Tống Bình còn nhớ rất rõ, ngày hắn lên đường là mồng sáu tháng giêng. Tuyết rơi dày như lông ngỗng giữa trời. Cha vẫn còn đang bệnh, mẹ sợ cha nhiễm gió, đêm đến lại ho không dứt, nên không cho cha tiễn hắn ra cửa. Không ngờ cha lại lén lút đi từ cửa sau.
Trời âm u, tuyết rơi lớn, khắp đất trời trắng xóa mênh mang. Trong màn tuyết dày, hắn nhìn thấy rõ ràng bóng cha lom khom cúi người, hai tay giấu trong tay áo, liên tục nhón chân, ngẩng đầu về phía hắn vẫy gọi.
Khi ấy, hắn và mẹ đang lưu luyến dặn dò nhau. Cha sợ mẹ bất chợt quay người nhìn thấy mình, nên cứ thỉnh thoảng lại nép vào góc tường. Núp một lát, lại không nhịn được mà bước ra, rồi lại nhón chân lên, ngẩng đầu nhìn. Lặp đi lặp lại.
Lúc xe ngựa lăn bánh, hắn thấy mẹ và cha cùng lúc vẫy tay tiễn hắn, một người đứng gần, một người đứng xa. Hắn nước mắt đầm đìa.
*****
Nào ngờ mười năm dùi mài đèn sách, đổi lại chẳng phải vinh danh bảng vàng, mà là nỗi nhục suốt đời không thể rửa. Người duy nhất hắn thấy có lỗi, chính là cha mẹ. Vì vậy, khi nhà họ Hạ đề nghị trả năm lượng bạc mỗi tháng để mời hắn làm tiên sinh dạy học, hắn không chút do dự nào mà đồng ý.
Năm lượng bạc, tích góp một năm là sáu mươi lượng, có thể mua cho cha vài củ nhân sâm thường loại khá tốt. Chỉ cần hắn ẩn nhẫn thêm ba năm, cố gắng thêm ba năm thì nhất định có thể vinh quy bái tổ.
"Vinh quy bái tổ" là một lời tốt đẹp, là điều mà cả đời kẻ sĩ theo đuổi, cũng là điều cha hằng mong mỏi nơi phủ Khai Phong.
Con người sống là sống vì một hơi thở. Hắn tin rằng, chỉ cần hơi thở trong lòng mình chưa tắt thì hơi thở cha c.ắ.n răng chờ đợi hắn trở về, cũng sẽ không tắt. Cha con bọn họ nhất định có ngày đoàn tụ.
Nào ngờ ẩn nhẫn ba năm, chờ đợi ba năm đằng đẵng, đổi lại vẫn là... ngay cả cổng trường thi hắn cũng không thể bước vào.
Trời của Tống Bình sụp đổ hoàn toàn. Hắn muốn tìm Mao Đầu hỏi cho rõ ràng, vì sao lại làm như vậy, nhưng biển người mênh mông, biết đi đâu tìm? Hỏi ai? Hắn từng nghĩ đến chuyện mua dây thừng treo cổ tự vẫn, nhưng vừa nghĩ đến cha mẹ vẫn đang khổ sở đợi hắn ở nhà, lại không nỡ c.h.ế.t. Giống như một con ch.ó hoang mất chủ, hắn lặng lẽ rời khỏi Hạ phủ, rời khỏi kinh thành trong một đêm tối như mực.
Mười ngày sau, xe ngựa đến phủ Khai Phong. Hắn bước vào cửa nhà, trong lòng tràn đầy hổ thẹn, quỳ sụp trước cha mẹ, khóc như một đứa trẻ. Khóc xong, hắn đem ba năm qua trải hết ra, kể lại từng chuyện một.
Cha nghe xong, miệng phun ra một ngụm máu, người ngã vật xuống.
Lúc này hắn mới phát hiện cha đã gầy chỉ còn da bọc xương, còn mẹ thì già đi nhiều lắm rồi. Những lời trong thư "cha mẹ bình an, con chớ lo lắng", chẳng qua chỉ là giấu khổ báo vui, để hắn yên tâm học hành mà thôi.
Lang trung đến khám, nói nếu dùng sâm trăm năm để cầm cự, còn có thể kéo dài thêm ba tháng. Nhân sâm trăm năm rất đắt, vì muốn cha con được gặp lại một lần trong đời, ba năm qua mẹ đã tiêu hết sạch tiền tích góp. Không chỉ thế, những gì trong nhà có thể bán đều đã bán cả rồi, đến chiếc vòng vàng lớn quý giá nhất trong tay mẹ cũng không còn giữ được.
Mẹ lau nước mắt, nói: "Giờ hai cha con đã gặp nhau rồi thì để cha con ra đi thanh thản, ba năm nay ông ấy đã chịu đủ khổ rồi, chỉ vì chờ con về”.
Nhưng hắn không cam lòng. Hắn vẫn chưa được vinh quy bái tổ, chưa từng khiến cha nở mày nở mặt, chưa cho cha hưởng được một ngày an nhàn, sao có thể để cha âm thầm, tủi hổ rời đi giống như hắn rời khỏi kinh thành kia? Nếu cha c.h.ế.t, kẻ có tội với Tống gia là hắn còn mặt mũi nào sống trên đời?
Thế là hắn c.ắ.n răng nói: "Dù có bán cả nhà cả đất tổ tiên, cũng phải kéo dài cho cha thêm vài tháng”.
Hắn bỏ lại một câu "đợi con, con đi vay tiền", rồi lao ra khỏi cửa.
Hắn cứ nghĩ thế giới này vẫn như xưa. Nào ngờ sáu năm trôi qua, trong mắt người đời, hắn đã không còn là chàng thanh niên có chí lớn, tiền đồ rộng mở năm nào, mà là một kẻ sĩ nghèo khổ, hai lần đều không thể bước vào cửa trường thi.
"Có thể cho mượn, nhưng ngươi chỉ là một thư sinh nghèo, lấy gì mà trả?".
"Hai lần đều không vào nổi trường thi, xem ra ngươi cũng là kẻ không có bản lĩnh, tiền này không thể cho vay”.
"Cút đi, cút đi! Cả người xui xẻo, đứng trước cửa nhà ta làm gì, thật là xúi quẩy!".
Khi hắn còn thời vận, chỉ cần ho nhẹ một tiếng, xung quanh lập tức có người hỏi han, săn sóc. Còn khi sa cơ, dù có quỳ xuống van xin, người ta cũng chỉ chê hắn làm bẩn đất dưới chân.
Hắn đi hết một vòng, quỳ một vòng, cầu xin một vòng, đến một lượng bạc cũng không mượn được.
Trở về nhà, thân thể cha đã lạnh toát. Cha tự vẫn. Vì không muốn trở thành gánh nặng của con, lúc mẹ đang sắc thuốc, cha đã treo chăn lên xà nhà…
Cha không để lại một lời trăn trối nào, chỉ để lại cho hắn một căn phòng đầy đồ đạc. Đó là những món đồ cha đã dồn hết sức lực, từng chút từng chút một làm nên trong sáu năm qua. Giường chạm trổ tinh xảo, bàn trước giường, ghế nhỏ, bàn trang điểm, tủ khóa kín… đều là đồ dùng cho ngày hắn thành thân.
Mẹ nói cha không chỉ mong hắn vinh quy bái tổ, mà còn mong hắn thành gia lập nghiệp. Mẹ còn nói, mỗi khi cha làm những thứ này, trên mặt luôn nở nụ cười. Cười rất vui.
Tống Bình chưa từng nghĩ, hai mươi năm đèn sách ròng rã, kết cục lại là chính tay hắn ép c.h.ế.t cha mình. Hắn lần lượt sờ từng món đồ, nước mắt tuôn không thành tiếng.
Sau khi cha mất, mẹ chỉ qua một đêm đã bạc tóc, thân thể cũng yếu dần, chẳng bao lâu sau đã nằm liệt giường.
Người đời thường nói, vợ chồng ân ái cả đời, một người ra đi trước, người còn lại cũng theo sau. Trước khi rời đi, mẹ gọi hắn đến bên giường, kể một câu chuyện.
Nói rằng ở phủ Bảo Định có một tiên sinh, một hôm ra ngoài bị rơi túi tiền, được một nam tử nhặt được. Tiên sinh để tỏ lòng biết ơn, bèn mời nam tử về nhà chơi.
Tiên sinh có một cô con gái, hôm đó đang ngồi thêu dưới cửa sổ. Nam tử trông thấy liền nảy sinh tình ý, ba ngày hai bận tìm cớ đến nhà, không chỉ mang đồ ăn nước uống, còn chủ động sửa chữa nhà cửa giúp tiên sinh.
Nam tử ấy không chỉ bảnh bao, mà còn hào phóng, nhất là miệng lưỡi ngọt như rót mật, khiến cô con gái chẳng mấy chốc đã xao động.
Tiên sinh nhận ra điều gì đó, bèn dò hỏi hoàn cảnh gia đình nam tử. Nam tử nói nhà ở kinh thành, có chút ruộng đất, cha mẹ đều còn, chỉ thiếu một người vợ hiền. Nghe xong, tiên sinh ngầm khuyên nên sớm tới cửa cầu thân.
Thanh niên đáp: "Trong vòng ba tháng”.
Ba tháng sau, bà mối đến, cùng tiên sinh định ra hôn sự. Nàng là con gái độc nhất của tiên sinh, mẹ ruột đã mất ba năm. Hôn sự có nơi có chốn, làm cha tất nhiên rất vui, buổi tối bèn giữ nam tử ở lại uống thêm mấy chén.
Nam tử ngà ngà say, lưu lại nhà, nửa đêm lẻn vào phòng người con gái. Cô nương nghĩ rằng hôn sự đã định, lại là người mình yêu, nên chỉ khẽ đẩy rồi thuận theo.
Ba đêm liền, nam tử đều đến lúc khuya, trời sáng thì đi. Đến ngày thứ ba, hắn viện cớ ra ngoài lo việc, bảo cô nương chờ mình. Cô nương chờ mãi, chờ đến khi bụng đã lộ rõ, mà vẫn không thấy người quay lại.
Tiên sinh bắt đầu cảm thấy có điều bất thường, tìm đến học trò cũ dò hỏi, mới biết nam tử đó nào phải người bình thường có ruộng đất, mà là Trường Bình Bá gia danh tiếng lẫy lừng ở kinh thành.
Vị Bá gia này không chỉ có chính thất, có thiếp, bên ngoài còn nuôi bảy tám người thiếp lẽ, con riêng, con rơi đếm không xuể. Sở thích lớn nhất của hắn không phải là đi lầu này, lầu nọ, mà là gạt gẫm những cô nương nhà lành. Càng là con nhà đàng hoàng, hắn càng muốn lừa.