Cơn mưa bão cuối tháng Chín trút xuống bán đảo Sơn Trà như muốn xé toạc màn đêm. Gió rít từng cơn điên cuồng qua những rặng phi lao ven bờ biển, quất từng luồng nước lạnh buốt rát mặt vào kính chắn gió của chiếc xe đặc chủng thuộc Đội Cảnh sát Hình sự Công an thành phố Đà Nẵng. Cần gạt nước hoạt động hết công suất, phát ra những tiếng ken két khô khốc trên mặt kính mờ mịt hơi sương.
Chu Phương Mai ngồi ở ghế phụ phía trước, bàn tay phải siết chặt báng khẩu súng ngắn K54 bên hông. Cánh tay trái của cô – nơi vừa phải chịu đựng mũi tiêm sượt qua chứa độc chất Succinylcholine dưới tầng hầm B2 Bệnh viện An Sinh – vẫn còn một cảm giác tê rần âm ỉ dọc theo từng bó cơ. Dù vậy, qua lớp băng gạc dã chiến ép chặt dưới ống tay áo, từng khớp ngón tay của cô vẫn nắm chặt lấy chiếc máy tính bảng chiến thuật. Sự sắc bén trong từng giác quan của một trinh sát hình sự dày dạn không hề suy giảm. Đôi mắt Mai phản chiếu ánh đèn đỏ nhấp nháy từ hai chiếc xe tuần tra hộ tống phía trước, lạnh lùng và căng thẳng tột độ.
Ở hàng ghế sau, Phạm Khải tựa đầu vào cửa kính. Mai nhìn qua gương chiếu hậu, thấy rõ gương mặt anh trắng bệch như sáp, làn da gần như trong suốt dưới ánh đèn trần lờ mờ của khoang xe. Miếng băng gạc y tế dán nơi mu bàn tay phải của anh vẫn rỉ ra một chấm máu đỏ tươi – dấu vết của chiếc kim truyền dịch mà anh đã dứt khoát giật phăng ra chỉ mười lăm phút trước ngay trên giường bệnh của Phòng Kỹ thuật Hình sự. Mắt phải của Khải vỡ một mảng mao mạch lớn, đỏ rực như giọt máu đọng, di chứng từ đợt phản chấn dữ dội của dị năng Âm Hồi sau khi anh chạm vào da thịt tử thi Võ Hoàng Nam.
Mai quay đầu lại, nhìn Khải với ánh mắt vừa nghiêm khắc vừa xót xa:
“Anh nhắm mắt nghỉ ngơi đi. Huyết áp của anh lúc rời phòng khám nghiệm chỉ vừa chạm ngưỡng 85/50. Cơn ngừng tim vừa rồi suýt nữa đã cướp anh đi vĩnh viễn.”
Khải không nhắm mắt. Ánh nhìn của anh xuyên qua lớp kính ướt nước, hướng về phía ngọn hải đăng Tiên Sa đang quét những luồng sáng mờ mịt trong bão. Một tay anh áp chặt lên túi áo ngực, nơi chiếc túi niêm phong chứa phôi chìa khóa CHUBB - CENTURY B-4 bằng hợp kim mạ crôm đang nằm lạnh ngắt trên da thịt.
“Tôi không thể ngủ được, Mai,” giọng Khải khàn đặc, từng âm tiết thốt ra như cọ xát vào lớp thanh quản khô khốc. “Ba giây cuối cùng trong tâm trí của Nam... tiếng kim loại nghiến trên đường ray, tiếng còi tàu hỏa hú dài hòa lẫn vào tiếng động cơ thủy lực của cẩu trục gantry... những âm thanh đó đang dội liên hồi trong đầu tôi. Nếu trước mười giờ sáng mai chúng ta không tìm thấy chiếc két sắt, Trần Vĩnh Hưng sẽ cắt băng khánh thành cất nóc Sơn Trà Pearl. Hắn sẽ niêm yết cổ phiếu, hợp thức hóa toàn bộ dòng tiền bẩn và biến tội ác năm năm trước thành một tượng đài bất khả xâm phạm.”
Ngồi bên cạnh Khải, Thượng tá Lê Trọng Đạt đặt chiếc máy bộ đàm xuống đùi. Khuôn mặt vuông vức hằn sâu những nếp nhăn sương gió của người chỉ huy Đội Trọng án đanh lại dưới ánh sáng chập chờn:
“Cục Hải quan và Bộ đội Biên phòng Cửa khẩu Cảng Tiên Sa đã nhận lệnh phối hợp đặc biệt từ Ban Giám đốc Công an thành phố. Chúng ta có lệnh khám xét khẩn cấp toàn bộ các phân khu bốc dỡ. Nhưng Khải này, Cảng Tiên Sa rộng gần ba mươi héc-ta, hiện có hơn mười hai ngàn container đang lưu bãi, xếp chồng tầng bốn, tầng năm như những pháo đài thép. Nếu chỉ rà soát cơ học thông thường, cả một trung đoàn công binh lục soát ba ngày ba đêm cũng không xuể. Tất cả trông cậy vào tọa độ âm học mà cậu đã ghi nhận.”
Khải khẽ gật đầu. Anh hít một hơi thật sâu, mùi kẹo bạc hà cay nồng anh vừa ngậm tan dần trong cuống họng, đè nén cơn buồn nôn do di chứng thiếu máu não cục bộ.
“Võ Hoàng Nam là một kẻ mắc chứng ám ảnh cơ khí hoàn hảo,” Khải nói chậm rãi, giọng anh lấy lại sự điềm tĩnh và chính xác của một bác sĩ giải phẫu bệnh. “Hắn không bao giờ đặt một vật chứng sống còn ở những nơi có độ ẩm vượt ngưỡng hoặc chịu rung chấn trực tiếp. Ba giây âm thanh tôi nghe thấy có sự phân tách âm vị cực kỳ rõ ràng: tiếng còi tàu hỏa mang tần số 120Hz của đầu máy diesel D19E, nhưng tiếng rít hãm phanh lại có độ trễ 0,8 giây so với âm thanh cẩu trục gantry RMG đang bốc dỡ. Độ trễ 0,8 giây trong không gian mở gần mặt biển tương đương với khoảng cách phản xạ âm học là 270 mét tính từ tuyến đường sắt nội cảng đến bờ kè chắn sóng. Chỉ có một khu vực duy nhất thỏa mãn hình học âm thanh này.”
Mai lập tức mở chiếc máy tính bảng chiến thuật trên đùi, ngón tay lướt nhanh trên sơ đồ mặt bằng kỹ thuật số của Cảng Tiên Sa:
“Khoảng cách 270 mét từ nhánh đường sắt chuyên dùng số 2 chếch về hướng Tây... Đó là bãi container phế liệu và hàng hóa tồn đọng lâu năm ở góc Tây Bắc! Khu vực đó nằm sát chân núi, gần như bị bỏ hoang sau khi cụm kho ngoại quan mới đi vào vận hành. Nơi đó không có camera an ninh quét tới vì bị các khối cẩu trục cũ che khuất.”
“Chính là nó,” ánh mắt Khải lóe lên một tia sáng sắc lạnh. “Chiếc container đó nằm ở đó.”
Chiếc xe đặc chủng gầm rú lao qua cổng kiểm soát số 2 của Cảng quốc tế Tiên Sa. Thanh chắn barie điện tử giương cao dưới sự điều hành của hai cán bộ Hải quan mặc áo mưa phản quang. Không một tiếng còi hụ, không đèn chớp xé rào, đoàn xe gồm ba chiếc âm thầm lướt qua những bãi container ngút ngàn như một toán trinh sát tiến vào vùng chiến sự ngầm.
Khi xe dừng lại ở rìa phân khu Tây Bắc, tiếng gầm gào của biển cả dội vào bờ kè bê tông nghe như tiếng đại bác nổ trầm. Cả một rừng container bằng thép của các hãng tàu quốc tế – Maersk, Evergreen, MSC, Cosco – xếp chồng chất thành những hẻm vực hun hút, tối tăm và ướt sũng. Nước mưa từ nóc các thùng hàng cao mười mấy mét đổ xuống thành từng thác nước nhỏ, xối xả đập vào nền nhựa đường nứt nẻ.
Mai đạp cửa xe bước xuống đầu tiên. Gió bão lập tức quất thẳng vào người khiến chiếc áo khoác dã chiến màu đen của cô dán chặt vào cơ thể. Cô giật chốt an toàn khẩu K54, ra hiệu bằng tay cho tổ trinh sát sáu người trang bị áo giáp chống đạn và súng tiểu liên MP5 tản ra bao bọc hai cánh. Đi ngay sát phía sau là hai chiến sĩ công binh thuộc Đội Xử lý bom mìn của Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố được tăng cường, mang theo thùng đồ nghề rà phá chuyên dụng bọc kín vải bạt chống nước.
Thượng tá Đạt cùng Khải bước xuống ngay sau đó. Khải khoác chiếc áo choàng chống nước màu sẫm, kéo sụp mũ che đi một nửa khuôn mặt xanh xao, tay cầm chiếc đèn pin chiến thuật công suất lớn.
Đội trưởng Đội kiểm soát Hải quan Tiên Sa – một người đàn ông trạc tứ tuần mang áo mưa đồng phục – chạy tới bên cạnh Mai, che chiếc ô bạt lớn về phía Thượng tá Đạt, giọng ông phải hét lên giữa tiếng bão rít:
“Báo cáo các đồng chí! Toàn bộ phân khu Tây Bắc này có bốn trăm hai mươi vỏ container cũ, phần lớn là hàng lưu kho quá hạn từ năm 2018 đến 2020 chờ thanh lý cơ khí. Điện chiếu sáng công nghiệp ở nhánh này đã bị cắt để phòng chống cháy nổ trong bão. Chúng tôi đã cho cô lập nguồn cấp dữ liệu bãi từ máy chủ trung tâm!”
“Không cần kiểm tra toàn bộ,” Mai nói to, ánh mắt cô quét qua từng dãy thép rỉ sét ngập tràn mùi ẩm mốc, mùi kim loại oxy hóa và mặn mòi của muối biển. “Chúng ta tìm một thùng hàng dài hai mươi feet, có dấu hiệu hoán cải hệ thống thông gió hoặc khóa phụ cơ khí bên ngoài!”
Khải bước lên phía trước hai bước. Mai chú ý thấy anh đứng sững giữa ngã tư của hai dãy container cao ngất ngưởng, nhắm nghiền hai mắt lại.
Gió rít. Tiếng tôn thép va đập loong xoong. Tiếng còi tàu vọng lại từ ga hàng hóa phía xa. Nhìn từng biểu cảm căng cứng trên cơ mặt của Khải, Mai hiểu rằng anh đang tái hiện lại từng tần số âm thanh vô hình thu được từ dị năng Âm Hồi trong tâm trí.
Sau chừng mười giây nín thở, Khải mở mắt, bàn tay chỉ thẳng đèn pin vào hẻm container số 4 nằm sâu hun hút dưới chân một cẩu trục giàn đã rỉ sét nửa phần chân đế:
“Dãy số 4, container thứ ba bên tay trái, lớp dưới cùng!”
Toàn đội lập tức di chuyển. Mai dẫn đầu, súng ngắn giương ngang tầm mắt, từng bước chân chắc nịch lướt qua những vũng nước sâu ngập mắt cá. Các trinh sát hình sự lập tức chiếm lĩnh các góc chết, họng súng đen ngòm quét qua từng khe hở giữa các thùng hàng.
Chiếc đèn pin cực mạnh của Mai rọi thẳng vào bề mặt thùng container mà Khải vừa chỉ định.
Đó là một khối thép hai mươi feet mang lớp sơn xanh dương đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ những mảng rỉ sét màu nâu sẫm như máu khô. Trên vách thép dập nổi dòng mã số nhận diện quốc tế: TSU-4099.
Mai tiến lại gần, dùng mũi giày gạt lớp bùn đất bám dưới mép cửa thùng xe. Cô lập tức nhận ra điểm bất thường:
“Thượng tá! Nhìn chiếc then cài này!”
Thượng tá Đạt và Khải bước tới. Dưới luồng sáng gom tụ của đèn pin, chốt khóa quay tiêu chuẩn của hãng vận tải biển trên chiếc container TSU-4099 đã bị cắt rời từ lâu. Thay vào đó, tay cầm cơ khí được gắn vào một cụm chốt trượt hợp kim dày bản, phủ một lớp mỡ bò công nghiệp màu đen bóng loáng để chống lại sự ăn mòn của không khí mặn Tiên Sa. Lớp cao su làm kín ở khe cửa không hề bị lão hóa hay nứt nẻ như những thùng hàng phế liệu xung quanh, mà là loại gioăng cao su đôi EPDM chuyên dùng cho phòng thí nghiệm áp suất âm.
“Vỏ ngoài là phế liệu, nhưng cấu trúc cửa đã được hoán cải toàn diện,” Khải thì thầm, ngón tay anh chạm nhẹ vào viền thép mép cửa. “Một cánh cửa cách ly tuyệt đối.”
“Cắt khóa!” Thượng tá Đạt trầm giọng ra lệnh.
Hai trinh sát cơ động lập tức mang chiếc kìm cộng lực thủy lực cỡ lớn áp vào quai khóa ngầm bằng thép tôi carbon. Một tiếng cạch đanh gọn vang lên, đoạn thép dày hai phân đứt lìa rơi xuống vũng nước.
Mai dùng tay trái đẩy nhẹ cánh cửa thép nặng trịch. Tiếng bản lề được bôi trơn kỹ lưỡng quay êm ru, không hề phát ra một tiếng cót két nào – một chi tiết hoàn toàn đối nghịch với vẻ hoang phế mục nát của ngoại cảnh.
Một luồng không khí khô ráo, thoang thoảng mùi dung môi Trichlorethylene, mùi mạt sắt cháy và mùi ozone đặc trưng của thiết bị điện tử phả thẳng vào mặt Mai.
Mai giương đèn pin bước vào bên trong, khẩu K54 khóa chặt mọi góc độ. Khải và Thượng tá Đạt bước theo sát phía sau.
Cảnh tượng bên trong chiếc container TSU-4099 khiến tất cả mọi người có mặt đều phải sững sờ.
Nơi đây hoàn toàn không phải là một khoang chứa hàng thông thường. Toàn bộ sáu mặt vách thép của thùng container đã được gia cố bằng hai lớp vật liệu cách âm chuyên dụng: lớp trong cùng là các tấm m*t xốp trứng tiêu âm màu xám than phủ kín từ trần xuống sàn, lớp ngoài là các tấm hợp kim amiăng chống cháy dày ba mươi milimét. Một hệ thống máy hút ẩm mini hoạt động bằng nguồn điện ắc quy biến tần đang khẽ nhấp nháy đèn xanh ở góc trần, giữ cho độ ẩm bên trong khoang luôn ở mức lý tưởng dưới 45%.
Đây chính là một căn phòng trú ẩn, một trạm chế tác ngầm bí mật tuyệt đối của Võ Hoàng Nam – “Thợ Hàn”.
Trên chiếc bàn thao tác cơ khí gắn chặt vào vách thép, hàng chục loại kìm bấm cáp chuyên dụng, mỏ hàn laser mini, kính bảo hộ và các cuộn dây hợp kim Nitinol xếp ngay ngắn như dụng cụ trong một phòng mổ ngoại khoa. Nhưng tất cả những thứ đó đều không thu hút ánh nhìn của Mai và Khải bằng vật thể sừng sững đặt ngay chính giữa gian phòng.
Đó là một khối kim loại hình lập phương khổng lồ, cao gần một mét tư, rộng một mét hai, được cố định chặt xuống dầm thép sàn container bằng bốn thanh giằng cơ khí khóa bulông cường độ cao. Bề mặt khối thép được sơn tĩnh điện màu xám ghi mờ, dày dặn và kiên cố như một pháo đài mini.
Ánh đèn pin của Mai quét qua tấm bảng đồng đúc tinh xảo gắn ngay phía trên tay nắm xoay:
CHUBB LOCKS – CENTURY B-4 HEAVY DUTY FIREPROOF SAFE (Két sắt chống cháy cơ khí hạng nặng hai tầng)
Cân nặng ước tính của cỗ máy thép này không dưới sáu trăm kilôgam. Ở trung tâm cánh cửa là một ổ khóa cơ học kép: một đĩa quay số mã hóa bốn vòng bằng đồng thau và một ổ cắm chìa dạng dẹt ba cạnh cực kỳ phức tạp.
Mai tiến lại gần, cúi đầu quan sát thật kỹ bề mặt ổ khóa. Đĩa quay số bằng đồng thau đã được gạt chốt khóa cơ học ở vị trí vạch đỏ mở sẵn, cố định bằng một lẫy chặn chuyên dụng. Nam đã chủ động vô hiệu hóa cơ cấu quay số từ trước, giữ đĩa số ở vạch giải mã sẵn để có thể mở khẩn cấp két sắt chỉ bằng một chiếc chìa khóa duy nhất mang theo bên người.
“Đúng là nó rồi...” Mai thở hắt ra một hơi, lồng ngực cô phập phồng sau lớp áo giáp. “Chiếc chìa khóa của Nam.”
Khải bước tới gần chiếc két. Bàn tay anh run rẩy luồn vào túi áo ngực, lấy ra chiếc túi niêm phong chứa phôi chìa khóa thép sáng loáng vừa được tách ra từ mặt dây chuyền mã não của thi thể Nam vài tiếng trước.Khải chuẩn bị tra chìa vào ổ, nhưng bàn tay của Mai đột ngột vươn ra, siết chặt lấy cổ tay anh.
“Khoan đã, Khải!” Mai gằn giọng, ánh mắt cô đột ngột co rút lại.
Khải khựng lại: “Sao thế?”
Mai không trả lời ngay. Cô ngồi thụp xuống, cúi thấp người rọi đèn pin song song với mặt sàn thép, quét tia sáng dọc theo khe hở mỏng dính giữa cánh cửa két và khung thép chịu lực. Sau đó, cô lia đèn lên góc trên bên trái, nơi có một ô thông gió nhỏ được đục xuyên qua vách container nối với bầu lọc khí của két.
Ở khe cửa hẹp chưa đầy hai milimét, một sợi dây kim loại mảnh như sợi cước câu cá, màu xám mờ tiệp với màu sơn tĩnh điện, đang căng ngang một cách bất thường. Đầu kia của sợi dây luồn khéo léo qua một ròng rọc vi thể bằng đồng, dẫn thẳng lên chốt giữ mỏ vịt của một quả lựu đạn phân mảnh M26 gài chặt bên trong hốc thông gió.
“Bẫy vướng cơ học,” Mai lạnh lùng nói, từng giọt mồ hôi lạnh rỉ ra trên trán cô rồi chảy dọc xuống gò má. “Nếu cắm chìa khóa và vặn tay nắm cánh cửa mở ra quá năm phân, lực kéo sẽ giật chốt mỏ vịt. Cả khoang container kín bằng m*t xốp này sẽ biến thành một lò sát sinh bằng mảnh thép và sóng xung kích trong vòng ba giây.”
Khải sững sờ nhìn theo luồng sáng đèn pin của Mai. Anh vô thức lùi lại nửa bước, ánh mắt hiện lên vẻ bàng hoàng trước thủ đoạn tàn độc và tỉ mỉ của kẻ sát nhân.
Thượng tá Đạt lập tức đặt tay lên báng súng, dứt khoát ra lệnh:
“Tất cả lùi lại! Không ai được chạm vào hiện trường! Tổ công binh vào vị trí!”
Người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm lập tức yêu cầu Mai và Khải lùi ra phía sau mép cửa container để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Hai chiến sĩ công binh chuyên trách xử lý bom mìn bước vào khoang thép. Họ mang theo áo giáp chống mảnh văng hạng nặng, mũ bảo hộ có kính che mặt cường lực và vali dụng cụ chuyên dụng.
Trung úy công binh Nguyễn Tuấn – người có mười năm kinh nghiệm rà phá vật liệu nổ – quỳ một chân xuống sàn thép. Anh bật chiếc đèn rọi công binh không chói, đưa đầu camera nội soi quang học sợi thủy tinh luồn vào khe hốc thông gió để kiểm tra cơ cấu kích nổ.
“Báo cáo Thượng tá, đúng là lựu đạn phân mảnh M26,” giọng người chiến sĩ công binh truyền qua bộ đàm nội bộ bình tĩnh nhưng căng như dây đàn. “Cơ cấu giật chốt bằng dây cáp thép đàn hồi kết hợp lò xo phụ. Ngòi nổ chưa bị biến dạng. Chúng tôi sẽ sử dụng kẹp hãm cơ học chữ U để khóa chặt cần bẩy mỏ vịt, sau đó luồn chốt an toàn phụ bằng thép carbon vào lỗ kim hỏa trước khi cắt dây truyền động.”
Mai đứng tựa lưng vào vách cửa container, mắt không rời từng thao tác của tổ công binh. Khải đứng ngay sát bên cạnh cô. Mai cảm nhận được bờ vai của Khải đang khẽ run lên dưới lớp áo choàng sẫm màu. Bàn tay anh nắm chặt túi niêm phong chứa chìa khóa đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra.
“Bình tĩnh lại, Khải,” Mai khẽ thì thầm, bàn tay cô đặt nhẹ lên mu bàn tay lạnh ngắt của anh, truyền cho anh hơi ấm vững chãi. “Chúng ta đã đi đến tận đây rồi. Đồng đội của chúng ta là những người giỏi nhất.”
Khải nhìn sang Mai, ánh mắt anh dần lấy lại sự trầm tĩnh kiên định. Anh khẽ gật đầu, hít sâu một hơi để ổn định lại nhịp tim đang đập dồn dập sau cơn ngừng tim nguy kịch.
Bên trong container, sự tĩnh lặng kéo dài đến nghẹt thở. Chỉ có tiếng kim loại chạm nhau lách cách rất nhỏ của kẹp hãm chuyên dụng và tiếng gió bão gầm rít dữ dội ngoài vịnh Tiên Sa.
Mười phút trôi qua tựa như cả một thế kỷ.
Người chiến sĩ công binh cẩn trọng dùng kìm bấm chuyên dụng đưa chốt thép carbon xuyên qua lỗ hãm mỏ vịt của quả lựu đạn, gập cánh chốt lại. Sau đó, chiếc kẹp chữ U khóa chặt toàn bộ thân quả nổ vào khung thép.
Một tiếng tách nhẹ vang lên.
Sợi dây cáp thép nối với cánh cửa két sắt được cắt rời hoàn toàn mà không làm xê dịch lẫy hãm nửa milimét nào.
Trung úy Tuấn thở phào một hơi dài qua tấm kính bảo hộ, ngẩng đầu báo cáo:
“Báo cáo Thượng tá! Bẫy nổ đã bị vô hiệu hóa an toàn 100%! Cánh cửa két sắt đã tự do!”
Thượng tá Đạt gật đầu dứt khoát:
“Tốt lắm! Đưa khối nổ ra ngoài bãi trống xử lý theo quy trình!”
Hai chiến sĩ công binh cẩn thận tháo quả lựu đạn M26 khỏi hốc thông gió, đặt vào hộp chống nổ chuyên dụng rồi nhanh chóng rút ra ngoài container.
Không gian bên trong căn phòng ngầm chỉ còn lại Thượng tá Đạt, Mai và Khải.
“Đến lượt cậu rồi, Khải,” Thượng tá Đạt trầm giọng nói, ánh mắt người cựu trinh sát hình sự ánh lên sự trang nghiêm hiếm thấy.
Mai bước lại gần chiếc két sắt Chubb Locks, giơ cao chiếc đèn pin chiến thuật để rọi sáng toàn bộ bề mặt ổ khóa bằng đồng thau.
Khải bước tới trước mặt chiếc két. Anh xé chiếc túi niêm phong bằng nhựa trong suốt, lấy phôi chìa khóa CHUBB - CENTURY B-4 ra.
Nhìn bàn tay Khải run lên khi cầm chiếc chìa khóa lạnh ngắt, Mai cảm nhận rõ sự uất ức và gánh nặng công lý đang đè nặng lên vai người cộng sự. Suốt năm năm qua, người bác sĩ pháp y này đã phải sống trong bóng tối của sự nghi kỵ, ôm mối đau đáu về cái chết bị gắn mác “tự sát” của cha mình. Và giờ đây, cánh cửa của sự thật chỉ còn cách anh đúng một vòng xoay cơ khí.
Khải hít một hơi thật sâu, đưa tay tra chiếc chìa khóa vào ổ cắm ba cạnh.
Răng rắc... cạch!
Chiếc chìa khớp hoàn toàn vào các bi cơ học bên trong ổ khóa không một khe hở sai lệch.
Khải quay đầu nhìn sang Mai và Thượng tá Đạt. Đón nhận ánh mắt kiên định và cái gật đầu dứt khoát của cả hai người, Khải đặt hai tay lên tay vặn bằng thép đúc hình chữ thập.
Anh dồn toàn bộ sức lực của cơ thể vừa trải qua cơn thập tử nhất sinh, xoay mạnh tay nắm theo chiều kim đồng hồ.
Một chuỗi âm thanh cơ khí trầm đục, vang dội như tiếng bánh răng đồng hồ khổng lồ chuyển động vang lên từ sâu bên trong lòng cánh cửa thép:
Tách... tạch... rầm!
Bốn chốt khóa bằng thép tròn đường kính năm mươi milimét thu lại vào trong thân cửa. Hệ thống gioăng chịu nhiệt bung ra với một tiếng xì hơi nén nhỏ.
Toàn bộ lực lượng điều tra có mặt trong khoang container nín thở. Thượng tá Đạt siết chặt nắm đấm, còn Mai vô thức tiến lại gần, đặt một bàn tay ấm áp lên bờ vai Khải.
Khải kéo mạnh cánh cửa thép dày gần hai mươi phân ra ngoài. Bản lề bi chịu tải nửa tấn xoay chuyển êm ái, mở toang không gian tăm tối bên trong lòng chiếc két sắt đã bị niêm phong suốt năm năm trời.
Ánh đèn pin chiến thuật của Mai và Đạt đồng loạt rọi thẳng vào khoang chứa đồ lót nhung đỏ bên trong.
Dưới luồng ánh sáng trắng rực rỡ, không có vàng bạc, không có những cọc tiền mặt hàng tỷ đồng.
Nằm cô độc và trang nghiêm ở tầng trên của chiếc két là một tập hồ sơ dày cộm, bìa bọc giấy kraft màu nâu đã ố vàng theo thời gian, mép giấy quăn queo vì năm tháng. Trên mặt bìa, dòng chữ viết tay bằng mực dạ xanh đậm nét, nắn nót và đanh thép đập thẳng vào mắt mọi người:
“BÁO CÁO GIÁM ĐỊNH ĐỊA CHẤT & CHẤT LƯỢNG MÓNG CỌC CÔNG TRÌNH CẢNG NAM HẢI – 2019” (Tiền thân Dự án Đô thị Sinh thái Sơn Trà Pearl)
Và nằm ngay ngắn đè lên tập tài liệu định mệnh ấy, là một chiếc máy ghi âm mini vỏ nhôm màu xám bạc của hãng Sony.
Trên thân chiếc máy ghi âm, một dải băng keo niêm phong bằng giấy đỏ đã ngả màu nâu nhạt vẫn còn nguyên vẹn, chưa từng bị bóc tách. Nằm chính giữa dải niêm phong ấy là một chữ ký tươi bằng mực đen quen thuộc đến từng nét móc, sắc sảo và kiên cường – chữ ký mà Mai từng thấy trong tập hồ sơ năm xưa và từng nghe Khải nhắc đến bằng tất cả sự kính trọng lẫn nỗi đau giằng xé:
Kỹ sư Giám sát Trưởng: Phạm Gia Bách.
Khải quỳ sụp xuống trước cửa chiếc két sắt. Mai nhìn thấy đôi bàn tay gầy guộc của anh run rẩy vươn ra, những đầu ngón tay khẽ chạm vào dải băng niêm phong mang chữ ký của người cha đã khuất. Những giọt nước mắt kìm nén suốt nửa thập kỷ trào ra từ khóe mắt đỏ rực tơ máu của anh, nóng hổi lăn dài trên đôi gò má tái nhợt giữa màn đêm gầm thét của bão biển Tiên Sa.