gian gia công, nay mới hoàn thành, hôm nay hắn mới phái gia đinh lên thợ kim hoàn nhận về.
Bạch Thuật cầm chiếc nhẫn lên gõ gõ thử, phát ra những tiếng “tăng tăng” thanh thúy. Chất liệu của nó hoàn toàn khác biệt với loại trang sức bằng bạc ròng hay vàng ròng thông thường, dường như cứng cáp và sáng bóng hơn rất nhiều.
Tạ Hòe Ngọc giải thích: “Phần thân nhẫn này ta cố ý đặt thợ làm theo phương pháp đúc hợp kim truyền từ nước Sa La ở phía tây sang. Hợp kim này được pha trộn từ bạc trắng, vàng ròng và đồng thau, chất tính của nó vô cùng kiên cố, không dễ bị móp méo hay hư hỏng như vàng hay bạc nguyên chất.”
Bạch Thuật tỏ ra vô cùng thích thú. Nghe qua cách chế tác này, cậu liền đoán được đây chính là thành phần giống như vàng 14K ở thời hiện đại.
Cậu ngày thường hay phải làm lụng chân tay, một chiếc nhẫn hợp kim bền bỉ như thế này là thích hợp nhất, xem ra Tạ Hòe Ngọc đã tinh ý cân nhắc đến điểm này từ trước.
Tạ Hòe Ngọc có vóc dáng cao lớn nên ngón tay cũng thon dài và thô hơn Bạch Thuật một chút.
Bạch Thuật cầm chiếc nhẫn có kích cỡ lớn hơn lên, nhìn hắn bảo: “Tạ Hòe Ngọc, đưa tay đây, ta muốn xem huynh đeo vào trông thế nào.”
Tạ Hòe Ngọc liền ngoan ngoãn chìa bàn tay trái ra, để mặc Bạch Thuật nắm lấy rồi từ từ xỏ chiếc nhẫn vào ngón áp út của hắn.
Nước da Tạ Hòe Ngọc rất trắng, ngón tay lại thon dài quý phái, chiếc nhẫn màu vàng nhạt kết hợp với viên bảo thạch màu tím đỏ càng tôn lên vẻ đẹp thanh lịch của bàn tay hắn.
“Sao lại đeo vào ngón này?” Tạ Hòe Ngọc có chút hiếu kỳ nhìn chiếc nhẫn trên tay mình hỏi.
Hắn thường thấy người ta đeo nhẫn đa phần là ở ngón giữa hoặc ngón trỏ, thế nhưng Bạch Thuật lại như đã định sẵn từ trước, dứt khoát đeo ngay vào ngón áp út của hắn.
“Ta thích huynh đeo ngón này.” Bạch Thuật không thèm bịa ra lý do đao to búa lớn nào cả, chỉ thản nhiên nói một câu theo sở thích của mình.
Nhưng bấy nhiêu đó đã là lý do tuyệt vời nhất rồi. Tạ Hòe Ngọc mỉm cười khẽ, cầm lấy chiếc nhẫn còn lại trong tráp, ân cần đeo vào ngón áp út bàn tay trái của Bạch Thuật.
Làn da Bạch Thuật là màu bánh mật khỏe khoắn, khi đeo chiếc nhẫn màu vàng nhạt này vào lại mang đến một nét cuốn hút rất riêng.
Cậu đặt bàn tay hơi ngăm của mình bên cạnh bàn tay trắng trẻo của Tạ Hòe Ngọc, thâm tâm bỗng dâng lên một cảm giác bình yên đến lạ kỳ, giống như một tảng đá lớn cuối cùng đã được đặt xuống đất một cách vững chãi. Khóe môi cậu khẽ cong lên, nở một nụ cười điềm đạm đầy thỏa mãn.
Thời khắc hoàng hôn buông xuống, bầu trời phía xa được nhuộm một màu yên chi tuyệt đẹp. Ánh ráng chiều từ ngoài cửa sổ hắt vào, in lên gương mặt Bạch Thuật một lớp phấn hồng nhu hòa, tựa như một tấm khăn voan mỏng manh che phủ lên đầu cậu, vừa nhẹ nhàng vừa mềm mại.
Nụ cười của Bạch Thuật ngọt ngào như mật ngọt, ánh mắt lại long lanh ngậm nước, đó là dáng vẻ nhu tình mật ý mà Tạ Hòe Ngọc chưa từng được chiêm ngưỡng trước đây, nhưng lại khiến cõi lòng hắn cảm thấy an tâm đến cực độ.
Trong khoảnh khắc ấy, Tạ Hòe Ngọc bỗng ngẩn ngơ. Hắn chợt thấy Tạ gia ở kinh thành xa xôi cùng những tranh quyền đoạt vị hỗn loạn kia chẳng còn chút ý nghĩa gì nữa, cả những chuyện cũ đau thương, những mối tơ vò rắc rối, hay tiền đồ vinh hoa phú quý cũng chẳng mảy may đáng bận tâm.
Mặc cho dòng thời gian có trôi chảy thế nào, ở chốn thôn dã Bạch Đường nhỏ bé này, cuộc đời này chỉ cần có người này kề cận bầu bạn, một đời bình dị đơn giản như thế là đã quá đủ rồi.