Anh chưa bao giờ được ngủ trong một ngôi nhà bạt Mông Cổ thực sự, lại càng chưa từng trải qua cảm giác tiếng mưa rơi lộp bộp trên đỉnh nhà bạt như đang gõ vào nhịp trống, lúc thì dồn dập, lúc lại hối hả hơn. Cơn mưa bên ngoài như thể muốn làm thủng cả bầu trời, rơi xuống không ngơi nghỉ một khắc nào.
Trong một môi trường như thế, giấc ngủ của con người sẽ trở nên sâu vô cùng, đến mức giữa đêm có tiếng sấm rền vang trời anh cũng chẳng hề nghe thấy.
Giấc ngủ này thật kỳ diệu, giống như đang thanh lọc toàn bộ cơ thể anh vậy, anh vừa ngủ vừa cảm thấy người mình càng lúc càng nhẹ bẫng. Trong cơn mơ, anh như muốn bay bổng lên không trung. Nói tóm lại là cả người nhẹ tênh, được lấp đầy bởi niềm vui sướng và hạnh phúc.
Khoảng hai ba giờ sáng, mưa tạnh, tiếng gõ trống trên đỉnh đầu cũng ngừng hẳn.
Tạ Sùng trở mình, chợt nhận ra bên cạnh không có người. Anh giật mình tỉnh giấc, vội vã gọi lớn: “Mâu Văn? Em đâu rồi?”
Bên ngoài truyền vào tiếng nói ghìm lại của Mâu Văn: “Tạ Sùng, em ở đây~ Em ở bên ngoài cơ~” Giọng cô như mang theo làn hơi lạnh, tựa hồ như vọng về từ phía chân trời xa xôi vậy.
Tạ Sùng khoác chiếc áo ngồi dậy, liếc nhìn thời gian rồi hỏi: “Mưa tạnh rồi à?”
“Tạnh rồi. Tạnh được một lúc rồi.”
“Sao em không ngủ đi?” Tạ Sùng bảo: “Vào ngủ đi em.”
“Em không vào đâu. Tạ Sùng, anh ra đây mà xem, anh mà nhìn thấy rồi thì cũng chẳng muốn vào nhà ngủ nữa đâu.” Mâu Văn gõ gõ vào cánh cửa gỗ của nhà bạt Mông Cổ, gọi Tạ Sùng: “Ra đây đi~”
Tạ Sùng quấn chiếc chăn bước ra ngoài, đẩy cánh cửa nhà bạt ra, anh cảm nhận được sương lạnh đêm sâu bên ngoài. Cái lạnh thấu xương lập tức lùa vào cổ khiến anh không nhịn được mà siết chặt chiếc chăn hơn.
Mưa đã tạnh, vầng trăng sáng treo cao trên đỉnh đầu, ánh trăng sáng như gương gột rửa vạn vật, cả thế giới lúc này hiện ra thật trong lành và sạch sẽ.
Ánh trăng trên thảo nguyên như thể có màu sắc vậy, một sắc trắng bạc tỏa sáng lấp lánh, tất cả đều đổ dồn lên người Mâu Văn. Mâu Văn đang ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ, nghe thấy tiếng động liền quay đầu lại nhìn anh: “Anh tỉnh rượu rồi à?”
“Chút rượu này thì thấm vào đâu chứ.” Tạ Sùng cũng tìm một chiếc ghế đẩu ngồi xuống bên cạnh cô: “Ngủ một lát là tỉnh ngay. Sao em không ngủ?”
“Em không nỡ ngủ.” Mâu Văn bảo: “Bây giờ em chỉ muốn lấy tăm để chống mí mắt mình lên thôi, đêm ở khu chăn nuôi đẹp quá, em nhìn mãi không chán.”
Cô đưa tay chỉ cho Tạ Sùng xem: “Anh nhìn kìa, ở phía chuồng cừu ấy.”
Lũ cừu non đã ra khỏi chuồng, chúng chen chúc nhau ngủ dưới bầu trời, thỉnh thoảng lại phát ra tiếng kêu be be be. Ánh trăng nhuộm lên lớp lông của chúng một màu trắng xóa, nhìn từ xa cứ như một đám mây lớn đang sà xuống thảo nguyên vậy.
“Anh nhìn cỏ nữa.” Mâu Văn lại bảo Tạ Sùng ngắm cỏ.
Những ngọn cỏ bị giọt mưa đè nặng đến mức cong cả lưng, vầng trăng như đang rọi đèn pin vào những giọt nước nhỏ, khiến giọt nào giọt nấy trông đều lấp lánh như ngọc. Làn gió nhẹ thoảng qua, những hạt ngọc nhỏ rụng xuống nền đất, đầu tiên màu đất thẫm lại một chút, ngay sau đó nước tan ra và bị đất uống trọn, màu sắc lại trở lại như bình thường.
Ánh trăng cũng rọi chiếu lên những chú thỏ con.
Mấy chú thỏ con ra ngoài đi dạo giữa đêm, cứ nhảy nhót tung tăng, lúc nhảy lên thì bị ánh trăng bắt được, lúc đáp xuống lại bị thảm cỏ tóm lấy.
“Đẹp lắm đúng không? Ngoại trừ lạnh ra.” Mâu Văn run lẩy bẩy nhích người lại gần phía Tạ Sùng, lẩm bẩm: “Ban đêm lạnh thật đấy.”
Tạ Sùng mở rộng chiếc chăn để Mâu Văn chui vào, hai người cùng quấn chung một chiếc chăn ngồi sát bên nhau, ngửa đầu ngắm nhìn vầng trăng.
“Túy hậu bất tri thiên tại thuỷ, mãn thuyền thanh mộng áp tinh hà.”* Tạ Sùng đọc lên câu thơ này. Mâu Văn kinh ngạc nhìn anh, cõi lòng rung động mạnh mẽ, đời này cuối cùng cô đã có được một người có thể cùng mình ngồi ngắm trăng ngâm thơ rồi.
*Trích: Đề Long Dương huyện Thanh Thảo hồ (题龙阳县青草湖). Dịch nghĩa: Sau khi say khướt, ta đâu có biết rằng bầu trời đó chỉ là bóng ở trong nước, cho nên trong giấc mơ trong trẻo, cứ ngỡ thuyền mình trôi trên mặt sông ngân hà. (Nguồn: https://dieptuthutrungblog.wordpress.com/2016/11/09/de-long-duong-huyen-thanh-thao-ho/)
Chính là một người như vậy, cùng ngồi dưới ánh trăng, cùng thủ thỉ tâm tình. Cảm giác đó trân quý biết bao nhiêu.
“Hồi nhỏ mỗi lần đến khu chăn nuôi, buổi tối em đều không muốn đi ngủ. Ở khu chăn nuôi có dải ngân hà, lần đầu tiên nhìn thấy ngân hà, em chỉ biết đọc thuộc lòng câu “Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên”*. Lên đại học đến Thiên Tân, Thiên Tân làm gì có ngân hà chứ? Đèn đường thành phố còn sáng hơn cả dải ngân hà ấy.” Mâu Văn hãy còn nói với Tạ Sùng.
*Trích: Xa ngắm thác núi Lư 望庐山瀑布 (Lý Bạch). Dịch nghĩa: Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây. (Tương Như dịch, trong Thơ Đường, NXB Văn học, Hà Nội, 1987)
“Những đêm em đến khu chăn nuôi, em cứ ngồi như thế này này. Thực ra ngồi như vậy chẳng có ý nghĩa gì mấy, nhưng em lại thấy thế giới này đẹp quá, em phải nhìn thêm một lúc nữa mới được.”
“Lúc đó em còn là một đứa trẻ nhỏ xíu, bố mẹ ngủ bên trong, một mình em cứ ngồi ngắm thảo nguyên như thế này, em cũng chẳng biết sợ là gì. Thực ra những đêm có trăng thì thảo nguyên chẳng đáng sợ chút nào đâu, đáng sợ nhất là những khi không có trăng ấy.”
“Có những lúc không có trăng cũng chẳng có sao, xung quanh tối đen như mực. Bóng tối như mở ra một cái miệng máu khổng lồ muốn nuốt chửng lấy em vậy.”
“Ở Bắc Kinh thì không có lúc nào tối tăm hoàn toàn như thế cả.” Mâu Văn nói: “Cũng có thể có, nhưng bản thân em chưa từng tự mình trải qua.”
Mâu Văn tựa đầu lên vai Tạ Sùng, chợt nhớ đến lời thì thầm “Vợ, yêu em” của anh lúc say rượu, cảnh này tình này, thật khiến lòng người ta rung động biết bao.
“Tạ Sùng, lần này đưa anh về quê em, em vui lắm. Em biết trước đây có thể anh còn chưa từng nghe qua nơi thế này, em giới thiệu quê hương của em, người nhà của em cho anh quen biết, họ có thể không giống với những người anh từng quen trước đây, nhưng anh có thể đối xử với họ chân thành như thế, em vui lắm… em…”
“Khò… khò…”
Mâu Văn nghe thấy tiếng ngáy khẽ, cô dời đầu khỏi vai anh, ghé mặt sát qua nhìn thử: ngủ mất rồi. Ngay vào lúc cô đang thổ lộ tâm tình với anh, anh ngủ mất rồi.
Mâu Văn lập tức nổi giận, cô đứng phắt dậy, đá mạnh vào chiếc ghế đẩu nhỏ của Tạ Sùng một cái, anh vừa giật mình tỉnh giấc vừa ngã nhào ra thảm cỏ, đến khi anh định thần lại thì Mâu Văn đã chạy biến vào trong nhà bạt Mông Cổ rồi.
Tạ Sùng đuổi theo định xử cô, Mâu Văn không ngừng đấm đá anh, mệt rồi liền trùm chăn kín đầu rồi đi ngủ.
Trong bóng tối, Tạ Sùng gọi cô: “Mâu Văn.”
“Nói!” Ý bảo có gì thì nói nhanh lên.
Tạ Sùng bật cười một tiếng: “Hôm nay bố em bảo có một con bò già hôm kia mới sinh một con bê con đấy. Ngày mai em dẫn anh đi xem đi.”
“Xem cái đó làm gì chứ?”
“Anh muốn xem xem điểm khác biệt giữa em và bê con rốt cuộc là gì.” Tạ Sùng bảo: “Anh thấy em còn lợi hại hơn cả bê con ấy chứ.”
Mâu Văn thật sự muốn tẩn anh một trận, nhưng cô buồn ngủ quá rồi, quyết định tha cho anh một mạng, xoay người một cái liền ngủ thiếp đi. Lúc này Tạ Sùng lại hết buồn ngủ, anh ghé sát vào người cô nhìn cô, dẫu cô đang trong giấc mộng vẫn cảm nhận được, lại bồi thêm cho anh một đá nữa.
Cô có giấc ngủ rất tốt, ngày hôm sau bị đánh thức bởi những tiếng động bên ngoài. Cô nghe thấy có người hét lớn: “Chặn lại! Chặn lại! Nhào lên! Nhào lên đi!”
Xen lẫn là tiếng của Tạ Sùng: “Mày đứng lại đó cho tao!”
Cô vừa ngáp dài vừa bước ra ngoài xem, bên ngoài nhà bạt Mông Cổ đã loạn cào cào lên rồi.
Tạ Sùng đang mặc một chiếc áo choàng Mông Cổ chẳng biết của ai đưa cho, đang thì bắt cừu. Con cừu chạy phía trước, anh đuổi theo phía sau. Chú chó chăn cừu chặn ngay trước mặt con cừu, ban đầu Mâu Văn cứ ngỡ chú chó đang giúp Tạ Sùng, nhìn nửa phút mới hiểu ra: Chú chó chăn cừu đang chỉ huy cho cừu non chạy trốn.
Mâu Văn ngồi xổm trên mặt đất cười, cười đến mức suýt chút nữa rơi cả nước mắt, cô hỏi người bên cạnh: “Sao thế ạ?”
“Mọi người bảo hôm nay sẽ nướng một con cừu, cậu ấy liền bảo để cậu ấy đi bắt.” Người nhà nói với Mâu Văn: “Cậu ấy bảo mình chạy nhanh lắm, bắt một con cừu non dễ ợt. Rồi cậu ấy chỉ thẳng vào con số 65 trong đàn cừu kia, bảo con số 65 có đôi mắt hai mí đẹp lắm, lông mi lại dài, cậu ấy muốn ăn đôi mắt xinh đẹp của nó.”
“Hôm qua anh ấy còn an ủi mấy con cừu non đó cơ mà, hôm nay đã đòi ăn “cừu cầm tay” rồi, tồi thật đấy.” Mâu Văn cố ý nói thế, đoạn hỏi tiếp: “Bắt bao lâu rồi ạ?”
“Hai mươi phút rồi.”
Lúc này Tạ Sùng chạy về phía cô, hét lớn với cô: “Tránh ra! Tránh đường!”
Mâu Văn đứng im đó không nhúc nhích, chỉ khẽ d*ng h** ch*n ra một chút. Khi con cừu non chui qua dưới chân cô, cô đột nhiên cúi người một cái, chuẩn xác túm chặt lấy tai cừu. Động tác nhanh đến mức thậm chí Tạ Sùng còn chưa nhìn rõ, sao con cừu non đã lọt vào tay cô rồi?
Tiếp đó cô ngồi xổm xuống ôm lấy con cừu non hỏi Tạ Sùng: “Bắt cừu khó không? Chẳng khó nhỉ?”
Tạ Sùng thở hồng hộc, tiếp đó bảo: “Không ăn nữa, không ăn cừu nướng nguyên con nữa đâu. Bà ơi, không ăn cừu nướng nguyên con có được không ạ? Nó chạy nhanh thế này, con không bắt được, có lẽ ông trời không muốn cho con ăn thịt nó rồi.”
“Ở chỗ bà tiếp khách là phải mổ cừu.” Bà nội nói.
“Con muốn ăn thịt xiên cừu cơ.” Tạ Sùng nói: “Con muốn ăn thịt xiên cừu. Con thấy lúc nãy có chỗ thịt còn thừa mà.”
Không nỡ rồi.
Cố tình bày ra màn kịch này, chẳng qua chỉ là để không phải ăn thịt chú cừu non vừa mới “quen” này mà thôi. Bà nội cũng nhận ra Tạ Sùng là người giàu tình cảm, liền trêu anh: “Hôm nay ăn chay.”
“Ăn chay ngon ạ!”
Đợi sau khi họ ăn xong bữa sáng, Mâu Văn dắt tới hai con ngựa trắng, đưa dây cương của một con cho Tạ Sùng, muốn dẫn anh đi chăn cừu. Mâu Văn rất thích chăn cừu, chăn cừu vui lắm, chẳng nhàm chán chút nào cả.
Tạ Sùng nhận lấy dây cương, áp đầu vào trán chú ngựa chẳng biết đang liên thiên cái gì, tiếp đó vỗ vỗ vài cái, chú ngựa thở phì phò một tiếng như thể đang trả lời anh là nó đã hiểu rồi, lúc này anh mới xoay người nhảy lên lưng ngựa.
Động tác lên ngựa của Tạ Sùng vô cùng nhanh nhẹn, lúc ngồi trên lưng ngựa trông anh oai phong lẫm liệt, tựa như một “tướng quân trên lưng ngựa”.
Mâu Đức Xương thấy động tác của anh thuần thục liền hỏi: “Biết cưỡi ngựa cơ à? Giỏi gớm nhỉ.” Ai cũng bảo các bạn nhỏ ở thành phố phát triển toàn diện “đức, trí, thể, mỹ, lao”, quả nhiên đúng là như vậy, đến cả môn thể thao như cưỡi ngựa cũng biết.
“Con từng học.” Tạ Sùng nói.
“Cưỡi ngựa mà cũng phải học sao? Chẳng phải là thiên bẩm sao? Cứ tiếp xúc một chút là được mà.” Mâu Đức Xương lại hỏi. Người ở khu chăn nuôi dường như chẳng có ai từng học cưỡi ngựa cả, từ khi còn là một đứa trẻ đã bị người lớn quăng lên lưng ngựa rồi, đến năm năm sáu tuổi chữ nghĩa bẻ đôi chưa biết nhưng đã biết cưỡi ngựa chạy phăng phăng khắp thế giới rồi.
Tạ Sùng cũng chẳng tiện nói ra là mình đã phải tốn mất ngót nghét hai trăm nghìn tệ để học cái này, chỉ mỉm cười một cái.
Lúc này Mâu Văn đứng bên cạnh xen vào: “Người ta tốn những hai trăm nghìn tệ để học đấy ạ, học kỹ thuật cưỡi ngựa!”
“Hai trăm nghìn tệ?” Mâu Đức Xương trợn tròn mắt: “Học kỹ thuật cưỡi ngựa?”
“Đây là một hạng mục thể thao ạ.” Tạ Sùng giải thích: “Có phần không giống với việc cưỡi ngựa thông thường ngày thường lắm… Nó rất phức tạp, cũng rất…”
“Thế sao?” Mâu Văn hỏi vặn anh một câu, cô nắm lấy dây cương, Tạ Sùng còn chưa kịp nhìn rõ thì người cô đã bay lên ngồi vững trên lưng ngựa từ bao giờ rồi. Đúng vậy, cô bay lên ngựa đấy, giống như việc lên ngựa vốn chẳng cần khựng lại chút nào, cứ thế xoẹt một cái là bay lên rồi.
Tạ Sùng nghệt mặt ra.
Anh nhớ mình từng hỏi Mâu Văn có biết cưỡi ngựa không, Mâu Văn bảo chỉ biết cưỡi bừa thôi. Anh không biết cái kiểu “cưỡi bừa” của cô lại là trình độ “bay lên ngựa” như thế này.
Mâu Văn đột nhiên vung roi thúc chân ngựa phi đi, cô ngồi một cách thong thả trên lưng ngựa, chạy lên phía trước rồi đột ngột ghìm cương. Con ngựa nhấc cao hai vó trước, cất tiếng hí vang, vài giây sau mới đáp xuống đất.
“Có phải hạng mục kiểu này không?” Mâu Văn hét lớn: “Hay là em biểu diễn cho người Bắc Kinh xem màn ngựa xoạc chân nhé?” Cô nói xong liền đắc ý hếch cằm lên, sợ Tạ Sùng đánh mình nên đã chủ động phi ngựa chạy trước.
Tạ Sùng cảm thấy ấn tượng của mình về người Nội Mông Cổ hoàn toàn chính xác: Họ đúng là cưỡi ngựa đi học thật!
Anh vừa âm thầm hậm hực vừa lẳng lặng thúc ngựa bám theo đàn cừu.
Hôm nay họ phải lùa đàn cừu ra bờ nước để uống nước trước, băng qua hai sườn đồi cỏ là sẽ đến bờ nước. Anh và Mâu Văn lần lượt đi ở hai bên đàn cừu, chú chó chăn cừu thì chạy đôn chạy đáo trước sau trái phải, đúng là bận đến tối tăm mặt mũi.
Đội ngũ khổng lồ hành quân trên thảo nguyên, Tạ Sùng lo cừu bị lạc mất nên mắt không rời một giây nào để trông chừng. Mâu Văn thì lại ngậm một ngọn cỏ trong miệng, ngồi lắc lư trên lưng ngựa, trông như sắp ngủ đến nơi vậy.
Ánh nắng rất đẹp, cỏ nước rất mỡ màng, đàn cừu rất nghe lời, chú chó tận tụy với chức trách, chẳng còn điều gì phải phiền lòng nữa cả. Tạ Sùng đột nhiên đâm ra ngưỡng mộ những người dân chăn nuôi, thậm chí anh cảm thấy làm dân chăn nuôi thật là tốt, việc gì cứ phải đến Bắc Kinh để chịu cái khổ đày đọa con người ta làm gì.
Tạ Sùng hét lớn với Mâu Văn: “Đua không?” Trước đây anh vốn không phải kiểu người hơn thua, từ ngày quen biết Mâu Văn, anh cứ hay muốn so tài với cô. Tố chất cơ thể của Mâu Văn lúc nào cũng khiến anh cảm thấy nếu không đua một chút thì thật đáng tiếc.
“Đua gì cơ?” Mâu Văn hiếu thắng lập tức nghênh chiến.
“Đua cưỡi ngựa.” Roi trong tay Tạ Sùng chỉ thẳng về phía trước: “Đến bờ sông.”
“Được thôi!”
“Tiếng chó sủa tiếp theo chính là tiếng súng phát lệnh của chúng ta nhé.” Tạ Sùng vừa mới nói xong quy tắc này, chú chó chăn cừu liền cất tiếng sủa một cái, ngay lập tức hai con ngựa của họ đồng thời lao vút đi!
Cơn gió trên thảo nguyên lớn biết bao, ùa vào miệng mũi tim phổi của Tạ Sùng, như muốn gột rửa cả con người anh từ trong ra ngoài một lượt. Mái tóc anh bị gió thổi dựng ngược lên, còn vạt áo thì bay phấp phới. Thảo nguyên trong mắt anh như lùi nhanh về phía sau, dòng sông lấp lánh ánh sáng đã hiện ngay trước mắt!
Anh nghiêng đầu nhìn sang, con ngựa của Mâu Văn đang chạy sát sạt cạnh ngựa của anh. Cô dán chặt mắt về phía trước, thỉnh thoảng lại “oa oa” hét lớn, thúc giục con ngựa của mình giống như một người dân chăn nuôi thực thụ: Chạy mau!
Hai con ngựa chạy đến điên cuồng, chạy đến độ phấn khích, bất chấp tất cả lao vút về phía trước.
Sắp đến bờ sông rồi!
Tạ Sùng ghìm chặt dây cương, con ngựa đột ngột dừng lại, còn Mâu Văn thì đã lao thẳng vào dòng sông.
Nước bắn tung tóe, Tạ Sùng không kịp né tránh, cả gương mặt bị dội ướt sũng. Mâu Văn đã bất chấp tất cả, cưỡi con ngựa của mình băng qua dòng suối nông, sang đến bờ bên kia.
Cô quay đầu ngựa hét lớn với anh ở bờ bên kia: “Em thắng rồi nhé, anh có phục không?”
Tạ Sùng vừa trải qua một lần cưỡi ngựa sảng khoái, lồng ngực vẫn còn đang phập phồng th* d*c, anh chịu thua một cách tâm phục khẩu phục: “Em giỏi thật.”
Mâu Văn giật dây cương bắt chú ngựa xoay vòng hí vang: “So với những người ở lớp dạy cưỡi ngựa của các anh thì thế nào?”
“Em được tính là nằm trong số những người đứng đầu bảng.”
“Không phải hạng nhất?”
“Hạng nhất thì quả thực không phải.” Tạ Sùng thành thật nói. Hạng nhất chắc chắn phải là Tưởng Vu. Tưởng Vu cưỡi ngựa giỏi không chỉ là kết quả của việc huấn luyện, mà thực sự là do thiên phú. Thành tích năm mười hai mười ba tuổi của Tưởng Vu đã tốt hơn cả vận động viên chuyên nghiệp rồi, đáng tiếc là cô ấy không thích thi đấu.
“Không phải hạng nhất cũng chẳng sao cả.” Mâu Văn bảo: “Thắng được anh là được rồi. Dù sao hạng nhất em cũng chẳng gặp được, em chỉ cần làm đại vương ở trước mặt anh!” Con ngựa của cô lại đạp nước quay trở về, đi đến bên cạnh Tạ Sùng.
Đàn cừu vừa gặm cỏ vừa di chuyển, họ dắt ngựa đi theo đàn cừu. Chỗ nào bị tụt lại xa quá thì họ lại cưỡi ngựa đuổi lên theo, rồi lại xuống ngựa tiếp tục đi bộ. Mâu Văn lấy ra chiếc bình giữ nhiệt từ trong chiếc túi đeo chéo nhỏ của mình đưa cho anh uống nước, cô còn mang theo cả kẹo sữa cho anh nữa.
“Anh cảm giác nếu cứ chăn cừu thế này thì anh có thể chăn cả đời được.” Tạ Sùng nói.
“Tiếc là kỳ nghỉ ngắn quá.” Mâu Văn bảo: “Nếu không em nhất định sẽ bắt anh chơi thử hết tất cả những trò hay ho của thảo nguyên một lượt. Chỗ bọn em có nhiều thứ hay ho lắm, chỉ tiếc là xa quá, hiếm có người sẽ đến.”
“Lần sau lại đến.” Tạ Sùng nói: “Lần sau sẽ sắp xếp nhiều ngày hơn chút.” Anh vừa đi bộ vừa nói: “Lạ thật đấy, hai ngày nay chẳng thấy có ai gọi điện cho anh cả.”
Mâu Văn “ơ” một tiếng, tốt bụng nhắc nhở anh: “Có thể là có gọi đấy… nhưng anh không nhận được đâu… Tín hiệu ở chỗ này phải nói thế nào nhỉ? Gọi điện thoại cơ bản là phải dựa vào… duyên phận.”
Mâu Văn có chút hổ thẹn.
Đã là năm 2012 rồi mà tín hiệu trên thảo nguyên vẫn còn kém đến thế này.
“Thế có nghĩa là khách hàng, cấp dưới của anh đều không liên lạc được với anh sao? Anh đã mất tích hai ngày rồi à?” Tạ Sùng hỏi.
“Là vậy đấy.” Mâu Văn nói: “Dù sao trước khi đi em đã xử lý xong xuôi hết công việc rồi.”
“Nhưng em không hề nhắc anh?”
“Em cứ tưởng công việc của anh là thích làm thì làm, không thích làm thì thôi.” Mâu Văn bật cười một tiếng, lại an ủi anh: “Không sao đâu, buổi tối quay về Nha Khắc Thạch rồi.”
“Nhưng anh còn chưa chơi đã mà!”
Tạ Sùng từng đi qua rất nhiều nơi, thấy rất nhiều phong cảnh, nhưng bất kể anh đi đến đâu, nhìn thấy những gì, anh đều giống như một người ngoài cuộc. Anh biết mình không thuộc về nơi đó, cũng biết sớm muộn gì mình cũng sẽ rời đi, thế nên lúc nào anh cũng chỉ cưỡi ngựa xem hoa. Anh ở quê của Mâu Văn tính ra mới có hai ba ngày, vậy mà lại có cảm giác bản thân không còn là người đến từ nơi khác nữa rồi.
Cái cảm giác hiếm có như thế khiến anh không nỡ rời đi.
“Vậy cũng chịu thôi.” Mâu Văn nói: “Mỗi lần em rời xa nhà đều là cái cảm giác này đấy, em không muốn đến nơi đất khách quê người chút nào, nhưng lại cứ buộc phải đi. Tàu hoả vừa chạy là em bắt đầu khóc, nhưng chỉ một hai tiếng sau là em lại hết khóc ngay. Em bắt đầu hướng về cuộc sống trở lại trường học, ồ, bây giờ là hướng về cuộc sống trở lại Bắc Kinh.”
“Hướng về tương lai có làm em thấy dễ chịu hơn không?” Tạ Sùng hỏi.
“Hướng về tương lai giúp em có thêm sức lực.” Mâu Văn đáp.
Buổi chiều dắt Tạ Sùng đi vắt sữa bò, Tạ Sùng vừa mới nắm lấy bầu sữa bò đã cảm thấy vô cùng kỳ quặc, nhíu chặt lông mày vuốt xuống hai cái liền vội vàng buông tay tháo chạy. Thế nhưng bê con thực sự rất thú vị. Chú bê con chạy lao bừa bãi, trông ngốc nghếch vô cùng. Tạ Sùng đã chơi đùa với bê con rất lâu.
Khi hoàng hôn buông xuống, họ phải quay về Nha Khắc Thạch rồi.
Chuyến đi này họ không sắp xếp thêm nhiều thời gian, sáng sớm ngày hôm sau họ đã phải lái xe quay trở lại Bắc Kinh.
Buổi tối Cát Vân Thanh cứ mải miết sắp xếp đồ đạc, Mâu Văn đứng bên cạnh nhắc nhở bà: “Không xếp vừa đâu mẹ, làm sao có thể nhét vừa nhiều thứ thế này được chứ?”
“Cốp xe của hai đứa bây giờ trống không rồi, hàng ghế sau cũng đang trống, xếp được hết.”
“Nhưng mà mẹ, nguyên con cừu thế này thì không cách nào giữ cho hai ngày không bị rã đông được đâu ạ. Chỉ mười mấy tiếng sau là nó tan đá ra ngay, trong xe sẽ toàn là nước máu.”
Cát Vân Thanh đột nhiên có chút giận dỗi: “Mẹ không cần biết, ngày mai lúc con tìm chỗ ngủ dọc đường thì tìm cái tủ đông nào đấy mà gửi đông nhờ một đêm.” Bà rất hiếm khi nổi giận với Mâu Văn, lúc này vừa nói vừa chực rơi nước mắt. Chẳng hiểu sao, con gái đã rời nhà bao nhiêu lần rồi, chỉ có lần này là bà cảm giác hoàn toàn khác biệt. Cứ như thể đi lần này là đi mãi không về nữa vậy.
Lúc đầu Mâu Văn ngẩn người ra, tiếp đó liền tiến lên ôm lấy bà: “Được rồi, được rồi mà mẹ, con mang đi. Mẹ còn thứ gì muốn nhét cho con nữa thì cứ nhét hết cho con đi. Được không ạ?”
Cát Vân Thanh quẹt nước mắt bảo: “Thế còn tạm được.”
Bà khăng khăng bắt mang theo cả con cừu, mang theo thịt bò, mang theo nấm rừng và rau dại, đều là những báu vật của nơi đây. Bà tin rằng, dẫu ở Bắc Kinh thì cũng chẳng thể nào được ăn những thứ ngon đến nhường này. Cũng bởi vì Tạ Sùng đã mang quá nhiều quà đến, nên bà muốn đem món quà đáp lễ tốt nhất mà mình có thể bỏ ra để cho anh mang về.
Nói cho cùng, vẫn là vì sợ Mâu Văn thực sự giống như lời người khác bàn tán: Gả cho một người Bắc Kinh, sau này sẽ có những uất ức chịu không thấu.
Cát Vân Thanh nghĩ đến đây lại khóc.
Lần này là thực sự vô cùng đau lòng, cứ như thể Mâu Văn thực sự đã phải chịu uất ức vậy. Bà khóc, Mâu Văn ban đầu còn dỗ dành bà, tiếp đó liền há miệng “oà” một tiếng rồi cũng khóc nấc lên theo.
Mâu Đức Xương và Tạ Sùng ngồi bên ngoài tiệm bánh bao, hai người đang uống nước ngọt, nghe thấy tiếng khóc bên trong, Mâu Đức Xương cũng bắt đầu nghẹn ngào theo.
“Bố biết, nhà bố không thể so được với nhà con. Nhà bố là người ở nơi nhỏ bé, nhà con là người Bắc Kinh giàu có.” Mâu Đức Xương vừa lau nước mắt vừa nói: “Nhưng Văn Văn là đứa con gái được bố mẹ nâng niu trong lòng bàn tay từ nhỏ, những thứ bố mẹ cho con bé có thể chẳng đáng là gì trong mắt con, nhưng đó thực sự là những thứ tốt nhất mà bố mẹ có thể bỏ ra được rồi…”
“Mong con nhất định đừng khiến Văn Văn phải chịu uất ức, bố cảm ơn con.” Mâu Đức Xương vỗ vỗ lên mu bàn tay Tạ Sùng.
Mắt Tạ Sùng cũng đỏ lên.
“Cô ấy sẽ không phải chịu uất ức, cũng sẽ không phải chịu khổ đâu ạ.” Tạ Sùng nói: “Con xin hứa với bố, bố ạ. Nếu con không làm được, con sẽ không quay lại gặp bố mẹ nữa.”
Ngày họ rời khỏi Nha Khắc Thạch là một ngày mưa thuận gió hòa, nắng ráo đẹp trời.
Mùa này chính là khoảng thời gian Nha Khắc Thạch đẹp nhất.
Cây cối ở dãy Đại Hưng An Lĩnh đều xanh mướt, trong rừng đầy rẫy những sản vật quý hiếm; cỏ trên thảo nguyên cũng xanh tươi, vạn vật sinh trưởng.
Mâu Văn một lần nữa rời xa quê nhà, để đi đến nơi được gọi là “trên trời” trong mắt của những người đồng hương.
Quê nhà lùi xa dần trong chiếc gương chiếu hậu của cô, cô biết mẹ nói đúng: Một khi cô đã lập gia đình ở một nơi khác, cô sẽ rất khó để có thể quay trở về quê nhà được nữa.
Chú cừu non và chú chó chăn cừu ở khu chăn nuôi, những đám mây trắng sà xuống dòng sông và ánh chớp đêm mưa, những chú ngựa trắng thỏa sức phi nước đại và cây cổ thụ đã sống ngàn năm, tất cả những thứ này đều sẽ cách xa cô. Đến cả cô và bố mẹ cô yêu thương nhất, cũng là gặp một lần lại bớt đi một lần rồi.
Mâu Văn nghĩ đến đây, cuối cùng cũng không thể nhịn nổi nữa, khóc thành tiếng.