Trở Về Khoảnh Khắc Bạo Quân Cưỡng Đoạt

Chương 67: Quân vô hí ngôn

---

Tạ Lâm Xuyên vừa định triệu phó tướng Địch Dũng đến kiểm kê binh mã, chuẩn bị tiến quân về phương Bắc, thì Địch Dũng đã vội vã tự tìm đến cửa trước một bước.

"Tạ đại nhân, bên ngoài có kẻ cầu kiến, tự xưng là cố nhân của ngài, còn mang theo cả tín vật. Mạt tướng thấy hắn ta hành tung khả nghi nên đã tạm thời giam giữ người." Vừa nói, Địch Dũng vừa cung kính dâng lên một thanh dao găm khảm hồng ngọc có kiểu dáng vô cùng độc lạ để y xem qua.

Ánh mắt Tạ Lâm Xuyên hơi lóe lên, khóe môi chậm rãi cong lên. Quả nhiên là người quen cũ.

"Cho hắn ta vào đi."

Chẳng mấy chốc, Địch Dũng đã dẫn vào một nam tử vóc người cao lớn cường tráng. Kẻ vừa đến gạt chiếc mũ trùm của áo choàng ra, để lộ mái tóc xoăn màu vàng sáng và làn da màu đồng cổ, nơi chân tóc mai còn lấp ló một vết sẹo đao nông hoen nhạt.

Hắn nhìn Tạ Lâm Xuyên nhếch môi cười, trên người còn vương đầy phong sương cát bụi đường dài: "Đã lâu không gặp, Tạ Đình úy. À không, giờ phải gọi một tiếng Xu mật sử đại nhân rồi."

Tạ Lâm Xuyên quan sát hắn một lượt từ trên xuống dưới, không khỏi bật cười đáp: "Ngươi quả nhiên mạng lớn chưa chết, Nhã Nhĩ Tư Lan. Ngươi không ở Khương Nhu kế thừa vương vị, sao lại lưu lạc đến tận chốn này?"

Nhắc tới chuyện vương vị, khóe mắt Nhã Nhĩ Tư Lan bỗng giật mạnh một cái. Hắn cười lạnh nói: "Nếu không phải tại tên đê tiện bại hoại Tạp Tang kia bắt giữ mẫu thân ta, ta cũng chẳng khốn đốn đến mức phải dùng kế giả chết này. Có điều hắn bị ta chém đứt một tay, tình cảnh bây giờ chắc cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Đám thủ lĩnh các bộ tộc bị hắn dùng vũ lực ép buộc quy thuận chưa chắc đã thực lòng nghe lệnh hắn."

"Vốn dĩ ta định đến tìm Diệu đế bệ hạ của các người, đáng tiếc lại đến không đúng lúc. Nhưng thôi, gặp được Tạ đại nhân đây cũng tốt. Chẳng hay quý quốc có còn thừa nhận minh ước kết nghĩa huynh đệ năm xưa hay không?"

Tạ Lâm Xuyên suy tư một khắc: "Chúng ta đương nhiên thừa nhận. Chỉ là, còn phải xem trong tay ngươi hiện giờ có những quân bài gì đã?"

Nụ cười trên môi Nhã Nhĩ Tư Lan càng toét rộng: "Vậy thì tốt quá, Tạ đại nhân. Đã có chung một kẻ thù, chi bằng chúng ta bàn chuyện hợp tác xem sao."

※※※

Thành Bắc Lăng, tòa thành trì lớn nhất nằm trên ranh giới giữa Đại Diệu và Khương Nhu, cũng là cửa ải hiểm yếu mà binh gia tất tranh. Vậy mà những năm trước, nơi đây lại mang dáng vẻ hoang tàn và tiêu điều vì lâu ngày không tu sửa.

Vào triều đại tiền triều Cảnh Quốc, do quốc khố trống rỗng, lại thêm Khương Nhu thế lực hùng mạnh, triều đình thường chọn kế sách nhượng bộ cầu hòa. Hễ quân Khương Nhu xuôi Nam cướp bóc hay tấn công thành trì quan ải, triều đình cuối cùng đa phần đều dùng tiền tài của cải, hoặc đưa công chúa đi hòa thân để dẹp yên chiến sự.

Mà người Khương Nhu cũng đã quá sành sỏi cái đạo cướp giật này, bọn họ gom đủ của cải cùng các nô lệ nữ tử là lập tức rút đi chứ không tiến đánh Trung Nguyên với quy mô lớn. Lâu dần, Cảnh Quốc lại càng không nỡ bỏ tiền túi trong quốc khố ra để sửa sang phòng tuyến thành Bắc Lăng hay nuôi dưỡng tinh binh để chuẩn bị chiến tranh.

Thế nên sau khi Tần Lệ đăng cơ, hắn cũng không thể không giật gấu vá vai, gom góp tiền bạc khắp nơi để trùng tu lại Bắc Lăng được. Đợi đến khi hắn làm vua được một năm, cửa ải biên giới phía Bắc này mới miễn cưỡng có chút quân lực phòng vệ để chống chọi với đại quân Khương Nhu.

Còn bên Khương Nhu thì đã tròn một năm nay mà không kiếm chác được chút lợi lộc nào từ Diệu Quốc, mấy lần Nam hạ cướp bóc đều chịu thiệt thòi ở biên cảnh, chẳng xơ múi được gì.

Lần cướp bóc quy mô lớn duy nhất, khó khăn lắm mới vớ được ít nữ tử và của cải, thế mà vì Nhã Nhĩ Tư Lan thua trận dưới tay Tạ Lâm Xuyên ở kinh thành rồi ký vào hòa ước nên đành phải ngậm ngùi trả lại toàn bộ nô lệ đã cướp được.

Bởi cớ đó, ngày Nhã Nhĩ Tư Lan trở về Khương Nhu, hắn đã bị phe cánh của đại vương tử Tạp Tang mượn cớ lên án gay gắt.

Thái độ đối phó với biên cương của Tần Lệ cực kỳ cứng rắn, khiến cho một năm qua cuộc sống của người Khương Nhu chẳng hề dễ chịu. Đây cũng là lý do vì sao sau khi Nhã Nhĩ Tư Lan mất tích, Tạp Tang lại có thể cưỡng ép gom góp các bộ lạc khác, thống lĩnh quân đội để ồ ạt tràn xuống phía Nam.

Nếu ngày sống đã không yên ổn thì cứ đánh xuống phương Nam mà cướp!

Khoảng trời xa xăm độc một màu xám xịt ảm đạm, những tầng mây dày đặc che lấp đi cả ánh mặt trời.

Chiến sự tại thành Bắc Lăng, kể từ lúc đại quân Khương Nhu áp sát cho đến khi Tần Lệ tự mình dẫn binh Bắc hạ chi viện, đã dây dưa ròng rã hơn nửa tháng trời.

Gạch đá trên đầu thành bị tên bắn cho vỡ nát, máu tươi trên tường thành tầng tầng lớp lớp, vết máu cũ chưa kịp khô đã bị huyết hồng mới nhuộm đẫm. Trong không khí phảng phất mùi tanh của máu và mùi khói lửa nồng nặc đuổi hoài không tan.

Hơn nửa tháng qua, đại quân Khương Nhu ép sát biên ải, chẳng quản ngày đêm luân phiên công thành, đợt sóng sau dữ dội hơn đợt sóng trước. Thành Bắc Lăng tựa như ngọn núi cao sừng sững giữa cơn cuồng phong bão táp, gắng gượng chống đỡ qua biết bao trận công kiên tàn khốc.

Giờ Ngọ, đầu thành Bắc Lăng vừa dập tắt được một đợt tấn công, bầu không khí bao trùm đầy vẻ nghiêm nghị lẫn sát khí.

Nhiếp Đông một tay tì vào thanh trường đao, đứng cạnh Tần Lệ, phóng tầm mắt nhìn về phía doanh trại Khương Nhu ở đằng xa.

Ngoài thành cách mấy dặm, trên cánh đồng hoang bao la, đại quân Khương Nhu dày đặc như kiến cỏ, lều trại nối liền mấy chục dặm dài, nhìn hút mắt không thấy đâu là điểm kết.

Cờ phướn đủ màu phần phật tung bay trong gió, kỵ binh dàn thành đội hình rời rạc, đóng chốt ở ngoài tầm bắn, vó ngựa giẫm lên bụi đất, thi thoảng lại vang lên tiếng ngựa hí vang đầy thú tính như hổ rình mồi. Bộ binh tụ tập trước doanh trại, giáo mác tua tủa như rừng, tiếng tù và trống trận rền vang như sấm dậy.

Chỉ nhìn lướt qua cảnh tượng ấy thôi, cảm giác đè nén, áp bách nặng nề đã chất đầy trong lồng ngực mỗi người.

"Bệ hạ." Gương mặt Nhiếp Đông đen sạm, giọng nói vang rền như chuông lớn, chắp tay thưa, "Cục diện chiến đấu giằng co đến nay, Khương Nhu rêu rao có mười mấy vạn đại quân, kỵ binh chiếm tới tám vạn. Mà phe ta chỉ có chưa đầy năm vạn kỵ binh, còn lại đa phần là bộ binh cầm thương và cung thủ."

"Phòng tuyến thành Bắc Lăng quá yếu ớt, chúng ta lại vừa trải qua một trận kịch chiến với Lý Phong Hạo ở phía Nam, binh mã đã mỏi mệt. Bệ hạ đăng cơ chưa đầy một năm, lương thảo tài phú sợ rằng khó lòng chống đỡ được thế công lâu dài của Khương Nhu."

Cứ thủ mà không công thì chỉ có nước chịu đòn chịu trận, nhưng nếu ra khỏi thành chủ động nghênh chiến thì lại chẳng phải là đối thủ của thiết kỵ Khương Nhu.

Nhiếp Đông thở dài một tiếng: "Thứ duy nhất có thể khiến thiết kỵ Khương Nhu chịu thiệt thòi lớn chính là nỏ Khắc Địch do Tạ đại nhân chế tạo. Bộ binh của chúng ta đối đầu với kỵ binh cũng nhờ đó mà phát huy tác dụng."

"Nhưng từ sau khi nếm mùi đau khổ một lần, bọn chúng giờ đã cảnh giác hơn nhiều, tuyệt đối không chịu bước vào tầm bắn của cung thủ ta, cứ liên tục xua binh nô lệ lên lấp chiến hào, e rằng chẳng mấy chốc nữa sẽ bắc thang mây tràn lên đầu thành mất."

Nhiếp Đông nghiến răng: "Cứ tiêu hao thế này không phải là thượng sách, chi bằng để mạt tướng dẫn người ra ngoài đột phá một phen!"

Tần Lệ vẻ mặt nghiêm nghị nhìn biển người đang rục rịch chuẩn bị đợt tấn công mới ở phía đối diện, cùng với toán thiết kỵ Khương Nhu vẫn đang án binh bất động bảo toàn lực lượng, trầm ngâm không nói một lời.

Bên ngoài thành Bắc Lăng, phía sau trận thế quân Khương Nhu, trên đài quan sát cao ngất ngưỡng.

Dưới lá vương kỳ Khương Nhu, đại vương tử Tạp Tang cưỡi trên một con hắc mã tuấn tú, đôi mắt sắc như chim ưng đăm đăm nhìn về phía trước, bên tai tiếng trống trận dồn dập không ngừng.

Chẳng riêng gì Tần Lệ và Nhiếp Đông âu lo vì chiến sự kéo dài, Tạp Tang tuy mặt ngoài không lộ vẻ nôn nóng, nhưng trong lòng cũng như lửa đốt từng hồi.

Chuyện nhà mình tự mình biết rõ, nội bộ Khương Nhu vì chuyện tranh giành quyền kế vị giữa gã và Nhã Nhĩ Tư Lan mà xưa nay vốn đã hục hặc không thôi. Giờ đây Nhã Nhĩ Tư Lan lại bặt vô âm tín chẳng biết đang ở nơi nào.

Gã tuy gượng gạo mượn cớ Nam hạ cướp bóc nhân khẩu cùng tài vật của Đại Diệu để thuyết phục thủ lĩnh các bộ tộc tạm thời nghe theo hiệu lệnh của mình, hễ chiến sự thuận buồm xuôi gió, gặm được miếng mồi béo bở, thì vương vị Khương Nhu tự khắc sẽ thuộc về gã.

Nhưng trái lại, nếu trận này thất bại, Tạp Tang gã cũng chẳng biết phải ăn nói làm sao với thủ lĩnh các bộ lạc.

Tạp Tang bực bội chửi thề một tiếng: "Một cái cửa ải Bắc Lăng cỏn con mà đánh hơn nửa tháng trời, ngay cả đầu thành còn chưa leo lên nổi! Có phải đám bộ tộc khác đều muốn bảo toàn thực lực, không chịu bỏ công bỏ sức ra đánh đúng không?!"

Phó tướng tâm phúc của gã là A Đề Thố thưa: "Đại vương tử, công thành vốn dĩ không phải sở trường của chúng ta, vả lại thứ nỏ Khắc Địch trên tường thành kia thật quá lợi hại, mặc giáp cầm khiên cũng chẳng cản nổi một mũi tên. Chi bằng nghĩ cách dụ kỵ binh đối phương ra ngoài, giao phong một trận ngoài đồng trống, trực tiếp đập tan quân chủ lực của chúng, thừa cơ quân tâm chúng rệu rã mà đánh tan một thể!"

Nhắc tới nỏ Khắc Địch, lồng ngực Tạp Tang lại bốc lên một ngọn lửa tà ác. Vào thời điểm mới bắt đầu công thành, kỵ binh của gã đuổi theo kỵ binh đối phương mà đánh, mắt thấy sắp giẫm nát đối phương đến nơi, không ngờ lại vấp ngay phải một trận mưa tên từ trên trời giáng xuống.

Mũi tên nỏ ấy sắc bén vô cùng, lực bắn mạnh đến độ khiên nặng cũng không đỡ xong.

Ngặt nỗi phần lớn các bộ tộc Khương Nhu nghèo xơ nghèo xác, thiếu sắt thiếu tiền, tỉ lệ mặc giáp chưa đầy năm thành, mà đa số kỵ binh trên người chỉ có vỏn vẹn mảnh giáp da chứ đào đâu ra thiết giáp. Đến tấm khiên dày mà còn thủng trước nỏ Khắc Địch thì huống chi là mấy tấm giáp da mỏng manh kia?

Chỉ mới chạm mặt vài hiệp, hàng kỵ binh tiên phong đã hao hụt gần hai thành! Tổn thất ấy có thể coi là nặng nề nhất từ đầu trận đến giờ.

Kể từ lần đó về sau, kỵ binh của gã chẳng ai dám bén mảng tới tầm bắn của nỏ Khắc Địch trên đầu thành nữa, chỉ biết lảng vảng ở vòng ngoài.

Chuyện này khiến gã mất sạch mặt mũi trước mặt thủ lĩnh các bộ tộc!

"Kỵ binh của chúng cứ rúc đầu như rùa đen trong thành mãi cũng không phải là cách." Tạp Tang ngẫm nghĩ một hồi, nở một nụ cười ác độc, "Ngươi đến trại nô lệ đem mấy ả nô lệ cướp được ra đây, dẫn bộ chúng của ngươi đến trước cổng thành khiêu chiến."

"Nghe nói đám người Đại Diệu này lần trước từng dùng nô lệ để cá cược đấu trí với Nhã Nhĩ Tư Lan, ngươi cũng làm thế đi. Cứ bảo chỉ cần chúng dám phái kỵ binh ra thành đường đường chính chính đánh một trận, ta sẽ trả lại đám nữ tử nô lệ này cho bọn chúng!"

"Còn nếu chúng vẫn rụt đầu rụt cổ không dám–" Tạp Tang cười lạnh, bàn tay thô bạo đưa lên ngang cổ làm động tác cứa ngang, "Thì cứ việc giết sạch đám nô lệ ngay dưới chân thành! Ta để xem tên hoàng đế bên kia có chịu khoanh tay đứng nhìn bá tánh chết thảm, tự bôi tro trát trấu vào cái uy danh của mình hay không!"

"Tuân lệnh!"

Chẳng mấy chốc, A Đề Thố đã lôi từ trong trại nô lệ ra mười mấy mạng người, già trẻ trai gái đều có đủ. Gã cưỡi trên một con đại mã cao đầu, dưới sự hộ tống của đám kỵ binh phía sau, chậm rãi thúc ngựa lượn lờ nơi rìa tầm bắn của nỏ Khắc Địch.

Tay gã túm một sợi dây thừng lớn, đầu kia thắt chặt lấy cổ của vài nô lệ. Những người nô lệ nay đã kiệt sức, lảo đảo chạy được vài bước liền ngã quỵ rồi bị kéo lê trên đất cát.

"Có thấy đám nô lệ này không?!" A Đề Thố như đang trưng bày hàng hóa, kéo lê mười mấy mạng người đi qua đi lại một vòng, giọng oang oang rống lớn lên đầu thành.

"Toàn là con dân Đại Diệu các ngươi đấy! Chỉ vì đám tướng lĩnh rụt đầu trong thành các ngươi cùng tên cẩu hoàng đế vô năng kia, mà đám người này mới biến thành nô lệ của chúng ta!"

Khoảnh khắc nhìn thấy gã cùng đám nô lệ ấy, trên đầu thành Bắc Lăng lập tức dấy lên một trận xôn xao, tiếng chửi rủa đầy phẫn nộ liên tiếp vang lên không ngừng.

"Đại vương tử của chúng ta có lời, chỉ cần các người dám ra thành đường đường chính chính giao chiến một trận, ngài ấy sẽ trả lại toàn bộ nô lệ trong doanh trại cho các người! Bằng không, ngay tại đây, tại thời điểm này, ta sẽ giết sạch bọn chúng!"

A Đề Thố ha hả cười lớn, tàn nhẫn thẳng tay quất một roi vào người mấy người nô lệ, đổi lấy vài tiếng thét kinh hoàng hãi hùng cùng những tràng chửi bới thịnh nộ từ phía quân lính trên thành.

"Tên cẩu hoàng đế Diệu Quốc các ngươi chỉ biết co đầu rụt cổ trong thành hưởng lạc, màng gì đến sống chết của đám thường dân này. Biết đâu chừng trong trại nô lệ của bọn ta cũng có người nhà của các người đấy, có cần ta lôi ra cho các người nhận mặt người thân không?"

Gã còn chưa dứt lời, đột nhiên có một mũi tên nhọn xé gió lao xuống từ đầu thành, cắm phập ngay trước mặt A Đề Thố chừng mười bước chân.

Người lính kích động nọ nhanh chóng bị đồng ngũ xung quanh ghìm chặt rồi lôi xuống, nhưng bầu không khí xao động và phẫn uất đã âm thầm lan tràn, hằn rõ trên gương mặt mỗi một binh sĩ.

A Đề Thố ngẩn ra một chốc, rồi lập tức cười to: "Không dám ra thành, tên b*n r* lại chẳng tới đầu ta, đúng là một lũ phế vật vô dụng! Người đâu, đem đám nô lệ này ra chém sạch để tế cờ cho ta!"

"Xuống Diêm Vương rồi thì cứ tìm tên cẩu hoàng đế vô năng của các người mà đòi mạng, cứ bảo là hắn thấy chết không cứu nên mới hại chết các người!"

Trên đầu thành, bầu không khí áp lực đến nghẹt thở. Nhiếp Đông quay mặt đi không đành lòng nhìn, liên tục xin lệnh nghênh chiến: "Bệ hạ, người Khương Nhu quá mức càn rỡ, cứ thế này e rằng tổn hại quân tâm, xin để mạt tướng xung phong một trận!"

Sắc mặt Tần Lệ âm trầm đến tột cùng, đôi bàn tay hắn siết chặt lấy lớp gạch đá lạnh ngắt nơi vách thành, trì hoãn mãi vẫn chưa hạ lệnh.

Đúng lúc này, một trinh sát hớt hải lao lên lầu thành, quỳ sụp xuống trước mặt Tần Lệ, trong lòng bàn tay nắm chặt một phong thư cấp báo: "Bệ hạ, quân tình khẩn cấp tám trăm dặm từ thành Nhân Xuyên!"

Lồng ngực Tần Lệ chợt thắt lại, mật báo từ thành Nhân Xuyên gửi tới? Chẳng lẽ Tạ Lâm Xuyên xảy ra chuyện gì rồi?

Hắn giật phắt lấy phong thư xé toạc ra, một lúc sau, đôi mày đang nhíu chặt mới khẽ giãn ra đôi chút, ánh mắt chợt trở nên vi diệu.

Hắn ngoảnh đầu nhìn sang Nhiếp Đông đang mặc thiết giáp đứng cạnh bên, hạ thấp giọng, ngữ khí nghiêm túc: "Nhiếp Đông."

Nhiếp Đông bước nhanh tiến lên, giáp sắt va vào nhau phát ra những tiếng lạch cạch lanh lảnh, ánh mắt hắn kiên định, im lặng chờ đợi quân lệnh.

Tần Lệ hướng mắt nhìn về phía biển người Khương Nhu đang dàn trận dày đặc ngoài thành, trầm giọng nói: "Thời cơ đến rồi, ngươi tập hợp binh mã, đi hội ngộ với tên Tạp Tang kia đi."

Nhiếp Đông tinh thần chấn động: "Tuân mệnh!"

Chỉ trong nháy mắt, cổng thành Bắc Lăng mở toang, từng dòng quân mặc thiết giáp đen tuyền cuồn cuộn đổ ra theo sau lá cờ lệnh của Nhiếp Đông, ước chừng gần hai vạn kỵ binh. Dưới sự yểm trợ của mưa tên từ cung thủ, bọn họ nhanh chóng dàn trận.

Toàn quân ai nấy đều được vũ trang tận răng bằng thiết giáp, mũ sắt, ngay cả mặt nạ cũng che chắn kỹ càng, chỉ chừa lại một đôi mắt sắc lạnh. Trường thương nắm chặt trong tay, tia nhìn lạnh lẽo thấu xương, đến cả chiến mã cũng được khoác toàn giáp, tai nhét bông gòn, mắt bịt mặt nạ bảo hộ.

Trông thấy cảnh này, A Đề Thố ở đằng xa mừng rỡ khôn xiết: "Là Thiết Giáp Vệ của tên cẩu hoàng đế, mớ giáp trụ toàn thân kia so với thiết kỵ dòng chính của đại vương tử cũng chẳng kém là bao. Mới thế mà đã phái quân tinh nhuệ ra rồi, thật đúng là thiếu kiên nhẫn!"

Còn trên đài quan sát, đại vương tử Tạp Tang lại chau mày: "Một màn khiêu khích cỏn con thế mà đã phái kỵ binh ra nộp mạng cho thiết kỵ của ta rồi sao? Tên hoàng đế bên kia cũng chỉ đến thế mà thôi, liệu có phải mồi nhử không?"

Tên truyền lệnh quan đứng cạnh gã cười nói: "Nhìn giáp trụ trên người chúng thì chắc chắn là Thiết Giáp Vệ thân vệ của hoàng đế rồi. Để nuôi dưỡng một đội thân vệ vũ trang toàn thân như vậy phải tốn biết bao nhiêu tiền bạc? Hoàng đế Đại Diệu sao có thể cam lòng đem thân vệ nhà mình ra làm mồi nhử cho được?"

Tạp Tang ngẫm lại thấy cũng có lý, chính gã cũng chẳng đời nào đem đội binh dòng chính của mình ra làm cái việc ăn khốn khổ cực này. Kỵ binh dòng chính quý giá biết bao, bồi dượng đâu có dễ, muốn làm mồi nhử thì phải là đám binh lính của các bộ tộc khác mới đúng.

"Cho dù là mồi nhử thì đã sao, truyền lệnh cho A Đề Thố, cẩn thận đừng để bị dụ vào tầm bắn của nỏ Khắc Địch trên đầu thành đối phương là được!"

Ánh mắt gã hung tàn: "Trận này nhất định phải dập tắt cho sạch cái nhuệ khí ngông cuồng của Đại Diệu, bắt chúng phải ngoan ngoãn như Cảnh Quốc năm xưa, dâng tiền dâng người cho ta!"

Có thế thì gã mới danh chính ngôn thuận bước lên vương tọa Khương Nhu, thống nhất hoàn toàn các bộ tộc còn cứng đầu chưa phục. Đến lúc đó, dù Nhã Nhĩ Tư Lan có còn sống thì cũng chỉ như con chó mất nhà, chui lủi khắp nơi mà thôi.

Tạp Tang siết chặt nắm đấm, dõng dạc hạ lệnh: "Nổi trống! Tiến công!"

Tiếng trống trận dồn dập như mưa sa cùng tiếng tù và tấn công đồng thời vang vọng.

A Đề Thố nghe thấy hiệu lệnh tấn công, khóe môi nở một nụ cười càn rỡ: "Trận này công đầu thuộc về ta rồi! Theo ta xông lên! Nghiền nát lũ chó Đại Diệu đi!"

Gã th*c m*nh vào hông ngựa, vung cây rìu lớn hộ thân phía sau lưng lên, thống lĩnh mấy vạn kỵ binh phía sau bắt đầu chạy vòng quanh chiến trường để lấy đà.

Nơi trước cổng thành, Nhiếp Đông đã dàn trận xong xuôi, vung mạnh lá cờ lệnh, trầm giọng thét lớn: "Thiết Giáp Vệ, theo ta xung phong!"

Theo lá cờ lệnh hạ xuống, toán kỵ binh vũ trang đến tận răng không một chút do dự, lập tức thúc ngựa xung phong.

Hai dòng thác kỵ binh cuồn cuộn đồng thời chuyển động, tăng tốc, rồi lại tăng tốc.

Bên ngoài thành Bắc Lăng vang rền tiếng vó ngựa dồn dập như sấm dậy, mặt đất dưới chân dường như cũng đang r*n r* quặn thắt trước thứ khí thế ngút trời không thể cản phá này.

Cả hai bên cùng vạch ra một đường vòng cung lớn, đẩy tốc độ chiến mã lên đến đỉnh điểm, rồi không hẹn mà cùng chĩa mũi thương về phía đối phương, trực diện lao vào nhau.

"Vút vút vút–"

Toàn bộ kỵ binh hàng đầu của Thiết Giáp Vệ gần như ai nấy đều thủ sẵn một cây nỏ Khắc Địch đã lên dây từ trước. Những mũi tên sắc lẹm gầm thét xé toạc không trung, nương theo ngọn cuồng phong cắm phập vào đội hình kỵ binh Khương Nhu.

Trong nháy mắt, mười mấy tên lính Khương Nhu đã lặng lẽ ngã xuống, mất hút trong làn sóng xung phong cuồn cuộn.

A Đề Thố nhìn thấy nỏ Khắc Địch thì mí mắt giật nảy lên, nhưng kỵ binh khi đang xung phong quyết không thể dừng lại, thế nên gã chỉ biết cắm đầu lao thẳng về phía trước. May thay cơ hội như vậy chỉ có một lần, Thiết Giáp Vệ chẳng còn thời gian để lên mũi tên thứ hai.

Chỉ trong một cái chớp mắt ngắn ngủi, hai mũi nhọn sắc bén đã đâm sầm vào nhau một cách tàn bạo. Những đường gươm mũi giáo đan cài, đâm chéo vào nhau tựa như hai chiếc nĩa nhọn hoắt găm thẳng vào xương máu của đối phương!

Trong nhất thời, chân tay đứt lìa bay tứ tung, tiếng chém giết rúng động cả trời xanh.

Qua vài hiệp giao phong đối mặt, Thiết Giáp Vệ nhờ vào tỉ lệ mặc giáp vẹn mười phần mười nên mới khó khăn không rơi vào thế hạ phong. Thế nhưng, khi những đợt va chạm cứ liên tục tiếp diễn, điểm yếu về mặt quân số của phe ta nhanh chóng bị phóng đại lên.

Đội hình kỵ binh Khương Nhu đông nghẹt của A Đề Thố tựa như dòng thủy triều đen kịt có tiết tấu, điên cuồng đuổi cùng giết tận trên chiến trường, lớp lớp xô nhau, chảy xiết và mãnh liệt.

Đôi mắt A Đề Thố hằn lên tia máu, gã đăm đăm khóa chặt bóng dáng Nhiếp Đông ngay phía trước, tay cầm chiếc rìu nặng, bám sát nút sau lưng hắn. Cứ một rìu bổ xuống là lại có nửa cái đầu bay biến.

Thế nhưng Nhiếp Đông lại chẳng màng đến tình cảnh thảm khốc phía sau, hắn vung thương đâm chết một tên địch đang lao tới, tiếp tục dẫn dắt Thiết Giáp vệ chạy vòng quanh chiến trường thành những vòng tròn lớn, trông giống như thể dưới sự truy sát ráo riết của A Đề Thố, bọn họ chỉ còn nước cắm đầu chạy trốn.

Từng làn sương máu nóng hổi không ngừng phun ra giữa đám kỵ binh đang di chuyển với tốc độ chóng mặt.

Sau khi chạy xong vòng tròn lớn cuối cùng, Nhiếp Đông đột ngột bẻ lái sang một hướng khác, dần dần thoát khỏi thế gọng kìm với A Đề Thố, lao thẳng về phía sườn thành Bắc Lăng.

"Ha! Cho dù các người có chạy nhanh đến mấy thì ngựa Trung Nguyên cũng chẳng đời nào chạy nhanh bằng ngựa Khương Nhu của bọn ta đâu!"

A Đề Thố vừa truy kích vừa khắc cốt ghi tâm mệnh lệnh của Tạp Tang tuyệt đối không được bước chân vào tầm bắn nỏ của cung thủ Đại Diệu.

"Hừ, muốn dụ ta đây cắn câu à? Mơ đi!"

A Đề Thố đoán định được ý đồ của Nhiếp Đông, gã cười lạnh rồi hạ lệnh giảm bớt tốc độ xung phong, chỉ lững thững bám sát đuôi Thiết Giáp Vệ, gặm nhấm từng chút một.

Trên đầu thành Bắc Lăng, Tần Lệ chứng kiến trọn vẹn màn này từ trên cao, khóe môi hắn chậm rãi vén lên một nụ cười nhạt.

Đôi mắt Nhiếp Tấn đỏ ngầu, hắn tiến lên một bước chắp tay: "Bệ hạ, khoảng cách này đủ rồi!"

Tần Lệ nheo mắt, nhẹ nhàng lau chùi thanh bảo kiếm đầu rồng trong tay, ngữ khí lạnh lẽo thấu xương: "Truyền lệnh, châm lửa."

Truyền lệnh quan không dám chậm trễ, lập tức phất cờ hiệu.

Những cỗ pháo xe vốn được giấu kín sau vách thành liền được binh lính dốc sức đẩy ra vị trí định sẵn, số lượng lên tới hơn năm mươi cỗ! Trong bầu pháo đã nạp sẵn hỏa dược pháo, từng cây đuốc bừng bừng thắp lửa, châm ngòi cho các dây dẫn.

Chỉ trong một cái chớp mắt, những quả cầu sắt đen kịt, to lớn như những tảng đá lớn đồng loạt bị hất tung lên trời, vạch nên những đường vòng cung dài từ trên đầu thành, rơi vào ngay chính giữa toán kỵ binh do A Đề Thố thống lĩnh.

Vì đã chủ động giảm tốc độ xung phong nên đội hình quân gã bấy giờ vô cùng san sát nhau, đợt hỏa dược pháo đầu tiên với hơn năm mươi quả gần như rơi vào giữa đám đông không trượt phát nào, đánh cho gã một vố trở tay không kịp.

Đùng đùng đùng!

Tiếng nổ vang trời dội đất đi kèm với những ánh lửa chói rực làm rung chuyển cả khoảng đất. Mảnh vỡ của lớp vỏ sắt cùng đinh sắt, chông sắt giấu bên trong b*n r* tung tóe khắp bốn phương tám hướng, xuyên thủng những tấm giáp da đơn bạc của kỵ binh Khương Nhu.

Do uy lực có hạn nên phần lớn bọn họ không bị mất mạng ngay tại chỗ, thế nhưng việc ngã nhào từ trên lưng ngựa xuống rồi bị đám chiến mã đang kinh hãi giẫm đạp lên nhau mới là điều kinh hoàng hơn cả. Trong nhất thời, khắp chiến trường chỉ còn lại tiếng nổ xé tai cùng tiếng gào khóc thảm thiết, nghe mà sởn tóc gáy.

Những tiếng động lớn dồn dập khiến A Đề Thố lập tức bị điếc tai tạm thời. Gã còn chưa kịp định thần lại xem có chuyện gì xảy ra thì đợt pháo thứ hai đã ập tới.

"Rút lui mau! Mau rút lui về!" Giọng gã hoàn toàn bị nuốt chửng trong làn sóng âm thanh chấn động, chớp mắt đã biến mất dưới những móng guốc ngựa.

"Đây là hỏa dược sao?!"

Trên đài quan sát, đôi mắt Tạp Tang đỏ ngầu như sắp nhỏ máu, hai nắm tay siết chặt đến mức móng tay găm vào da thịt đến ứa máu: "Tần Lệ, hay cho ngươi! Hóa ra ngươi lại giấu nhẹm thứ vũ khí sát thương kinh người này cho tới tận bây giờ mới đem ra dùng!"

Mặc dù gã và Lý Phong Hạo ngầm có minh ước và sự ăn ý với nhau, nhưng phương thuốc chế tạo hỏa dược là thứ binh khí bảo vật quý giá như vậy, Lý Phong Hạo đương nhiên không hề tiết lộ cho gã nửa lời. Gã lại càng mù tịt về việc tầm bắn của hỏa dược pháo này vượt xa nỏ Khắc Địch rất nhiều.

"Truyền lệnh xuống, đem toàn bộ kỵ binh rút hết về cho ta!" Gương mặt Tạp Tang vặn vẹo, lòng như có máu rỉ từng giọt.

Ngay chính lúc này, một tiếng tù và ngân dài từ trên đầu thành Bắc Lăng cất lên.

Cổng thành mở toang, đại quân áo đen như triều cường cuồn cuộn tràn ra ngoài, gần như chẳng cần tốn thời gian dàn trận đã tự động hội quân với kỵ binh của Nhiếp Đông.

Đội hình mỏng manh ban đầu cứ thế phình to ra mãi, cuối cùng biến thành một đại quân mấy vạn người. Giữa tiếng hò hét giết chóc ngút trời, bọn họ giẫm đạp lên máu và lửa, điên cuồng lao về phía trận thế hỗn loạn của Khương Nhu!

Đến khi phía sau đại quân ấy xuất hiện một lá đại kỳ màu đen viền thêu chỉ vàng, khí thế của toàn quân Bắc Lăng cuối cùng đã chạm tới đỉnh điểm.

Hoàng đế của bọn họ đã đích thân dẫn binh ra tiền tuyến rồi!

Làn sóng đen kịt chậm rãi ép sát chiến trường, quân Khương Nhu cũng nhanh chóng thu xếp lại trận thế, cuộc huyết chiến giữa hai lực lượng chủ lực sắp sửa bùng nổ.

Ngay khi đại quân mang cờ chữ "Diệu" phát động tổng tấn công vào quân Khương Nhu đang hỗn loạn, Tạp Tang trên đài quan sát bỗng kinh hãi tột độ.

"Đại vương tử! Kỵ binh của bộ tộc chúng ta lại bị ngươi đem ra dùng ở cái nơi thế này sao?! Chết một cách vô giá trị vì bị pháo nổ và bị móng ngựa giẫm đạp thế này à?!"

"Đại vương tử, ngươi từng hứa với bọn ta khi Nam hạ sẽ cướp bóc nhân khẩu tài vật, lúc ấy nói năng hoa mỹ biết bao nhiêu, giờ thì sao? Ngươi đem đội binh dòng chính của mình giấu nhẹm ở phía sau, bắt người của bọn ta xông lên phía trước chịu chết à?!"

Thủ lĩnh các bộ tộc còn lại của Khương Nhu thi nhau trút giận, không ngừng oán than về tổn thất kỵ binh của nhà mình.

Tạp Tang bị làm phiền đến nhức cả đầu, thái dương giật lên thình thịch, gã sa sầm mặt mũi quát lớn một tiếng: "Đủ rồi! Giờ tất cả chúng ta đều ngồi chung một thuyền, đối phó với Tần Lệ mới là việc trọng đại nhất!"

Gã giật phắt chiếc mũ sắt cùng cây rìu nặng từ tay thân binh, trầm giọng nói: "Ta sẽ đích thân thống lĩnh Thiết Lang Kỵ nghênh chiến Tần Lệ, chỉ cần lấy được mạng hắn, trận này tổn thất có lớn đến đâu cũng đều xứng đáng cả! Các người hoặc là theo ta lên trước, đánh thắng trận ngày hôm nay, hoặc là cút xéo đi, một cắc cũng đừng hòng chiếm được!"

Chiến mã dậm chân gầm gừ, cào bới đất cát. Đội Thiết Lang Kỵ, tức là dòng chính của Tạp Tang là do gã dùng toàn bộ tiền tài lương thảo tích cóp từ mấy bộ tộc nhỏ để nuôi dưỡng nên, tỉ lệ mặc giáp lên tới tám phần, từ người cho tới ngựa đều được bọc trong lớp thiết giáp dày cộm.

Đội kỵ binh trọng yếu này chính là con bài tẩy lớn nhất trong tay Tạp Tang, mỗi người đều sở hữu hai chiếc rìu lớn, trên chém đầu người, dưới chặt chân ngựa, chuyên trị đám binh lính cầm giáo và cung thủ.

Khi Tạp Tang dẫn đầu Thiết Lang Kỵ xuất hiện ở nơi tiền tuyến chiến trường, thế trận hỗn loạn do bị đánh bất ngờ của quân Khương Nhu lập tức thay đổi hẳn.

Những tên lính tàn quân đang bỏ chạy về phía trận thế nhà mình đều bị Thiết Lang Kỵ thẳng tay chém chết ngay trước tiền trận không một chút nương tình, tuyệt đối không để đám bại binh làm rối loạn đội hình của mình.

Hai dòng thác kỵ binh màu đen xám cuối cùng cũng đâm sầm vào nhau.

Giữa trận hỗn chiến giằng co như răng chó cắn xé lẫn nhau, từng "con nhím sắt" được tạo thành từ thiết giáp và rìu nặng, nương theo tiếng vó ngựa rền vang, nện thẳng vào đại quân mang cờ chữ "Diệu" đang lao tới.

Một rìu vung lên, cán gỗ của binh lính cầm giáo gãy làm đôi, thậm chí có người bị bổ toác cả nửa thân.

Còn những tên Thiết Lang Kỵ bị đánh ngã khỏi lưng ngựa, nhờ có lớp giáp toàn thân bảo vệ nên chỉ cần một rìu là có thể chặt đứt hai chân trước của chiến mã đối phương, hất văng kẻ ngồi trên lưng ngựa xuống đất.

Một khi đã ngã ngựa, giáo thương của Thiết Giáp Vệ lại càng không phải đối thủ của chiếc rìu nặng.

Cả hai bên đều chịu thương vong với tốc độ chóng mặt, xác chết ngổn ngang phơi ra giữa chiến trường, huyết máu đỏ thẫm ngấm vào lòng đất, nhuộm đỏ cả thảm cỏ sương khô cằn úa vàng.

Mắt thấy quân Đại Diệu vốn dĩ đã dần nắm giữ thế thượng phong nay lại rơi vào cuộc khổ chiến.

Nhiếp Đông khăng khăng hộ vệ sát bên cạnh Tần Lệ, sốt sắng nói: "Bệ hạ, xin ngài hãy lui về thành trước đi, nơi này quá nguy hiểm. Để đối phó với đội kỵ binh giáp nặng của Tạp Tang phải đánh đổi bằng tổn thất cực kỳ lớn, may mà bọn chúng chỉ có khoảng hai ba ngàn người, cứ để mạt tướng dẫn Thiết Giáp Vệ ngăn cản hắn!"

Tần Lệ vẫn từ tốn rút thanh bảo kiếm đầu rồng bên hông ra, ánh mắt hắn sáng như đuốc, nhìn thấu suốt mọi sự giữa chiến trường hỗn loạn: "Không được, một khi trẫm rời đi, quân tâm lập tức sẽ lập tức rệu rã, đến lúc đó cục diện sẽ đổ nghiêng về một phía."

"Càng là những lúc thế này, cái chúng ta đánh cược chính là lòng dũng cảm tiến về phía trước, không chút chùn bước!"

Hắn ngồi nghễu nghện trên lưng ngựa, từ đằng xa phóng tầm mắt đối diện với Tạp Tang, khóe môi thoáng hiện một nụ cười lạnh vương mùi máu: "Tạp Tang muốn lấy mạng trẫm, trẫm hà cớ gì lại không muốn giết hắn ngay tại nơi này. Hắn mà chết, trận chiến này coi như chấm dứt hoàn toàn!"

Ngay tại thời khắc ấy, cuộc chém giết của đôi bên đã kéo dài từ giờ Ngọ cho tới lúc hoàng hôn buông xuống, ánh rực của ráng chiều bao trùm lên từng người lính đã giết chóc đến đỏ cả mắt.

Ngay khi toàn bộ thế trận rơi vào trạng thái giằng co chưa từng có.

Nơi bờ rìa cánh đồng hoang đằng xa, cát bụi bỗng bay mù mịt cả một khoảng trời, một đường ranh giới màu xám tro của sắt thép từ nơi giao thoa giữa trời và đất cuồn cuộn tràn tới. Tiếng vó ngựa giẫm đạp lên mặt đất dữ dội đến mức tưởng chừng như sắp làm sụp đổ cả khoảng đất dưới chân.

–Lại một đội quân sung sức nữa tới rồi! Rốt cuộc là địch hay là bạn?

Dòng thác kỵ binh kia càng lúc càng đến gần, Tạp Tang cùng Tần Lệ hầu như đồng thời ngoảnh đầu nhìn sang. Chỉ thấy toán kỵ binh kia lao đi đầu tiên, áo giáp da cùng với tấm khiên chắn binh khí trên người bọn họ rõ ràng là quy chế quen thuộc của quân Khương Nhu.

Kẻ đến chẳng lẽ là viện binh của Khương Nhu sao?!

Huynh đệ Nhiếp Đông, Nhiếp Tấn cùng toán kỵ binh phía sau lồng ngực chợt thắt lại, sắc mặt trở nên vô cùng khó coi. Ngược lại, đại quân Khương Nhu đối diện lại cất lên những tiếng hoan hô ngắn ngủi.

Duy chỉ có Tần Lệ ngồi trên lưng ngựa là vẫn giữ thần thái ung dung, nghiêm nghị, bất động như núi. Hắn vung mạnh thanh bảo kiếm đầu rồng trong tay xuống dưới, dõng dạc hạ lệnh: "Toàn quân theo trẫm tiến lên phía trước! Long đạo chưa lui, không ai được phép lùi nửa bước. Kẻ nào trái lệnh, đốc chiến quan lập tức dùng quân pháp xử tử tại chỗ!"

Thủ lĩnh các bộ tộc Khương Nhu trông thấy quân Diệu đối diện dẫu rơi vào tình thế bất lợi như vậy mà chẳng những không lo chạy thục mạng về thành, ngược lại còn chủ động dâng mạng lên trước, bọn chúng không những không kinh hãi mà còn lấy làm mừng.

Chỉ có Tạp Tang là trừng trừng nhìn toán kỵ binh xuất hiện đột ngột kia với ánh mắt đầy nghi hoặc. Gã rõ ràng không nhớ mình có sắp xếp một đội binh mã Khương Nhu nào như vậy cả, trừ phi là–

Sắc mặt gã bỗng chốc đại biến, rồi chuyển sang xanh mét. Trong đội quân sung sức kia đồng thời giương cao hai lá đại kỳ, một lá là cờ lệnh của Thiết Giáp Vệ màu đen thêu chỉ vàng, lá còn lại hóa ra là vương kỳ của Khương Nhu!

Kẻ đến chính là Tạ Lâm Xuyên và Nhã Nhĩ Tư Lan!

Hai đội quân sung sức tuy phân chia ranh giới rõ ràng, nhưng ai nấy đều nhìn ra bọn họ chính là đồng minh của nhau. Bọn họ rốt cuộc đã đặt chân tới chiến trường, tất thảy mọi người đều nhìn rõ mồn một hai lá cờ ấy.

Tiếng hoan hô vừa dấy lên khi nãy chớp mắt đã biến thành những tiếng kêu sợ hãi đầy kinh ngạc. Mấy thủ lĩnh bộ tộc Khương Nhu nghi hoặc nhìn lá vương kỳ Khương Nhu kia, lại nhìn sang gương mặt quen thuộc dưới lá cờ, nhất thời sinh lòng do dự.

"Tạp Tang mưu hại vương hậu! Mưu sát vương trữ! Tội không thể dung thứ! Những bộ tộc bị hắn ta ép buộc, lợi dụng, chỉ cần bây giờ rút lui khỏi chiến trường, bản vương có thể cam đoan sẽ bỏ qua chuyện cũ, không truy cứu! Bằng không, tất thảy sẽ bị khép vào tội phản nghịch Khương Nhu giống như Tạp Tang!"

Nhã Nhĩ Tư Lan hạ lệnh cho đám thân binh phía sau đồng thanh hét lớn những lời của mình lên, liên tục lặp đi lặp lại. Giữa chiến trường hỗn loạn, âm thanh ấy truyền đi thật xa, chấn động khắp quân doanh Khương Nhu.

"Chúng ta đã cùng Đại Diệu ký kết minh ước, chính là Tạp Tang vì tư lợi cá nhân mà xé bỏ hòa ước, đẩy tất cả mọi người vào chỗ chết!"

Một bộ phận binh lính nghe không rõ, nhưng trông thấy Nhã Nhĩ Tư Lan vậy mà lại đem theo vương kỳ đứng chung một chỗ với quân Đại Diệu thì sửng sốt đến mức chẳng dám tin vào mắt mình. Bộ phận khác nghe rõ mồn một thì lại hoang mang, luống cuống không biết nên phản ứng ra sao.

Sự xôn xao, náo loạn trong đám đông càng lúc càng lộ rõ.

So với sự mờ mịt của đám binh lính tầng dưới, mấy tên thủ lĩnh bộ tộc lại ôm giữ những toan tính khác nhau trong lòng.

Có kẻ vốn dĩ thuộc phe cánh của Nhã Nhĩ Tư Lan, công nhận chế độ kế vị vương tộc xưa nay của Khương Nhu, chẳng qua vì tưởng đối phương đã chết nên mới đành phải nghe theo mệnh lệnh của Tạp Tang. Nay lại thấy Tạp Tang chiến sự bất lợi, bọn họ lại càng không muốn cùng gã chịu chết ở nơi này, liền quay đầu dẫn theo kỵ binh dưới trướng rút khỏi chiến trường.

Có tên thủ lĩnh lại không tài nào chấp nhận được việc một trận chiến đánh xong mà chẳng thu về được chút lợi lộc gì, vào cái thời khắc sinh tử thế này đành phải đâm lao thì theo lao, cùng Tạp Tang đi tới đường cùng.

Khúc nhạc đệm này chẳng qua chỉ là một góc nơi rìa chiến trường, phần lớn binh sĩ vẫn đang chìm đắm trong cuộc chém giết tàn khốc. Tiếng hò hét giết chóc vang trời chẳng những không hề giảm bớt, ngược lại vì có thêm kỵ binh của Tạ Lâm Xuyên và Nhã Nhĩ Tư Lan gia nhập mà càng thêm phần rúng động cả đất trời.

Tạp Tang đem thái độ của thủ lĩnh các bộ tộc thu hết vào tầm mắt, mắt thấy đại quân của mình sắp sửa tan đàn xẻ nghé dưới thế gọng kìm hai bên, lồng ngực gã như lửa đốt từng hồi.

"Đừng nghe lời hắn! Nhã Nhĩ Tư Lan mới là tên phản đồ phản bội lại Khương Nhu! Hắn vậy mà lại đứng chung một phe với kẻ thù!"

Con đường sống duy nhất hiện tại là phải đánh thắng trận này. Bằng không, gã sẽ chết không có đất chôn thây!

Thủ lĩnh các bộ tộc khác hiện tại chẳng nhờ vả được gì nữa. Tạp Tang hít sâu một hơi, đôi mắt đỏ ngầu găm chặt vào Tần Lệ đang đứng dưới lá long đạo phía trước.

Tần Lệ! Chỉ cần bằng mọi giá g**t ch*t hắn, chiến thắng vẫn sẽ thuộc về Tạp Tang gã!

"Toàn bộ Thiết Lang Kỵ, theo bản vương xung phong! Bằng mọi giá phải g**t ch*t tên cẩu hoàng đế Đại Diệu kia! Kẻ nào lấy được thủ cấp của hắn, bản vương sẽ ban thưởng cho kẻ đó một bộ tộc!"

Sát khí ngút trời bị Tạp Tang kích động tỏa ra khắp xung quanh gã. Đội Thiết Lang Kỵ vốn đang đột phá phòng tuyến quân Đại Diệu liền bắt đầu điên cuồng lao về phía trước, đâm chéo vào bên trong.

Tạp Tang đem ra lòng dũng cảm cùng quyết tâm chưa từng có, thống lĩnh ba ngàn Thiết Lang Kỵ chơi một ván được ăn cả ngã về không, liên tục ép sát tới trước tựa như một mũi giáo sắc lẹm, cắm phập vào ngay trung tâm đại quân Đại Diệu.

Đội trọng kỵ binh màu đen đang không ngừng nhào lên từng lớp như sóng cồn, giống hệt một dòng thác lũ điên cuồng va đập vào Thiết Giáp Vệ đang hộ giá trước mặt Tần Lệ.

Dưới lưỡi rìu nặng, cuộc xuyên phá bất chấp thương vong đã bảo bọc Tạp Tang ở chính giữa. Cứ thế, bọn họ ngang nhiên chém ra một con đường đẫm máu dẫn thẳng tới lá long đạo, gần như phải đánh đổi mạng sống của hai ba kỵ binh Đại Diệu mới đổi lấy được một tên Thiết Lang Kỵ cầm rìu nặng.

Sắc mặt Nhiếp Đông đại biến, hắn suýt chút nữa đã nhìn thấy gương mặt vặn vẹo của Tạp Tang xuất hiện ngay trước mắt, trận thế bấy giờ đã trở nên vô cùng thưa thớt mỏng manh.

Dưới thế công hung hãn nhường này, những nơi bọn chúng đi qua đều tan tác tơi bời, người ngã ngựa đổ. Cho dù là Thiết Giáp Vệ đã dày dặn trăm trận chiến thì lúc này cũng gần như đối mặt với nguy cơ tan rã.

"Bệ hạ! Mau mau rời khỏi nơi này!"

Thế nhưng lúc này, bốn phương tám hướng chỗ nào cũng là cuộc chém giết hỗn loạn, cả hai bên đều đã giết đến đỏ mắt, chẳng đào đâu ra một con đường rút lui an toàn nữa.

"Đến hay lắm!" Tần Lệ cười lớn một tiếng, đôi mày kiếm dựng ngược, mái tóc bạc tung bay trong gió, hắn vung trường kiếm lao lên chứ không hề lùi bước.

Một kiếm một rìu va vào nhau phát ra một tiếng keng chói tai, bên nào cũng dùng hết mười phần lực đạo. Lực phản chấn khổng lồ dội ngược trở lại khiến chiến mã của cả hai bên đều cất tiếng hí vang thảm thiết.

Chủ tướng hai bên chỉ kịp trao đổi một đòn vội vã liền nhanh chóng bị đám thân binh ồ ạt xông lên chia cắt ra, bảo vệ vào bên trong.

Hổ khẩu bên tay phải của Tạp Tang tê dại đi, kéo theo cả cánh tay cũng gần như không nhấc lên nổi, suýt chút nữa đã bị đường kiếm kia hất văng cả cây rìu ra ngoài.

Gương mặt Tạp Tang âm trầm vặn vẹo đến cực điểm. Đây là lúc gã tiếp cận Tần Lệ gần nhất. Tần Lệ không chết thì kẻ đầu rơi máu chảy chính là gã.

"Đừng màng đến ta! Cứ việc đi giết Tần Lệ cho ta!" Tạp Tang lớn tiếng quát tháo, trông thấy Tần Lệ sắp sửa rời đi, gã nghiến chặt răng, chẳng màng đến bất cứ điều gì nữa, dẫn theo toàn bộ Thiết Lang Kỵ bên người điên cuồng lao lên trước, "Giết hắn! g**t ch*t hắn cho ta!"

Rìu nặng mở đường, phá đi hết lớp Thiết Giáp Vệ này đến lớp Thiết Giáp Vệ khác đang ra sức hộ giá. Dưới thứ khí thế hung hãn và càn rỡ đến nhường ấy, quân Đại Diệu gần như ai nấy đều khiếp sợ.

Càng gần hơn rồi! Tạp Tang dứt khoát vung tay ném mạnh cây rìu về phía trước.

Rìu không trúng người Tần Lệ, song lại găm phập vào phần mông con chiến mã hắn đang cưỡi.

Đôi mắt Tần Lệ đen kịt lại, hắn ghìm chặt dây cương để trấn an con ngựa đang kinh hãi dựng đứng hai móng trước lên cao.

Đúng lúc này, Tạp Tang đoạt lấy một cây cung nặng từ tay thân binh, dùng hết thảy sức lực toàn thân nhắm thẳng vào Tần Lệ đang đứng dưới lá long đạo. Gã nheo mắt cười lên một tiếng đầy dữ tợn: "Chết đi cho ta—"

"Bệ hạ!" Nhiếp Đông hồn xiêu phách lạc, liều mạng lao lên phía trước song lại bị toán Thiết Lang Kỵ đang điên cuồng ùa tới cản trở đường đi.

Ngay vào khoảnh khắc mũi tên của Tạp Tang rời khỏi dây cung. Trong cái chớp mắt định mệnh ấy, gã bỗng cảm thấy gáy mình lành lạnh, một cơn đau nhức nhối kịch liệt ập đến. Gã không tài nào giữ nổi cây cung được nữa, mũi tên tuột khỏi tay tùy ý rơi xuống.

Một đoạn mũi tên lạnh ngắt xuyên thẳng qua yết hầu gã từ kẽ hở bên dưới chiếc mũ sắt nơi sau gáy!

"Đại vương tử!" Khắp xung quanh vang lên những tiếng la thất thanh đầy kinh hoàng của Thiết Lang Kỵ.

Cổ họng gã liên tục phát ra những tiếng ọc ọc nghẹn ứ, đất trời trước mắt đảo lộn, tiếng chém giết rúng động khắp nơi hoàn toàn rời xa gã, lập tức chìm vào khoảng bóng tối vô biên.

Nơi phía sau sườn của Tạp Tang, một bóng người tay cầm cây cung nặng đang ngồi vững chãi trên lưng ngựa. Ánh mắt y trầm tĩnh như lưỡi dao sắc, lồng ngực khẽ phập phồng th* d*c, hai cánh tay vẫn giữ nguyên tư thế giương cung bắn tên. Kẻ đó không ai khác chính là Tạ Lâm Xuyên, người vừa dẫn binh từ rìa chiến trường cấp tốc chạy tới!

"Tạ Lâm Xuyên!" Tần Lệ ngẩn ra một chốc, còn chưa kịp vui mừng thì sắc mặt đã đột ngột đại biến, dõng dạc hạ lệnh: "Đánh tới! Đập tan đám Thiết Lang Kỵ này cho trẫm!"

Lời hắn chưa dứt, đám Thiết Lang Kỵ đã giết đến đỏ mắt bấy giờ đã thay đổi mục tiêu. Bọn chúng từ bỏ việc truy sát Tần Lệ, quay ngoắt lại lao về phía Tạ Lâm Xuyên, kẻ vừa lấy mạng đại vương tử của bọn chúng để đòi nợ máu.

Trong thoáng chốc, Tạ Lâm Xuyên gần như trở thành bia đỡ đạn cho muôn vàn mũi giáo.

"Tạ Lâm Xuyên!" Tần Lệ khi đối diện với Thiết Lang Kỵ của Tạp Tang còn giữ được vẻ trấn định tự nhiên, vậy mà lúc này rõ ràng đã bắt đầu lâm vào hoảng loạn. Giữa trận hỗn chiến thế này, bất cứ bất trắc nào cũng đều có thể xảy ra.

Trọng kỵ binh hai bên lại một lần nữa lao vào cắn xé lẫn nhau không chút nhân nhượng, tựa như một cỗ máy xay thịt khiến máu thịt bay tứ tung, khung cảnh hỗn loạn đến tận cùng bờ bến.

Tần Lệ nắm chặt trường kiếm, liên tục chém chết những tên địch đang lao tới gần. Dẫu có Nhiếp Đông cùng thân vệ ra sức bảo vệ, trên người hắn bấy giờ cũng đã đẫm máu.

Đám Thiết Lang Lỵ xung quanh rốt cuộc cũng chẳng còn lại bao nhiêu mạng, cây trường thương trong tay Tạ Lâm Xuyên cũng đã uống no máu tươi. Y nghiêng người nhìn sang Tần Lệ, mấy lọn tóc rối bời bết chặt vào gương mặt, đôi mắt đen láy như điểm mực ấy lập tức sáng bừng lên.

"Tần Lệ!"

Ngay khi Tần Lệ chém gục tên địch cuối cùng trước mặt, đang định vươn tay ra nắm lấy Tạ Lâm Xuyên, thì tên Thiết Lang Kỵ đang nằm gục dưới đất bỗng dùng hết chút tàn lực cuối cùng, vung mạnh thanh bội kiếm còn sót lại trong tay, nhắm thẳng vào Tạ Lâm Xuyên mà phóng tới!

"Trả thù– cho đại vương tử!"

Mũi kiếm nhọn hoắt vun vút lao thẳng về phía lưng y, khoảng cách ngắn ngủi đến nhường này, Tạ Lâm Xuyên đang cưỡi trên lưng ngựa quay lưng lại với hắn ta gần như chẳng có cách nào né tránh cho kịp.

Vào khoảnh khắc ấy, thời gian dường như bị kéo giãn ra vô tận. Đồng tử Tần Lệ run rẩy co rụt.

Một tiếng keng vang lên, là tiếng mũi kiếm đâm xuyên qua lớp giáp trụ.

Có những mảnh ký ức vỡ vụn chợt lóe lên trước mắt hắn: ngục tối âm u, ánh nến chập chờn, gương mặt cười cợt đầy ác độc của kẻ thù.

Đoản đao, máu tươi, than hồng... cuối cùng dừng lại ở một đôi mắt đen tĩnh lặng mà kiên quyết.

Bóng hình từng lừa dối hắn, từng phản bội hắn, song cũng từng yêu hắn sâu đậm đổ sụp vào lòng hắn, mặc cho hắn có gào thét đến điên dại thế nào cũng không bao giờ mở mắt ra nữa.

Không thể... hắn không thể nếm trải điều đó thêm một lần nào nữa!

"Tần Lệ! Ngươi làm cái gì vậy? Mau buông tay ra!" Tiếng gọi trầm trọng dồn dập của Tạ Lâm Xuyên vang lên bên tai.

Tần Lệ sực tỉnh trong chớp mắt, hắn cúi đầu nhìn xuống, thấy mũi kiếm kia đã đâm rách lớp giáp trụ của Tạ Lâm Xuyên, rỉ ra vài giọt máu, mà lưỡi kiếm bấy giờ đang bị chính bàn tay hắn siết chặt lấy. Máu tươi nương theo kẽ tay tuôn rơi thành dòng, nhỏ giọt xuống đất.

Một tiếng leng keng vang lên, thanh trường kiếm rơi xuống đất. Cơn đau nhức nhối cùng dòng máu nóng tuôn ra từ lòng bàn tay như đang nhắc nhở hắn rằng: khung cảnh trước mắt là hiện thực, chứ không phải cơn ác mộng không thể thay đổi kết cục kia.

Tạ Lâm Xuyên ra sức siết lấy cổ tay hắn, đôi mày cau chặt, trầm giọng nói: "Ngươi điên rồi sao? Không cần cái tay này nữa à?"

"Không cần..."

"Cái gì mà không cần? Ngươi nói bậy gì đó..."

Tạ Lâm Xuyên ngẩn ra, chạm phải đôi mắt đỏ ngầu u tối của Tần Lệ. Thứ cảm xúc phức tạp chẳng thể gọi tên đang điên cuồng trào dâng nơi đáy mắt hắn, sắc máu bấy giờ đang dần rút sạch khỏi bờ môi đang run rẩy của hắn.

Mắt hắn đăm đăm khóa chặt vào Tạ Lâm Xuyên, dùng bàn tay nhuốm đầy máu tươi ấy áp lên gò má và sườn cổ y.

Giọng nói của hắn nghẹn ngào đến tận cùng, âm cuối run rẩy mang theo nỗi trầm uất và đớn đau vô tận: "Trẫm từng hứa sẽ bảo toàn tính mạng cho ngươi, quân vô hí ngôn, đương nhiên là... phải nói được làm được."

. . .

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn