Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga
Chương 1: Sương sớm ga Hàng Cỏ
Bốn giờ sáng, tiếng còi tàu hơi nước xé toạc màn sương mù đặc quánh của mùa đông Hà Nội năm 1988.
Đó không phải là một hồi còi đơn độc, mà là một chuỗi âm thanh khàn đặc, gầm rú từ lồng ngực bằng thép của chiếc đầu máy Tự Lực cũ kỹ vừa rời khỏi ghi ga Hàng Cỏ để kéo đoàn toa rỗng về phía bãi dồn. Mặt đất dưới chân bắt đầu rung chuyển. Ban đầu chỉ là một nhịp râm ran khe khẽ truyền qua lớp đá dăm ba-lát xám xịt, rồi nhanh chóng biến thành những cơn chấn động dữ dội dội thẳng vào móng của những căn nhà cấp bốn lụp xụp nép mình sát mép đường tàu Lê Duẩn.
Bên trong gian nhà chật chội của gia đình họ Đặng, cái chạn bát bằng tre già treo sát vách tường vôi lở dở bắt đầu run bần bật. Những chiếc bát sứ Hải Dương men lam cũ kỹ va vào nhau tạo nên những tiếng leng keng, lách cách khô khốc. Bụi vôi xỉn màu và một lớp muội than mịn như phấn từ mái ngói rêu phong rơi lả tả xuống mặt bàn gỗ uống nước.
Đặng Hoài An mở mắt. Anh không cần đến đồng hồ báo thức. Suốt hai mươi tư năm sinh ra và lớn lên ở cái xóm đường ray này, nhịp tim của anh đã ăn khớp tuyệt đối với lịch chạy của những chuyến tàu đêm.
Anh khẽ lật mép chăn bông chần đã sờn rách vỏ ngoài. Cái rét ngọt tháng Chạp lập tức ùa vào như những mũi kim châm buốt qua lớp áo len sợi tự đan cổ lọ đã giãn ngoác. Hoài An ngồi dậy trên chiếc phản gỗ lim lên nước đen bóng, hai bàn chân trần chạm xuống nền gạch vồ ẩm lạnh khiến anh hơi rùng mình. Anh với tay lấy chiếc áo khoác công nhân cơ khí màu xanh công nhân đường sắt đã bạc phếch hai bên cùi chỏ, khoác vội lên đôi vai rộng vững chãi.
Bên gian trong, sau tấm màn gió bằng vải hoa xô đã ngả màu ố vàng, tiếng thở nặng nhọc kèm theo những cơn húng hắng ho của ông Đặng Văn Tấn vang lên đều đặn. Cứ mỗi độ trở trời, mảnh đạn cối còn găm lại nơi khớp gối chân trái từ thời chiến tranh phá hoại năm 1972 lại tấy lên, biến từng bước đi của người thợ tiện già thành một cực hình tập tễnh.
Hoài An nín thở, bước thật khẽ để đôi dép cao su đúc không phát ra tiếng động trên nền gạch lồi lõm. Anh bước qua khoảng sân nhỏ hẹp chỉ vừa đặt một bể nước mưa trát xi măng loang lổ rêu xanh, đẩy cánh cửa liếp bằng gỗ tạp dẫn vào gian xưởng cơ khí thủ công của hai cha con.
Mùi dầu mỡ máy khét nồng trộn lẫn với mùi kim loại rỉ sét và hơi ẩm của sương sớm lập tức xộc vào cánh mũi, thân thuộc đến mức chỉ cần hít một hơi sâu, lồng ngực Hoài An đã thấy ấm lại.
Ở vị trí trang trọng nhất giữa xưởng, dưới ánh sáng mờ đục hắt vào từ ô cửa chớp vỡ một góc kính, sừng sững chiếc máy tiện vạn năng hiệu TOS do Tiệp Khắc viện trợ từ những năm đầu thập niên 70. Đó là cả gia tài, là cần câu cơm, và cũng là niềm kiêu hãnh cả đời của ông Tấn. Băng máy bằng gang xám bóng loáng mỡ bò, các tay quay, bàn dao gọt và mâm cặp ba chấu được giữ gìn cẩn thận đến mức không một hạt bụi nào có thể bám lâu.
Hoài An vớ lấy mảnh giẻ lau bằng sợi bông cũ nhúng vào âu dầu hỏa, bắt đầu tỉ mẩn lau từng đường ray trượt của bàn xe dao. Đôi bàn tay anh thô ráp, chai sạn ở các đầu ngón tay và khớp đốt ngón – dấu ấn không thể phai mờ của người thợ tiện kim loại thủ công. Nhưng dưới lớp da bánh mật phong trần ấy là sự mềm mại, nhạy cảm phi thường; anh chỉ cần miết nhẹ đầu ngón tay là biết phôi thép bị dơ bao nhiêu phần trăm milimét, bề mặt tiện đã đạt độ bóng cấp bảy hay chưa.
Lau đến mâm cặp, tay Hoài An bỗng chùng xuống. Ánh mắt anh dừng lại ở một trục truyền động bằng thép nằm trơ trọi trên giá gỗ. Chiếc trục này anh đã bỏ ra trọn vẹn ba ngày công tiện ren, mài bóng theo đơn đặt hàng của một tổ hợp tác vận tải ngoại thành. Nhưng chiều qua, người ta vừa cho người đến nhắn hủy đơn.
Lý do ngắn gọn đến tàn nhẫn: Họ đã mua được một cụm trục bãi do cánh “phe phẩy” tuồn từ các toa tàu hàng Thống Nhất chạy chuyến Nam - Bắc ra, giá chỉ bằng một nửa tiền mua phôi thép của anh.
Năm 1988, cơn bão giá và lạm phát phi mã đang quét qua từng ngóc ngách của đời sống thủ đô. Cơ chế bao cấp dần tan rã, tem phiếu mất giá từng ngày, chợ trời mọc lên như nấm sau mưa. Những đồng tiền giấy mới phát hành chưa kịp ấm túi đã trượt giá vùn vụt sau mỗi buổi chợ. Các nhà máy cơ khí quốc doanh cắt giảm chỉ tiêu, phụ tùng trôi nổi, hàng rã máy, hàng bãi từ phương Nam đổ bộ ra bóp nghẹt những xưởng tiện thủ công nhỏ lẻ như của cha con anh.
Để giữ được chữ tín "hàng Đặng gia chuẩn từng zem" mà cha anh tôn thờ như sinh mệnh, Hoài An chỉ dùng thép tốt, tôi dầu đúng độ, tiện gọt cẩn trọng từng chi tiết. Nhưng giữa cái thời buổi người ta chỉ chăm chăm nhìn vào giá rẻ để chạy bữa ăn từng ngày, sự tỉ mẩn và lòng tự trọng của người thợ bỗng chốc trở thành một thứ xa xỉ đến tội nghiệp. Tiền mua phôi thép tháng này còn nợ đại lý cơ kim khí ngoài phố Phùng Hưng chưa trả hết, thuốc thấp khớp của cha cạn dần, mà mâm cơm gia đình ngày càng nhiều thêm những bữa khoai lang độn cơm nguội.
Hoài An khẽ thở dài. Hơi thở anh phả ra thành một làn khói trắng mỏng manh, tan biến vào khoảng không gian giá lạnh của xưởng máy.
Anh vô thức ngước nhìn qua khe cửa chớp hướng sang phía bên kia rãnh ray xe lửa, nơi ngõ Khâm Thiên hun hút gió bấc đang chìm trong bóng tối.
Giữa bóng đêm ngút ngàn của dải phố vừa trải qua mưa phùn, có một đốm sáng màu vàng ấm áp vẫn kiên trì hắt ra từ ô cửa sổ gác xép căn nhà số 14.
Và rồi, vượt qua tiếng gió rít qua các khe ngói, tiếng cạch... cạch... cạch... đều đặn, nhịp nhàng của chiếc bàn đạp máy may con bướm Liên Xô lại vang lên. Âm thanh ấy lọt qua màn sương, chạm vào tai Hoài An, vừa quen thuộc vừa khiến lồng ngực anh quặn thắt lại.
Thục Quyên lại thức trắng đêm.
Anh biết rất rõ nhịp điệu của âm thanh đó. Khi tiếng máy chạy nhanh và gấp gáp, ấy là cô đang vắt sổ tà áo. Khi tiếng máy chậm lại, từng nhịp lách... tách... ngập ngừng buông lơi, ấy là bàn tay thon dài của cô đang cẩn thận lùa đường kim qua những lớp bông dày của áo bông chần mùa đông.
Ba tháng trước, mẹ Quyên qua đời sau một trận bạo bệnh kéo dài. Người phụ nữ hiền lành, tần tảo cả đời ấy nhắm mắt xuôi tay, để lại cho cô con gái cả mới hai mươi hai tuổi một căn gác xép trống hoác, hai đứa em thơ dại đang tuổi ăn tuổi lớn, và một gánh nợ thuốc men khổng lồ mà bà đã phải cắn răng vay nóng lúc ngặt nghèo. Từ ngày ấy, chiếc bóng gầy guộc của Quyên bên khung cửa sổ gác xép chưa bao giờ tắt đèn trước bốn giờ sáng.
Hoài An buông mảnh giẻ lau, kéo khóa chiếc áo khoác công nhân lên sát cằm. Anh không thể ngồi yên trong xưởng thêm một giây nào nữa.
Bước ra khỏi xưởng tiện, cái rét buốt của gió đông Hà Nội tạt thẳng vào mặt làm da anh se lại. Con đường ray xe lửa chạy dọc phố Lê Duẩn lúc này vắng tanh. Những thanh ray sắt màu xám xỉn ướt đẫm sương đêm, nằm im lìm trên nền đá dăm gồ ghề kéo dài hun hút về phía Nam. Xa xa, những ngọn đèn tín hiệu đường sắt tỏa ra ánh sáng đỏ quạch, ma mị trong màn sương mù đặc quánh như sữa đậu nành.
Ở góc ngã ba rẽ vào ngõ ga, quán chè chén của bà Trương Thị Mùi – mẹ Hoài An – đã bắt đầu nhóm lửa.
Quán thực ra chỉ là một tấm bạt dứa cũ rách mép căng tạm vào hai thân cây bàng còi cọc, bên dưới kê mấy chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp đã mòn vẹt bốn chân và một chiếc chõng tre con con. Trên chõng bày một chiếc ấm tích bằng sành bọc trong giành mây lót rơm khô để giữ nhiệt, vài bao thuốc lá Thăng Long, Tam Đảo mở nắp cắm sẵn đóm nứa, một hũ thủy tinh đựng kẹo lạc xốp, và một hộp sắt tây đựng thuốc lào Tiên Lãng.
Bà Mùi ngồi xổm trên một tấm bao tải rách, chiếc khăn vuông len màu hạt dẻ trùm kín tai chỉ để lộ gương mặt phúc hậu in hằn những nếp nhăn nhọc nhằn. Bà đang dùng một chiếc quạt nan rách mép phẩy từng nhịp yếu ớt vào lòng chiếc bếp than tổ ong. Lớp than xỉ nhóm dở bắt đầu bắt lửa, bốc lên những cuộn khói trắng nồng nặc mùi lưu huỳnh, cay xè đến ch** n**c mắt.
“U để đấy con nhóm cho, khói nó xông vào mắt lại đau,” Hoài An rảo bước tới, giọng trầm ấm vang lên xua bớt cái giá lạnh.
Bà Mùi giật mình ngước lên, quệt vội giọt nước mắt sống do khói than chọc vào khóe mắt, mỉm cười hiền từ:
“Sao dậy sớm thế con? Đêm qua u thấy mày cặm cụi mài giũa bên xưởng đến tận nửa đêm kia mà. Cứ ngủ thêm chút nữa, tàu sớm năm giờ mới về, lúc ấy mới có khách uống nước.”
“Con quen cữ rồi u ạ. Tàu bãi dồn vừa kéo còi qua, con nằm trong nhà cũng không chợp mắt được nữa.”
Hoài An ngồi xuống thay mẹ. Đôi bàn tay to khỏe, khéo léo của người thợ tiện nhanh chóng gắp những mẩu củi thông vụn xếp thành hình tổ chim trong lòng bếp, châm một que diêm Thống Nhất rồi đặt viên than tổ ong mới lên trên. Anh khẽ nghiêng chiếc quạt nan, điều chỉnh luồng gió nhịp nhàng. Chẳng mấy chốc, những đốm lửa đỏ li ti đã bén vào thân than, ngọn lửa xanh lét bốc lên phần phật, xua tan lớp khói cay xè, chỉ còn lại hơi ấm nồng đượm lan tỏa ra xung quanh.
Anh với lấy chiếc ấm nhôm Liên Xô méo mó góc đáy, đổ đầy nước mưa từ chiếc can nhựa rồi đặt lên kiềng sắt.
Bà Mùi nhìn con trai, ánh mắt vừa thương xót vừa ái ngại. Bà thở dài, giọng chùng xuống:
“Hôm qua thằng bé nhà ông Tạ ngoài bãi gỗ sang bảo... cái trục máy xưởng mình làm họ không lấy nữa hả con?”
Bàn tay Hoài An đang cầm chiếc kẹp sắt hơi khựng lại một nhịp, nhưng nét mặt anh vẫn giữ vẻ bình thản:
“Vâng u. Họ bảo bên họ đổi xe tải nhẹ, không dùng trục ấy nữa. Không sao đâu u, thép ấy là thép tốt của nhà máy chế tạo công cụ số 1, con để đấy tiện mấy con ốc máy dập cho xưởng dệt kim, người ta vẫn cần.”
Bà Mùi đâu phải người không hiểu chuyện. Sống ở cái đất xóm ga này nửa đời người, bà lạ gì những chuyến hàng lậu, hàng tuồn trôi nổi rầm rộ đổ về từ các đoàn tàu Nam - Bắc. Bà biết xưởng nhà mình đang ngắc ngoải vì cái tính "gàn" của ông chồng già và sự trung thực đến thắt ruột của đứa con trai.
“Thời buổi này đảo điên quá con ạ,” bà Mùi lẩm bẩm, bàn tay gầy guộc chà xát vào nhau cho đỡ cóng. “Người ta bảo sang năm nhà nước bỏ hẳn sổ gạo, buôn bán tự do. Người khôn của khó, ai nhanh chân tháo vát thì giàu nứt đố đổ vách, còn người thật thà cắm mặt vào đe búa như bố con mày... chỉ sợ đến hạt gạo ăn đong từng bữa cũng chẳng xong.”
“U đừng lo quá,” Hoài An mỉm cười, nụ cười hiền lành làm sáng bừng gương mặt góc cạnh phủ đầy bụi khói. “Con với thầy còn sức khỏe, còn đôi bàn tay. Máy móc trên tàu hay dưới xưởng chạy mãi thì cũng phải mòn, phải hỏng. Đồ bãi trôi nổi chạy dăm bữa nửa tháng là vỡ bạc lót, gãy then. Lúc ấy người ta lại phải tìm đến thợ tiện chuẩn chỉ thôi u.”
Hai mẹ con đang nói chuyện thì từ phía đầu ngõ Khâm Thiên vang lên tiếng bước chân lạo xạo trên đá dăm.
Một bóng người mảnh khảnh từ từ hiện ra sau làn sương xám bạc.
Đó là Thục Quyên.
Cô mặc chiếc áo khoác bông trần chỉ màu xanh công nhân đã sờn rách ở mép túi, bên ngoài quàng một chiếc khăn len đan sợi thô màu nâu sẫm – chiếc khăn kỷ vật duy nhất mẹ cô để lại. Mái tóc đen nhánh của Quyên được tết gọn gàng thành một dải sam lệch sau gáy, vài sợi tóc mai lơ thơ vương trên vầng trán thanh tú đẫm hơi nước mùa đông.
Trên tay cô ôm một bọc vải lớn bọc bằng tấm ni-lông mưa màu xám, cẩn thận ép sát vào ngực như sợ sương gió làm ẩm những đường chỉ bên trong.
Nhìn thấy cô, tim Hoài An khẽ giật thót. Anh vội vàng đứng thẳng dậy, theo thói quen đưa hai bàn tay dính đầy muội than và dầu máy chùi vội vào hai bên hông quần bảo hộ.
“Cháu chào u Mùi,” giọng Quyên trong trẻo nhưng không giấu nổi sự khàn đặc vì thiếu ngủ và lạnh giá. Cô ngập ngừng dừng lại trước mép tấm bạt, ánh mắt khẽ chạm vào Hoài An rồi vội vã cụp xuống, gật đầu chào anh một cách ý nhị: “Anh An... anh cũng dậy sớm thế.”
“Con bé này, lại thức thâu đêm đấy phỏng?” Bà Mùi xót xa kêu lên, vội vàng đứng dậy kéo chiếc ghế đẩu gỗ còn ấm hơi lửa lại gần bếp than. “Vào đây, vào đây ngồi cho ấm chân tay đã. Nhìn cái mặt mày kìa, trắng bệch ra như tàu lá chuối, môi thì thâm tím lại vì rét. Mau vào đây!”
Quyên ngập ngừng một lát rồi bước vào dưới mái bạt. Cô đặt cẩn thận bọc vải lên chiếc chõng tre khô ráo, ngồi nép mình vào góc ghế đẩu, hai bàn tay thon dài đan chặt vào nhau đặt trên đùi.
Dưới ánh lửa bập bùng từ bếp than tổ ong, Hoài An đứng sững nhìn cô. Ở khoảng cách gần thế này, anh nhìn thấy rõ từng chi tiết mà màn đêm thường che giấu: quầng thâm xám xịt hằn sâu dưới đôi mắt bồ câu đượm buồn, khóe môi nứt nẻ vì hanh heo rướm chút máu khô, và những đầu ngón tay thanh mảnh của người thợ may chi chít những vết kim đâm li ti, tím tái vì lạnh buốt.
Một nỗi xót xa dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng Hoài An. Anh vội vã quay đi, lấy chiếc bát sứ Hải Dương sạch nhất trên khay, nhấc ấm nhôm rót một bát nước vối nóng hổi nghi ngút khói.
Nước vối nụ màu nâu hổ phách sủi bọt lăn tăn, tỏa ra mùi thơm thảo mộc ngai ngái, mộc mạc đặc trưng của làng quê đồng bằng Bắc Bộ. Anh gắp thêm một lát gừng già tươi thái mỏng mẹ ngâm sẵn thả vào bát, rồi cẩn thận hai tay bưng đến trước mặt Quyên.
“Cô mình uống đi cho ấm bụng,” giọng anh trầm xuống, mộc mạc và chân thành. “Nước sôi kỹ lắm, có gừng già giải cảm đấy.”
Quyên ngẩng lên. Đôi mắt trong veo như làn nước mùa thu của cô mở to, ánh lên những tia sáng ấm áp phản chiếu từ ngọn lửa than. Cô đón lấy chiếc bát sứ từ tay anh. Đầu ngón tay thon nhỏ của cô vô tình chạm nhẹ vào những vết chai thô ráp trên mu bàn tay anh. Một luồng điện ấm nóng dường như chạy dọc qua sống lưng cả hai người, khiến Quyên khẽ rụt tay lại một chút, gò má trắng xanh bỗng ửng lên một vệt hồng nhạt.
“Em cảm ơn anh An,” cô nói khẽ, hai bàn tay áp chặt vào thành bát sứ để tìm kiếm hơi ấm, rồi nhấp một ngụm nhỏ. Vị ngọt đắng của vối hòa cùng vị cay nồng của gừng già lan tỏa từ đầu lưỡi xuống đến tận cuống họng, làm tan đi cái cóng buốt đang bóp nghẹt lồng ngực cô.Bà Mùi nhìn bọc vải trên bàn, chép miệng hỏi:
“Lại áo bông chần giao cho cửa hàng bách hóa dưới chợ Hôm hả cháu?”
Quyên khẽ gật đầu, đặt bát nước xuống mép chõng:
“Vâng ạ. Khách họ đặt gấp ba chiếc áo bông quả trám để kịp gửi chuyến tàu sớm vào Nam làm quà biếu. Họ hẹn năm giờ rưỡi lấy hàng ở cửa ga, em phải cố thức làm cho xong đường trần chỉ ve áo. Trễ hẹn một chuyến tàu là người ta hủy, trừ tiền cọc ngay u ạ.”
“Khổ thân cái thân con gái một mình gánh vác,” bà Mùi thở dài, với lấy chiếc kẹo lạc bọc giấy bóng kính dúi vào tay Quyên. “Cái Hiền với thằng c* Toàn đã dậy chưa? Chúng nó có ngoan không?”
“Dạ, em nhóm sẵn bếp trấu cho hai đứa nó sưởi trong nhà rồi ạ. Con Hiền nó biết thương chị lắm, tối qua nó ngồi xâu kim, thùa khuy áo giúp em đến tận mười một giờ mới chịu đi ngủ. Còn thằng Toàn... mấy hôm nay trời trở lạnh, cái chân nó lại đau nhức, cứ quấy khóc suốt nửa đêm.”
Nhắc đến em trai, ánh mắt Quyên thoáng chùng xuống, một tia âu lo thăm thẳm hiện lên nơi đáy mắt khiến lòng Hoài An thắt lại.
Anh biết rõ bệnh tình của thằng bé Toàn. Năm ngoái nó bị ngã từ trên toa xe hàng xuống đống đá dăm cạnh đường ray, khớp gối bị tràn dịch viêm tủy xương. Để có tiền đưa con vào Bệnh viện Bạch Mai phẫu thuật và mua thuốc kháng sinh ngoại nhập đắt đỏ ngoài chợ đen, mẹ Quyên khi ấy đã phải chạy vạy khắp nơi. Cuối cùng, trong cơn cùng quẫn, bà phải bấm bụng tìm đến những đường dây cho vay nặng lãi khét tiếng quanh khu vực ga Hàng Cỏ. Bệnh của Toàn tạm qua cơn nguy kịch thì mẹ cô kiệt sức rồi nằm xuống mãi mãi, để lại một khoảng trống hoác trong căn nhà và một cái bẫy nợ vô hình đang từng ngày siết chặt lấy cổ ba chị em.
Hoài An ngồi xuống chiếc ghế đối diện, nhìn chăm chú vào bọc vải của Quyên:
“Áo bông may thế này... tiền công họ trả có khá hơn trước không cô mình?”
Quyên cười cay đắng, nụ cười phảng phất sự mệt mỏi của người phải gồng mình chống chọi với cuộc đời quá sớm:
“Được mấy đâu anh. Thời buổi lạm phát, giá bông, giá chỉ sợi ngoài chợ cứ cách một tuần lại tăng một giá. Khách buôn họ ép dữ lắm, họ bảo vải này là vải xi-tô nhà máy dệt Nam Định, giờ trong Nam người ta chuộng áo gió ni-lông Thái Lan với áo phao ngoại nhập vừa nhẹ vừa đẹp. Họ chê áo bông chần miền Bắc mình nặng nề, lỗi mốt. Ba cái áo này, em thức ròng ba đêm rách cả mắt, tiền công trừ tiền chỉ, tiền bông đi... tính ra chỉ vừa đủ đong nửa yến gạo hẩm với mua thêm vỉ thuốc giảm đau cho thằng Toàn.”
Không gian dưới mái bạt bỗng chìm vào im lặng.
Chỉ có tiếng than nổ lách tách và tiếng gió rít qua những tán lá bàng khẳng khiu bên ngoài rãnh ray.
Cái nghèo, cái khó của thời kỳ Đổi Mới đang phơi bày tr*n tr** trước mắt họ. Nó không ồn ào như tiếng còi tàu, nhưng nó dai dẳng và lạnh lùng như lớp rỉ sét bám chặt vào những thanh ray sắt qua năm tháng. Cả hai đều là những người trẻ có bàn tay tài hoa: Hoài An có thể tiện những chi tiết máy chuẩn xác đến từng zem cơ khí, Thục Quyên có thể cắt may những đường lượn eo áo dài mềm mại như sóng nước Hồ Gươm. Nhưng trước cơn lốc của đồng tiền trượt giá và sự xáo trộn của thị trường buổi giao thời, tài hoa của họ dường như đang bị ghìm chặt xuống vũng lầy của cơm áo gạo tiền.
“Nếu... nếu dạo này khó khăn quá,” Hoài An ngập ngừng, giọng anh khàn đi vì xúc động, “bên xưởng anh còn ít phôi đồng vụn với mấy vòng bi cũ tháo máy. Trưa nay anh đem bán cho vựa phế liệu bên Khâm Thiên, được đồng nào anh đưa cô mình cầm tạm mà mua sữa cho thằng Toàn...”
“Anh An!”
Quyên vội ngắt lời anh. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào anh, kiên quyết và đầy vẻ tự trọng – nét tự trọng thanh tao của một cô gái phố Khâm Thiên dù nghèo rớt mồng tơi cũng không bao giờ chịu cúi đầu xin xỏ:
“Anh đừng nói thế! Xưởng của bác Tấn dạo này thế nào em biết cả chứ. Chiếc máy tiện hỏng vòng bi hôm nọ anh còn phải thức đêm tự mài giũa để thay thế, tiền đâu mà anh lo cho em? Em... em tự lo được. Em còn sức, còn đôi bàn tay và chiếc máy may mẹ để lại, em không để hai đứa nhỏ phải đói đâu.”
Nói đoạn, dường như sợ lời nói của mình làm tổn thương tấm lòng của người bạn thanh mai trúc mã, giọng Quyên dịu hẳn lại. Cô nhìn anh, ánh mắt chan chứa sự dịu dàng và biết ơn:
“Em biết anh tốt với chị em em. Nhưng anh cũng phải giữ sức mà lo cho bác Tấn với xưởng chứ. Em nghe bác Cả Thiện gác ghi bảo, ngành đường sắt sắp tới chuẩn bị cải tổ lớn lắm, đoàn tàu Thống Nhất sẽ tăng chuyến, người ta sẽ cần nhiều phụ tùng thay thế chuẩn kỹ thuật. Tay nghề của anh giỏi nhất cái xóm ga này, sớm muộn gì người ta cũng phải tìm đến anh thôi.”
Hoài An nhìn sâu vào đôi mắt bồ câu của Quyên. Giữa muôn vàn cơ cực, đôi mắt ấy vẫn sáng ngời một niềm tin thuần khiết. Lời nói của cô như một luồng gió xuân ấm áp thổi qua tâm hồn đang trĩu nặng âu lo của anh, thắp lên trong lòng người thợ trẻ một ngọn lửa hy vọng âm ỉ.
“Ừ,” Hoài An khẽ gật đầu, khóe môi nở một nụ cười ấm áp. “Anh nghe cô mình. Nhất định anh sẽ không bỏ nghề tiện đâu.”
Đúng lúc đó, từ phía sân ga Hàng Cỏ, một hồi còi tàu dõng dạc, đanh chắc vang lên báo hiệu chuyến tàu chở hàng sớm đã vào đến khu vực đón gửi. Đồng hồ trên nóc ga điểm năm tiếng chuông trầm đục, ngân dài trong màn sương giá.
Quyên giật mình, vội vàng đứng bật dậy. Cô nhìn đồng hồ đeo tay cũ kỹ mặt kính đã nứt một vệt dài, hốt hoảng:
“Chết rồi, năm giờ rồi! Tàu vào ga rồi, em phải chạy ra cửa số 3 giao hàng cho khách kẻo họ lên tàu mất!”
“Cứ từ từ, đường ray trơn lắm đấy!” Bà Mùi vội nhắc.
Quyên với lấy bọc áo bông ôm chặt vào người. Cô cuống quýt thò bàn tay run rẩy vào chiếc túi áo khoác sờn rách, móc ra mấy tờ tiền giấy mệnh giá nhỏ đã nhàu nát định đặt lên mặt chõng:
“U cho cháu gửi tiền bát nước...”
“Gớm cái con bé này!” Bà Mùi nghiêm mặt xua tay, gạt phắt đi. “Bát nước vối nhà tao đun bằng than xỉ mà mày cũng tính toán! Cầm lấy mà mua cho thằng Toàn cái bánh rán đường. Đi mau lên kẻo lỡ việc!”
Quyên xúc động nhìn bà Mùi, rồi đưa mắt nhìn Hoài An một cái thật nhanh, ánh mắt vừa bối rối vừa hàm ơn:
“Cháu cảm ơn u. Em... em đi nhé, anh An.”
Nói rồi, cô ôm chặt bọc hàng, xoay người rảo bước thật nhanh về phía con đường dẫn ra cửa ga. Dáng người mảnh mai của cô chao nghiêng trong cơn gió đông buốt giá, chiếc khăn len màu nâu bay bay sau vai.
Hoài An đứng nhìn theo bóng lưng vội vã của cô qua làn sương mù, lòng ngập tràn một cảm giác bồn chồn khó tả. Anh bước ra mép tấm bạt, ánh mắt dõi theo từng bước chân nhỏ nhắn đang thoăn thoắt băng qua những thanh ray kim loại trơn trượt.
Bỗng nhiên, một cơn gió bấc mạnh từ khoảng trống giữa hai tòa nhà ga thốc tới.
Cơn gió làm tung vạt áo khoác bảo hộ của Quyên. Trong lúc cô vội vàng đưa một tay lên giữ chặt bọc hàng và chỉnh lại mép khăn quàng, từ chiếc túi áo khoác đã rách toác một bên đường chỉ của cô, một mảnh giấy gập tư màu ố vàng bất ngờ rơi ra.
Mảnh giấy mỏng manh bay lượn lờ trong không trung một nhịp, rồi đáp xuống, trượt dài trên lớp sỏi ba-lát xám ngoét và nằm lọt thỏm ngay trong rãnh ray kim loại lạnh ngắt.
Quyên hoàn toàn không hay biết. Tiếng còi tàu gầm rú và tiếng cọc cạch của các toa xe chở hàng dồn vào bãi đã át đi mọi âm thanh nhỏ bé. Bóng dáng cô nhanh chóng hòa vào dòng người buôn chuyến, cửu vạn và hành khách đang bắt đầu đổ dồn về phía quảng trường ga, thoắt cái đã biến mất sau màn sương mờ đục.
“Quyên! Cô mình làm rơi...”
Hoài An cất tiếng gọi lớn, nhưng tiếng gọi của anh bị chìm nghỉm giữa tiếng máy nổ xình xịch của chiếc đầu máy đang xả hơi nước phì phì trên đường số 1.
Anh vội vã bước nhanh qua mép đường ray. Đôi giày vải công nhân đế cao su dính đầy dầu máy của anh giẫm lạo xạo trên lớp đá dăm phủ đầy sương giá.
Hoài An cúi người xuống rãnh ray sắt. Thanh thép chữ I lạnh buốt như một tảng băng khi ngón tay anh chạm vào mép gờ. Anh nhặt mảnh giấy lên.
Đó là một tờ giấy xé vội từ quyển sổ tay kẻ ô vuông đã ngả màu ố vàng, mép giấy nham nhở vết xé vội. Nhưng những dòng chữ bên trong không phải là số đo vòng ngực, vòng eo hay ghi chép tiền vải may mặc thông thường.
Những nét chữ viết bằng bút bi đỏ gai góc, nguệch ngoạc và sắc nhọn đập thẳng vào mắt Hoài An dưới ánh sáng đỏ quạch của ngọn đèn tín hiệu đường sắt:
“GIẤY NHẬN NỢ BỐC BÁT HỌ Bên vay: Nguyễn Thục Quyên (Nhà 14 ngõ Khâm Thiên) Số tiền gốc: Ba trăm nghìn đồng (300.000đ) Lãi suất: Mười lăm phân một tháng (gấp ba lần lãi suất ngân hàng). Thời hạn thanh toán: Kỳ hạn cuối vào Rằm tháng Chạp năm 1988. Lưu ý: Nếu quá hạn không thanh toán đủ cả gốc lẫn lãi, bên vay phải đồng ý gán lại toàn bộ tài sản trong nhà gồm chiếc máy may con bướm Liên Xô, hoặc gán trừ nợ theo sự sắp xếp công việc làm ăn của chủ nợ trên các chuyến tàu hàng Thống Nhất. Miễn khiếu nại.”
Phía dưới góc giấy là một vết mực điểm chỉ đỏ lòm như một vết máu khô, cùng chữ ký ngoằn ngoèo của kẻ đứng đầu đường dây hụi họ khét tiếng khu vực ga Hàng Cỏ: Trần Quốc Bách.
Mảnh giấy trên tay Hoài An bỗng chốc run rẩy dữ dội.
Ba trăm nghìn đồng!
Một con số khổng lồ, một món nợ trên trời rơi xuống giữa thời buổi một bát phở gánh chỉ có giá vài trăm đồng, một tháng lương công nhân bậc ba của anh cũng chưa đầy hai vạn bạc. Một cô gái trẻ với chiếc máy may đạp chân cọc cạch thì làm sao có thể gánh nổi món nợ khủng khiếp với lãi suất cắt cổ đến mức này?
Và cái tên "Trần Quốc Bách" – kẻ chuyên bao thầu những chuyến tàu hàng buôn lậu lụa tơ, phụ tùng giả từ Nam ra Bắc, kẻ vẫn thường lượn lờ chiếc xe máy Simson đỏ bóng lộn qua ngõ Khâm Thiên buông những lời trêu ghẹo sàm sỡ...
Hắn không chỉ muốn siết nợ. Hắn đang giăng một chiếc lưới độc địa để bức tử tiệm may nhỏ, tước đoạt công cụ kiếm sống duy nhất của cô, và ép một người con gái thanh sạch, kiên cường như Quyên phải rơi vào tay hắn!
Gió bấc rít lên từng hồi dữ dội qua những thanh ray kim loại xám xịt.
Hoài An siết chặt nắm tay lại. Mảnh giấy nợ nhàu nát co rúm lại trong lòng bàn tay chai sần của người thợ cơ khí. Khớp ngón tay anh trắng bệch ra vì giận dữ, từng mạch máu trên mu bàn tay hằn lên cuồn cuộn.
Một tiếng còi tàu hơi nước nữa lại rú lên chói tai, rền vang khắp sân ga Hàng Cỏ, báo hiệu một ngày mới đầy giông bão đang ập xuống xóm đường tàu.