Thượng Cung Không Làm Họa Thủy

Chương 28: Sơn Thủy Tiêu Dao

Trước

Nắng sớm mùa thu ở Biện Lăng bao giờ cũng đến muộn hơn thường lệ, bảng lảng vương trên những chóp mái lưu ly cong vút của hoàng thành như một dải lụa mỏng dệt bằng ánh vàng nhạt. Cái lạnh se sắt của sương sớm luồn qua từng kẽ lá, nhưng không thể xua đi bầu không khí khoáng đạt hiếm hoi vừa mới tái sinh sau cơn giông bão đẫm máu. Mùi máu tanh nồng cùng khói lửa ngút trời của đêm biến loạn hôm trước đã hoàn toàn bị nước mưa và những xô nước hoa quế của cung nhân cọ rửa sạch sẽ trên từng phiến đá xanh dẫn tới điện Càn Thanh.

Thẩm Dao Nguyệt thức dậy từ lúc canh tư.

Suốt bảy năm qua, chưa từng có một buổi sớm nào nàng thức giấc mà lồng ngực không trĩu nặng mối thù diệt tộc và sự đề phòng đến nghẹt thở. Nàng từng quen với việc vừa mở mắt đã phải tính toán xem hôm nay vị chủ tử nào giăng bẫy, tấc vải nào bị tẩm độc, hay mũi kim nào sẽ trở thành vũ khí hộ mệnh để giữ lấy mạng sống mong manh. Nhưng sáng nay, khi vươn đôi bàn tay còn quấn những lớp băng gạc mỏng đẩy then cài cửa sổ bằng gỗ đàn hương của Châm Dệt Ti, một làn gió thu mát rượi ùa vào, mang theo hương hoa cúc vàng thanh khiết nở rộ bên bờ tường hoa, Dao Nguyệt chợt nhận ra hơi thở của mình nhẹ bẫng.

Oan khuất thấu trời của Thẩm gia rốt cuộc đã được chiêu tuyết. Tiêu Mậu đền tội dưới lưỡi đao trảm mã ở Ngọ Môn; Tiêu Uẩn Lan đã dốc cạn chén rượu độc tạ tội dưới nấm mồ hoang phế của Khôn Ninh Cung; cựu Thái tử ngạo mạn tàn bạo Tề Cảnh giờ chỉ là một phế nhân gãy nát lồng ngực, đang trên cỗ xe tù xóc nảy hướng về vùng chướng khí mịt mù chốn Lĩnh Nam. Bức huyết thư của phụ thân nàng, sau bảy năm chôn vùi trong bóng tối, đã được khắc ghi vào quốc sử Đại Ngụy như một biểu tượng của lòng trung trinh bất khuất.

Từ phía hành lang ngự đạo xa xa, tiếng chuông đồng từ điện Càn Thanh ngân vang từng hồi thanh thoát, báo hiệu buổi lâm triều đặc biệt giờ Dần vừa bãi.

Ngay sau tiếng chuông, tiếng bước chân vội vã cùng những lời xì xào bàn tán của các thái giám và cung nữ đi ngang qua Châm Dệt Ti lọt vào tai Dao Nguyệt. Dù không bước chân ra tiền triều, nàng vẫn nắm bắt tường tận từng chuyển động nơi ngự tiền qua những âm thanh ấy. Từ lúc tờ mờ sáng, tin tức chấn động nhất hoàng thành đã lan truyền khắp Lục cục Thượng cung: Ninh Vương Tề Dực – vị hoàng tử vừa vứt bỏ lớp vỏ bọc tàn phế mười năm để dẹp tan phản loạn – đã dâng biểu tạ từ binh quyền ngay khi triều đình mở cửa.

Một tiểu thái giám chạy ngang qua hàng hiên Châm Dệt Ti, giọng nói hạ thấp nhưng không giấu nổi sự kinh ngạc khôn xiết khi nói với bạn đồng hành:

“Ngươi có nghe thấy không? Ninh Vương điện hạ sáng nay đích thân đứng thẳng trước ngự tọa, dâng trả toàn bộ Long Lân Phù cùng sổ bộ của Mặc Ảnh Vệ cho Bệ hạ rồi! Người kiên quyết từ chối ngỏ ý lập tự của Hoàng thượng, cáo bệnh xin làm một vương gia nhàn tản suốt đời. Bệ hạ cảm phục phong cốt của người, đã hạ chỉ châu phê chuẩn tấu, còn ban thưởng vạn khoảnh điền trang…”

Lắng nghe những mẩu đối thoại rời rạc ấy, khóe môi Dao Nguyệt khẽ cong lên một nụ cười ấm áp, an lòng.

Chàng quả nhiên đã làm như lời hẹn ước. Người đàn ông ấy đã dùng mười năm thanh xuân trong bóng tối tanh nồng máu lửa để bảo vệ giang sơn cho hoàng tộc, nhưng khi ánh sáng công lý rạng rỡ trở lại, chàng lại dứt khoát buông tay, không màng tới đỉnh cao danh vọng. Giữa vòng xoáy quyền lực vạn người tranh đoạt đến đầu rơi máu chảy, chàng và nàng lại có chung một tâm tính thanh cao, xem ngai vàng gấm vóc chẳng bằng một nhành cỏ dại giữa chốn giang hồ.

Tiếng then cửa khẽ động kéo Dao Nguyệt trở về thực tại. Nàng quay đầu lại, vừa vặn nhìn thấy Trúc Chi bưng chiếc khay đồng đựng chậu nước ấm bước vào. Tiểu nha đầu hôm nay không còn vẻ hoảng loạn, sợ sệt như những ngày giông bão, nhưng vành mắt lại sưng mọng, đỏ hoe như hai quả đào chín.

“Cô cô… người thật sự… thật sự muốn rời đi sao?”

Trúc Chi đặt chậu nước lên giá gỗ, giọng nghẹn ngào, bàn tay níu chặt lấy vạt áo thô màu lam nhạt.

Dao Nguyệt nhìn nàng cung nữ nhỏ đã theo mình qua bao lằn ranh sinh tử, ánh mắt tràn ngập vẻ dịu dàng hiếm thấy. Nàng nhúng chiếc khăn bông mềm vào làn nước ấm, vắt ráo rồi khẽ lau khóe mắt còn vương ngấn lệ cho Trúc Chi:

“Hoàng đế đã hạ ngự chỉ, chấp thuận cho ta rũ bỏ quan chức Châm Dệt Ti, hoàn lại thân phận tự do dân dã. Chiếc lồng son này dẫu dát vàng nạm ngọc, chung quy cũng chỉ là nấm mồ chôn vùi thanh xuân của muôn vàn phận nữ nhi. Tâm nguyện của ta đã tròn, ở lại đây thêm một khắc cũng chỉ là tự mua dây buộc mình. Sao em lại khóc? Ngày vui rửa oan cho Thẩm gia, chẳng lẽ lại phải dùng nước mắt để đón nhận?”

“Nô tỳ… nô tỳ không phải khóc vì buồn tủi, mà là không nỡ xa cô cô!” Trúc Chi quỳ sụp xuống, ôm lấy gối Dao Nguyệt, nước mắt tuôn rơi lã chã. “Bảy năm qua, nếu không có cô cô che chở, Trúc Chi đã chết rấp ở góc giặt giũ lạnh lẽo từ lâu rồi. Người đi rồi, hoàng cung này rộng lớn dường ấy, nô tỳ biết nương tựa vào ai…”

Dao Nguyệt đỡ Trúc Chi đứng dậy, kéo nàng lại bên chiếc bàn gỗ lim. Trên mặt bàn lúc này đã đặt sẵn ba chiếc hộp gỗ đàn hương tinh xảo. Dao Nguyệt vươn tay, mở nắp chiếc hộp đầu tiên. Bên trong là một tập ngân phiếu phát hành bởi tứ đại tiền trang uy tín nhất kinh thành, cùng mấy thỏi vàng ròng óng ánh và một tờ giấy có đóng dấu đỏ của Hộ bộ.

“Đây là khế ước thoát tịch của em.” Dao Nguyệt nhẹ giọng nói, ngón tay thon dài khẽ lướt qua con dấu chu sa đỏ thẫm. “Hôm qua, trước khi rời điện Càn Thanh, ta đã đích thân xin Hoàng thượng xóa bỏ thân phận nô tịch cho em. Từ nay về sau, em là lương dân Đại Ngụy, không còn là cung tỳ ti tiện để người ta tùy ý đánh chửi, sinh sát nữa. Trong hộp này còn có ba ngàn lượng bạc trắng và văn tự của một căn nhà ngói ba gian kèm hai mươi mẫu ruộng phì nhiêu ở ngoại ô phủ Kim Lăng. Khí hậu Giang Nam ấm áp, phong cảnh hữu tình, rất thích hợp để an cư.”

Trúc Chi trợn tròn hai mắt, kinh ngạc đến mức nấc nghẹn, không dám tin vào những gì mình vừa nhìn thấy:

“Cô cô… người… người chuẩn bị những thứ này từ bao giờ?”

“Từ cái đêm trước đại lễ Vạn Thọ, khi ta nhận lời bước lên điện Kim Loan.” Đáy mắt Dao Nguyệt ánh lên vẻ thâm trầm sâu lắng. “Ta chưa bao giờ bước vào một ván cờ sinh tử mà không tính đường lui cho những người bên cạnh mình. Lan Quý phi nay đã nắm giữ phượng ấn, quản lý lục cung. Bà ấy là người ân oán phân minh, đã hứa với ta sẽ chăm sóc em chu toàn cho đến kỳ xuất cung vào mùa xuân tới. Đến lúc đó, em có thể rời kinh thành về Kim Lăng, tìm một người lương thiện, thật lòng yêu thương em để gả, sống một đời bình đạm, an yên bên ruộng vườn con cái. Đừng bao giờ dính dáng đến chốn hoàng quyền này nữa, có hiểu không?”

Trúc Chi ôm lấy chiếc hộp gỗ vào lòng, nước mắt rơi ướt đẫm mặt gấm, nàng dập đầu thật mạnh xuống sàn gỗ:

“Đại ân đại đức của cô cô, Trúc Chi kiếp này ngậm vành kết cỏ cũng không báo đáp hết!”

“Đứng lên đi.” Dao Nguyệt mỉm cười, đỡ nàng dậy, ánh mắt hướng về phía cánh cửa Châm Dệt Ti đang khẽ lay động dưới gió thu. “Thời gian không còn nhiều, cùng ta đi gặp những người khác.”

*

Trong sảnh chính của Châm Dệt Ti, mấy chục tú nương và cung nhân đã tề tựu đông đủ từ sớm. Bầu không khí tĩnh lặng đến mức có thể nghe thấy tiếng lá phong rơi xào xạc bên thềm ngọc. Khi bóng áo nguyệt bạch mộc mạc của Dao Nguyệt xuất hiện nơi ngưỡng cửa, tất cả đồng loạt quỳ rạp xuống, đồng thanh cất tiếng:

“Chúng nô tỳ bái kiến Thẩm Chưởng chế!”

Dao Nguyệt đứng trên bậc cao, ánh mắt lướt qua từng gương mặt quen thuộc. Có những người từng run rẩy khi Tiêu Hậu hạ độc kế, có những thiếu nữ từng thức trắng đêm cùng nàng nối từng sợi chỉ vàng, và cũng có những tú nương trẻ tuổi mang ánh mắt khát khao học hỏi nghệ thuật thêu thùa đỉnh cao. Nàng không còn khoác lên mình bộ quan phục màu thanh lam uy nghiêm của bậc Lục phẩm Chưởng chế, nhưng khí chất điềm đạm, cao quý toát ra từ cốt cách lại khiến người ta bất giác kính phục từ tận đáy lòng.

“Đều đứng dậy cả đi.” Tiếng Dao Nguyệt vang lên, trong trẻo và ấm áp.

Nàng bước tới trước chiếc án dài phủ gấm đỏ giữa sảnh, mở chiếc hộp gỗ thứ hai. Bên trong là hai cuốn sách dày cộp đóng bằng lụa xanh, trên bìa đề bốn chữ chân phương mềm mại nhưng hữu lực: Cẩm Tú Tâm Kinh.

“Đây là toàn bộ tâm đắc thêu thùa cả đời ta đúc kết được, từ kỹ pháp đâm xô, viền kim ngân, thêu vặn, phối sắc ngũ hành cho đến phương pháp bảo tồn tơ lụa ngàn năm không phai.” Dao Nguyệt đặt tay lên hai cuốn sách, giọng nói trầm bổng vang vọng khắp gian phòng. “Ta để lại bản chép tay này cho Châm Dệt Ti. Từ nay, Tuệ Tâm và Uyển Nhi sẽ tiếp quản vị trí Chưởng chế và Điển chế. Ta mong các ngươi ghi nhớ một điều: Đường kim mũi chỉ sinh ra là để dệt nên gấm vóc rực rỡ, mang lại sự ấm áp và cái đẹp cho nhân gian, tuyệt đối không phải là công cụ để tranh quyền đoạt lợi, càng không được dùng để mưu hại sinh linh.”

Nàng dừng lại một nhịp, trong mắt lóe lên một tia sáng kiên định:

“Kỹ thuật Song Diện Cực Ẩn Thuật dùng rễ Huyết Lăng giấu chữ năm xưa, ta đã đích thân đốt thành tro tàn đêm qua. Châm pháp đoạt mệnh ấy chỉ nên sinh ra trong nghịch cảnh của thời loạn, nay giang sơn đã định, oan khiên đã giải, không cần phải lưu truyền để gieo thêm mầm tai họa. Các ngươi… hãy dùng đôi bàn tay sạch sẽ của mình mà thêu nên những mùa hoa thái bình.”

Mấy chục tú nương rưng rưng nước mắt, đồng loạt cúi đầu:

“Chúng nô tỳ ghi khắc lời dạy của Thẩm Chưởng chế! Nguyện một lòng giữ gìn y đạo và cẩm tú chi đạo!”

Nhìn những đôi mắt trong trẻo đầy lòng thành kính ấy, Dao Nguyệt khẽ gật đầu, lòng nhẹ nhõm như vừa trút bỏ được gánh nặng nghìn cân. Nàng đã trả lại cho Châm Dệt Ti sự thuần khiết vốn có của nghệ thuật thêu thùa, chặt đứt sợi xích âm mưu từng biến nơi này thành chiến trường đẫm máu.

*

Rời khỏi Châm Dệt Ti, Dao Nguyệt một mình bước sang viện lạc tĩnh mịch của cựu Thượng cung Phương Nhược Hoa.

Cổ thụ trong viện đã trút gần hết lá, chỉ còn lại những cành phong khẳng khiu vươn lên nền trời thu trong vắt. Dưới giàn hoa tử đằng đã tàn, một chiếc bàn đá bày sẵn ấm trà hoa cúc nghi ngút khói thơm. Phương Thượng cung ngồi đó trong bộ áo tràng màu lam sẫm giản dị, mái tóc hoa râm búi gọn bằng chiếc trâm gỗ đào mộc mạc. Gương mặt hằn sâu những nếp nhăn của thời gian và sương gió chốn cung đình lúc này toát lên vẻ an tường hiếm có.

Nghe tiếng bước chân nhẹ nhàng, bà ngẩng đầu lên, khóe môi nở nụ cười hiền hậu:

“Đến rồi sao, hài tử?”

Dao Nguyệt bước tới, vén tà váy nguyệt bạch, cung kính quỳ sụp xuống tấm bồ đoàn trước mặt bà, dập đầu ba lạy theo đúng nghi lễ bái tạ sư ân sâu nặng nhất:

“Đồ nhi Thẩm Dao Nguyệt, bái tạ ân tái sinh của Phương cô cô.”

Phương Nhược Hoa vội vàng đưa hai bàn tay gầy guộc run rẩy đỡ nàng dậy, ánh mắt tràn đầy sự xúc động và xót xa:

“Mau đứng lên! Đứa trẻ ngốc này, nay con đã là nữ nhi của Văn Khang Thái sư, được Bệ hạ ban phong Nhất phẩm Cáo mệnh, nắm giữ Miễn Tử Kim Bài, thân phận cao quý tột bậc, sao lại hành đại lễ với một lão bà như ta?”

“Dẫu Dao Nguyệt có là bậc nhất phẩm hay thứ dân áo vải, thì trước mặt cô cô, con vẫn mãi là đứa trẻ mồ côi được người cứu vớt khỏi đống thi thể năm ấy.” Dao Nguyệt nắm lấy bàn tay khô ráp của Phương Thượng cung, hốc mắt cay xè. “Nếu bảy năm trước không có cô cô liều chết tráo đổi thân xác vô danh trong ngục tối, đưa con vào cung cưu mang, dạy con từng đường kim mũi chỉ, truyền cho con quy tắc sinh tồn nơi hiểm địa, thì nắm xương tàn của Thẩm thị đã sớm mục nát dưới mồ sâu. Ơn cứu mạng dưỡng dục này, khắc cốt ghi tâm, dẫu cạn kiếp này con cũng không dám quên.”

Phương Nhược Hoa vỗ nhẹ lên mu bàn tay còn quấn lớp băng gạc mỏng của Dao Nguyệt, thở dài một hơi đầy cảm thán:“Phụ thân con năm xưa từng vì giải oan cho gia tộc ta mà suýt mất chức quan, ta làm những điều đó cũng chỉ là trả lại một phần ân nghĩa cho Thẩm đại nhân. Nhìn thấy con hôm nay hiên ngang đứng giữa điện Kim Loan, lật nhào nghịch tặc, rửa sạch thanh danh cho dòng họ, ta ở dưới suối vàng cũng có thể ngẩng đầu đối diện với Thẩm huynh rồi.”

Bà rót một chén trà nóng đưa cho nàng, ánh mắt nhìn ra khoảng sân vắng:

“Hôm qua, khi nghe tin con dứt khoát cự tuyệt ngôi vị Hoàng quý phi đứng đầu lục cung, trong lòng ta vừa kinh ngạc, nhưng lại vừa cảm thấy… đó mới chính là phong cốt của cốt nhục Thẩm gia. Chiếc lồng son này, người ngoài nhìn vào chỉ thấy gấm hoa lộng lẫy, nhưng kẻ ở bên trong mới thấu rõ từng tấc đất đều thấm đẫm oán hồn và máu tanh. Rời đi được… là phúc phận lớn nhất đời con.”

“Đệ tử chỉ mong cầu một đời tự do tự tại, không màng vinh hoa phú quý.” Dao Nguyệt nhấp một ngụm trà ấm, ánh mắt trong veo. “Còn cô cô… người thật sự không muốn cùng con xuất cung sao? Ngôi nhà ở ngoại ô Kim Lăng con đã cho người dọn dẹp chu tất, phong cảnh hữu tình, có thể phụng dưỡng người chu toàn đến cuối đời.”

Phương Nhược Hoa khẽ lắc đầu, nụ cười phảng phất sự thấu triệt nhân sinh:

“Ta già rồi, cả đời này đã chôn vùi trong bốn bức tường thành Biện Lăng, rễ cây đã bám sâu vào đá tảng, dời đi ắt sẽ héo tàn. Nay Tiêu thị đã trừ, Lan Quý phi tính tình nhân hậu, đối đãi với người già như ta vô cùng trọng vọng. Ta ở lại đây trông nom Châm Dệt Ti, nhìn ngắm những đứa trẻ lớn lên, cũng là một loại an hưởng tuổi già. Con có con đường của riêng con, chim ưng thuộc về trời cao, cá lội thuộc về biển cả, đừng vì một bà lão như ta mà vướng bận bước chân.”

Bà tháo từ cổ tay xuống một chuỗi hạt bồ đề đã bóng loáng vì lần chuỗi qua nhiều năm tháng, đặt vào lòng bàn tay Dao Nguyệt:

“Đây là vật tùy thân của ta suốt ba mươi năm qua, đã được cao tăng chùa Đại Từ Ân trì chú. Mang theo nó bên mình, chúc con nửa đời sau bình an, sóng gió không chạm tới tà áo, tiêu dao giữa đất trời non nước.”

Dao Nguyệt siết chặt chuỗi hạt ấm áp trong tay, cúi đầu tạ ơn, trong lòng tràn ngập sự thanh thản và tôn kính vô biên.

*

Rời khỏi viện lạc của Phương Thượng cung, Dao Nguyệt một mình rảo bước trên con đường lát đá xanh dẫn ra Huyền Vũ Môn.

Nắng sớm đã xua tan hoàn toàn màn sương mù cuối cùng vương trên đỉnh thành Biện Lăng. Từng tốp cấm quân mặc giáp trụ sáng loáng đi tuần qua, khi nhìn thấy bóng áo nguyệt bạch mộc mạc của nàng, tất cả đều nghiêm cẩn dừng bước, cúi đầu nhường đường với sự kính trọng tuyệt đối dành cho người nắm giữ Miễn Tử Kim Bài.

Dao Nguyệt không mang theo nhiều hành trang. Toàn bộ vạn lượng hoàng kim và văn tự trạch đệ Thẩm phủ do Hoàng đế ban thưởng, nàng đã ủy thác cho các thuộc hạ trung thành năm xưa của phụ thân trông nom, dùng làm quỹ trợ cấp cho gia quyến những tướng sĩ Thẩm gia từng chịu hàm oan. Trên người nàng lúc này chỉ có chiếc tay nải nhỏ bằng vải bố, bên trong đựng nửa mảnh ngọc bội Huyền Điểu, chuỗi hạt bồ đề của Phương cô cô và chiếc trâm bạc khắc hoa mận năm cánh của mẫu thân đang cài trên mái tóc đen nhánh buông lỏng sau gáy.

Chiếc trâm bạc từng bị Tiêu Uẩn Lan bẻ gãy năm xưa nay đã được Tề Dực dùng vàng ròng hàn gắn lại một cách xảo diệu, tựa như vết thương rách nát của đời nàng rốt cuộc cũng được bù đắp và chữa lành.

Cửa Huyền Vũ Môn — cánh cổng thành phía bắc đồ sộ với những phiến gỗ lim dày nẹp sắt và hàng đinh đồng sáng bóng — từ từ chuyển động dưới sức kéo của hàng chục thị vệ. Tiếng then cài bằng đồng nặng trĩu vang lên một âm thanh trầm hùng “Cạch”, mở toang lối đi dẫn thẳng ra con đường thiên lý thênh thang rợp bóng cây ngân hạnh vàng rực.

Một cỗ xe ngựa hai thớt kéo trang nhã, thùng xe đóng bằng gỗ thông thơm mộc mạc, không hề có rèm gấm thêu rồng phượng hay hoa văn vương giả, đang lặng lẽ đỗ bên ngoài cổng thành.

Dao Nguyệt bước qua vòm cửa sâu thẳm, đón lấy luồng gió thu hào sảng thổi từ phía thảo nguyên bao la.

Nàng dừng bước, xoay người lại nhìn cung thành Biện Lăng lần cuối cùng.

Những bức tường thành đỏ thẫm cao ngất như vươn tới tận trời xanh, những mái ngói lưu ly vàng rực chói lọi dưới ánh dương, những lầu son gác tía tráng lệ uy nghiêm… Tất cả từng là nơi chôn giấu bao âm mưu tàn độc, bao giọt nước mắt câm lặng và nỗi oan khiên ngập trời của gia tộc nàng. Bảy năm trước, nàng bước vào cánh cổng này như một con kiến cỏn con, mang theo nỗi hận thù thấu xương tủy và sự nhẫn nhịn đến rách nát tâm can. Bảy năm sau, nàng hiên ngang bước ra, rũ sạch mọi bụi trần, trả lại cho nơi này một bầu trời quang đãng, còn bản thân thì vẹn nguyên phẩm giá và sự tự do.

“Không nỡ sao?”

Một giọng nói trầm ấm, quen thuộc vang lên bên tai, mang theo ý cười dịu dàng như gió xuân thoảng qua mặt hồ.

Dao Nguyệt quay đầu lại.

Tề Dực đang đứng bên cạnh tuấn mã của chàng, một tay cầm dây cương, ánh mắt chan chứa tình cảm sâu đậm đang nhìn nàng chăm chú. Chàng không ngồi trên chiếc xe lăn gỗ lim kẽo kẹt giả vờ tàn phế suốt mười năm ròng, cũng không còn khoác lên mình bộ cẩm bào rộng thùng thình nhằm che giấu vóc dáng luyện võ dẻo dai. Hôm nay, chàng mặc một bộ thường phục kỵ mã màu lam thẫm, vạt áo thêu mây bạc giản dị nhưng toát lên vẻ hiên ngang, khí phách ngút trời. Đôi chân từng bị thiên hạ chê cười là phế vật nay đứng vững vàng như bàn thạch, lưng thẳng như tùng bách đón gió sương.

Gió thu cuốn lấy vạt áo bào màu lam thẫm của chàng, hòa vào sắc nguyệt bạch trên tà váy của nàng, vẽ nên một bức tranh tuyệt mỹ giữa đất trời kinh kỳ.

Dao Nguyệt khẽ mỉm cười, đôi mắt cong cong như vầng trăng khuyết:

“Không phải không nỡ, mà là đang nhìn lại để khắc ghi rằng… chiếc lồng giam cầm đời ta rốt cuộc đã vĩnh viễn ở lại sau lưng.”

Tề Dực buông dây cương, từng bước đi tới trước mặt nàng. Đôi chân chàng bước đi vô cùng tự nhiên, vững chãi, mỗi bước chân đều đạp tan mười năm giả bệnh u uất. Chàng dừng lại trước mặt Dao Nguyệt, cúi đầu nhìn thiếu nữ đã cùng mình đi qua vũng lầy sinh tử, vươn bàn tay ấm áp, rắn rỏi nắm lấy bàn tay thon nhỏ của nàng.

Đầu ngón tay chàng khẽ lướt qua những vết chai mỏng và những vết sẹo nhỏ trên mười đầu ngón tay nàng. Ánh mắt Tề Dực thoáng qua một tia xót xa khôn nguôi, chàng đưa bàn tay nàng lên bên môi, khẽ đặt một nụ hôn thành kính và trân trọng nhất lên những vết sẹo ấy:

“Đôi bàn tay này đã gánh vác quá nhiều đau thương và toan tính. Từ nay về sau, ta sẽ không để nàng phải cầm lên bất kỳ mũi kim đoạt mệnh nào nữa. Đôi tay này chỉ dùng để pha trà, ngắm hoa, hoặc thêu những bức tranh sơn thủy mà nàng yêu thích dưới ánh mặt trời rực rỡ.”

Trái tim Dao Nguyệt khẽ run lên, một cảm giác ấm áp ngọt ngào lan tỏa khắp lồng ngực. Nàng ngước nhìn gương mặt tuấn lãng góc cạnh của chàng, khẽ hỏi:

“Sáng nay ở Càn Thanh điện, mọi việc đều thuận lợi chứ?”

Tề Dực khẽ gật đầu, ánh mắt thản nhiên như nước mùa thu:

“Mọi chuyện đều đúng như dự liệu của hai ta. Ta đã dâng trả Long Lân Phù và toàn bộ danh bạ Mặc Ảnh Vệ cho phụ hoàng. Thái Tổ Hoàng đế để lại thanh bảo kiếm trong bóng tối này là để bảo vệ bờ cõi hoàng triều, nay gian đảng Tiêu thị đã trừ, giang sơn đã định, thanh bảo kiếm ấy đương nhiên phải quy hoàn về tay người nắm giữ thiên mệnh. Phụ hoàng tuy có chút bất ngờ trước quyết định thoái ẩn của ta, nhưng người là bậc đế vương cả đời đa nghi, việc ta chủ động buông bỏ binh quyền chỉ khiến người trút bỏ được sự kiêng dè cuối cùng, hoàn toàn an lòng dưỡng bệnh.”

Dao Nguyệt nhìn chàng, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười trêu chọc:

“Ninh Vương điện hạ, ngài từ bỏ Long Lân Phù, từ bỏ quyền lực chấn động thiên hạ, từ bỏ cả cơ hội bước lên ngôi vị cửu ngũ chí tôn mà muôn người khao khát… ngài thật sự không tiếc nuối sao? Đi theo một thứ dân áo vải như ta, ngài chỉ có thể làm một vương gia nhàn tản, ngao du sơn thủy, ăn gió nằm sương thôi đấy.”

Tề Dực bật cười sảng khoái, tiếng cười vang vọng giữa thềm thành vắng lặng, xua tan đi tất cả những u ám của mười năm ẩn nhẫn:

“Ngai vàng kia lạnh lẽo ngập mùi máu, giang sơn vạn dặm ấy nặng trĩu những toan tính đa nghi, có gì đáng để tiếc nuối? Mười năm qua ta sống trong bóng tối, chỉ có một ước nguyện duy nhất là dọn sạch chông gai để tìm lại một ngày được sống thực với chính mình. Giang sơn Đại Ngụy là của Tề thị, nhưng Tề Dực này… từ lâu đã thuộc về riêng Thẩm Dao Nguyệt rồi.”

Chàng siết chặt bàn tay nàng trong lòng bàn tay mình, mười ngón tay đan chặt vào nhau, không một kẽ hở:

“Có nàng bên cạnh, nơi nào có non xanh nước biếc, nơi đó chính là giang sơn trọn vẹn nhất của ta.”

Ánh mắt hai người giao nhau giữa nắng sớm mùa thu, không cần thêm bất kỳ lời thề non hẹn biển nào nữa, bởi sinh tử hoạn nạn suốt những năm tháng qua đã là minh chứng khắc cốt ghi tâm nhất cho mối chân tình này.

Tề Dực đỡ Dao Nguyệt bước lên cỗ xe ngựa, cẩn thận chỉnh lại tấm đệm êm cho nàng. Sau đó, chàng tung mình nhảy lên lưng chiến mã, giật nhẹ dây cương.

“Đi thôi!”

Tiếng roi ngựa khẽ vút lên trong không trung trong trẻo. Bánh xe gỗ bắt đầu lăn bánh, nghiền qua những chiếc lá ngân hạnh vàng rực rơi trên mặt đường đá cổ kính, phát ra những tiếng lách cách đều đặn, nhịp nhàng.

Chiếc xe ngựa mộc mạc và bóng người kỵ mã sóng đôi bên cạnh dần dần rời xa cửa thành Biện Lăng.

Phía sau lưng họ, những bức tường thành đỏ thẫm và những mái ngói cung điện nguy nga thu nhỏ dần, chìm vào trong màn sương thu mờ ảo của quá khứ. Toàn bộ ân oán tình thù, máu và nước mắt của bảy năm tranh đấu đã chính thức khép lại sau cánh cổng Huyền Vũ Môn.

Phía trước họ, con đường thiên lý mở rộng thênh thang, trải dài tít tắp về phương nam. Nơi đó có dòng Trường Giang cuộn sóng, có những rặng núi xanh biếc trập trùng mây phủ, có khói bếp bình yên của những thôn trang ven sông, và có cả một bầu trời tự do vô tận đang đón chào hai cánh chim trời rũ sạch xiềng xích.

Nắng thu vàng rực rỡ trải dài trên lối đi, gió lộng bốn phương thổi tung vạt áo nguyệt bạch và tà cẩm bào xanh thẫm, hòa quyện vào nhau giữa bức tranh non sông cẩm tú ngút ngàn.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn