Hương trầm nồng nặc và tà áo đỏ rực của Liễu Quý phi cùng đoàn tùy tùng vừa khuất sau cổng tùng bách của Thái Y Viện, bầu không khí đặc quánh như chì mới dần dần loãng ra. Nhưng sự tĩnh lặng nơi sân viện không mang lại cảm giác bình yên, mà giống như khoảnh khắc ngừng gió rợn ngợp giữa hai cơn cuồng nộ của trời đất.
Ta đứng nguyên tại chỗ, hai bàn chân tê rần vì đứng quá lâu trên nền gạch ngói lạnh buốt. Mùi giấm thanh dùng để làm phản ứng đổi màu giấy nhuộm hoa chuông vẫn còn phảng phất nơi đầu ngón tay, chua nồng và sắc lẹm, nhắc nhở ta về lằn ranh sinh tử vừa bước qua.
“Tiêu tỷ tỷ! Tỷ… tỷ cứu được mạng muội rồi!”
Bạch Chỉ không kìm được nữa, lao đến ôm chầm lấy cánh tay ta, nước mắt giàn giụa làm ướt một mảng tay áo xanh nhạt. Cơ thể con bé run rẩy như cánh dâu trước gió, tiếng nấc nghẹn ngào phá vỡ sự im lặng chết chóc. Xung quanh, mấy mươi y quan, ngự y và dược đồng vẫn còn sững sờ. Ánh mắt họ nhìn ta đã hoàn toàn thay đổi. Không còn sự khinh nhờn dành cho một nữ y quan thất phẩm chỉ biết sao tẩm củi lửa vụn vặt, mà thay vào đó là sự kinh ngạc, kính sợ, xen lẫn chút dè chừng xa cách.
Ở chốn cung đình này, kẻ có tài đã hiếm, nhưng kẻ dám dùng tài năng để chặn đứng một màn vu oan giá họa trước mặt vị phi tần quyền khuynh lục cung thì chỉ có thể là bậc kỳ tài hoặc kẻ điên không sợ chết.
“Bạch Chỉ, đứng thẳng dậy. Lau nước mắt đi.” Ta hạ thấp giọng, vỗ nhẹ lên mu bàn tay lạnh ngắt của con bé. Giọng ta bình thản đến mức chính ta cũng phải ngạc nhiên: “Ở nơi này, rơi nước mắt là điều vô dụng nhất. Muốn sống sót, trước hết phải học cách đứng vững.”
Cố Viện phán từ tốn bước tới. Lưng ông dường như còng thêm một chút sau biến cố long trời lở đất vừa rồi. Chòm râu dê hoa râm khẽ rung rinh, đôi mắt đục ngầu lướt qua ta với một tia nhìn phức tạp khôn tả: có tán thưởng, có nhẹ nhõm, nhưng phủ trùm lên tất cả là nỗi lo âu thăm thẳm.
“Tất cả giải tán! Ai về vị trí nấy, thu dọn dược phòng, kiểm kê lại các thang thuốc của các cung!” Cố Hoài Viễn cất giọng khàn khàn xua tan đám đông, rồi quay sang nhìn ta: “Tiêu y quan, theo lão phu vào tẩm phòng.”
Ta khẽ cúi đầu, chỉnh lại vạt áo ngay ngắn rồi cất bước đi theo bóng lưng còng của ông.
*
Tẩm phòng của Cố Viện phán nằm sâu trong góc đông của Thái Y Viện, quanh năm đóng kín cửa sổ, ngập tràn mùi bồ kết khô, long não và mùi giấy mục của những cuốn cổ thư ngàn năm. Trên bàn trà bằng gỗ mun chỉ đặt một ấm trà hoa cúc đã nguội ngắt.
Cố Hoài Viễn ngồi xuống ghế chủ vị, không vội nói năng gì. Ông run rẩy rót một chén trà, uống cạn một hơi như muốn dùng vị đắng chát của hoa cúc để trấn áp nỗi kinh hoàng vừa trải qua nơi lồng ngực. Mãi một hồi lâu sau, khi tiếng ồn ào ngoài viện đã hoàn toàn lắng xuống, ông mới ngước mắt nhìn ta.
“Nha đầu, ngươi có biết hôm nay ngươi vừa làm một việc kinh thiên động địa đến mức nào không?”
“Hồi bẩm Viện phán đại nhân,” ta bình tĩnh đáp, ánh mắt không hề né tránh, “vi thần chỉ làm tròn bổn phận của một người kiểm định thảo dược. Nếu hôm nay để mặc cho chiếc hộp phấn đó vu tội cho thang thuốc của Thái Y Viện, không chỉ Bạch Chỉ mất mạng, mà hơn trăm con người từ ngự y đến tạp dịch nơi đây đều sẽ chịu chung số phận chôn cùng mối nghi ngờ của Hoàng thượng.”
“Ngươi cứu được Thái Y Viện, nhưng ngươi đã tự tay đẩy mình vào lò lửa.” Cố Viện phán thở dài, tiếng thở mang theo sự bất lực của một lão già đã nếm trải bốn mươi năm gió tanh mưa máu chốn cung đình. “Liễu Quý phi là người thế nào? Phụ thân nàng ta là Thừa tướng đương triều Liễu Kính Nghiêm, tay nắm nửa số cấm quân, môn sinh trải khắp sáu bộ. Nàng ta vào cung sáu năm, độc sủng hậu đình, chưa từng phải chịu một cái bạt tai hay một lời trách cứ nào. Vậy mà hôm nay, trước mặt bao nhiêu ngự y và cấm vệ, một nữ y quan thất phẩm như ngươi lại dùng vài giọt giấm thanh và một mảnh giấy nhuộm ép nàng ta phải nuốt cơn giận vào bụng, tự tay xử lý tay chân của chính mình!”
“Quý phi nương nương là bậc phượng hoàng trên cao, ắt hẳn hiểu rõ đạo lý đại cục.” Ta nhàn nhạt đáp, khóe môi khẽ nhếch lên một tia tự giễu. “Nếu không có màn vạch trần độc tính đó, việc bột phấn tương khắc với dầu hoa dạ lan bị lộ ra ngoài theo cách khác, gia tộc họ Liễu sẽ mang tội danh mưu hại long tự rõ ràng hơn.”
“Ngươi nghĩ nàng ta sẽ cảm kích ngươi sao?” Cố Hoài Viễn đập mạnh chén trà xuống bàn, nước trà bắn tung tóe. “Không! Kẻ bề trên không bao giờ cảm kích kẻ vạch trần sự yếu kém hoặc mưu mô bị hớ hênh của họ. Nàng ta sẽ chỉ nhớ rằng: Tiêu Nhược Lan ngươi là một cây trâm sắc nhọn nằm ngoài tầm kiểm soát của Liễu gia. Mà một cây trâm không chịu để kẻ khác nắm trong tay, kết cục duy nhất là bị bẻ gãy!”
Căn phòng rơi vào sự im ắng nặng nề. Ánh sáng le lói qua khe cửa sổ rọi lên những hạt bụi li ti đang lơ lửng giữa không trung.
Ta hiểu rõ những lời Cố Viện phán nói. Ở thế kỷ hai mươi mốt, ta từng đứng trong những phòng thí nghiệm vô trùng, đối mặt với những báo cáo phản biện y khoa khắc nghiệt nhất, nơi chân lý thuộc về số liệu thực nghiệm và chứng cứ khoa học rõ ràng. Nhưng ở thời đại này, chân lý nằm trong tay kẻ nắm quyền sinh sát. Khoa học thực nghiệm của ta vừa cứu mạng ta, nhưng cũng đồng thời xé toạc bức màn ngụy trang mờ nhạt mà ta đã dày công vun đắp suốt nửa năm qua.
Đúng lúc đó, bên ngoài hành lang vang lên tiếng bước chân vội vã kèm theo tiếng lách cách của huyền thiết ngọc bội. Giọng nói the thé đặc trưng của một thái giám nội đình vang lên từ cửa:
“Thánh chỉ đáo! Tiêu Nhược Lan nữ y quan mau ra tiếp chỉ!”
Cố Viện phán giật mình biến sắc, vội vàng đứng bật dậy. Ta khẽ hít một hơi sâu, điều hòa lại nhịp tim, chỉnh đốn y phục rồi cùng ông bước nhanh ra tiền sảnh.
Đứng giữa sảnh đường là Triệu công công – ngự tiền thái giám thân cận của Hoàng đế Chu Nguyên Đế. Phía sau ông ta là hai tiểu thái giám bưng khay phủ lụa điều vàng óng ả.
“Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết: Nữ y quan thất phẩm Tiêu Nhược Lan, tính tình cẩn trọng, y lý tinh thông, phân định dược chất sáng suốt, kịp thời vạch trần độc kế trong vụ án Diên Hi Cung, giữ gìn sự trong sạch cho y đạo triều đình. Trẫm xét thấy tài năng xuất chúng, đặc cách tấn thăng làm Lục phẩm Nữ Quan Thượng Dược, ban quyền chưởng quản Dược Khố Nội Đình, chuyên trách kiểm định ngự dược và kỳ trân dị thảo tiến cống. Khâm thử!”
Tiếng tuyên chỉ lảnh lót vang vọng khắp đại sảnh Thái Y Viện.
Ta quỳ rạp trên nền đá hoa cương, hai tay giơ cao quá đầu: “Tiêu Nhược Lan tạ ơn Hoàng thượng long ân, nguyện tận tâm kiệt lực vì y đạo.”
Triệu công công mỉm cười, nụ cười trên gương mặt nhẵn nhụi không một nếp nhăn chứa đầy sự thâm sâu của kẻ phục vụ bên cạnh đấng chí tôn: “Chúc mừng Tiêu Thượng Dược. Hoàng thượng đích thân nghe Khánh công công bẩm báo lại chuyện xảy ra ban sáng. Ngài rất tán thưởng sự quyết đoán và thực nghiệm của cô nương. Khay này là quan phục Lục phẩm dệt bằng lụa thanh thiên, cùng với ngọc bài và chùm chìa khóa bằng đồng thau mở Dược Khố Nội Đình. Xin mời Tiêu Thượng Dược tiếp nhận.”
Ta đón lấy chiếc khay nặng trịch. Chùm chìa khóa bằng đồng thau chạm khắc hoa văn mây cuộn va vào nhau phát ra những tiếng leng keng thanh thúy. Nhưng ta biết rõ, thứ đang nằm trên tay ta không phải là vinh hoa phú quý, mà là một khối sắt nung đỏ rực.
Chu Nguyên Đế là kẻ đa nghi tột bậc. Ngài không tin Liễu Quý phi, không tin Thái Y Viện, và càng không tin bất kỳ thế lực nào trong triều. Việc ngài thăng chức cho ta, một kẻ xuất thân bình dân không có gia tộc chống lưng, thực chất là muốn đặt một chiếc gai nhọn ngay trước cửa Dược Khố để kiềm tỏa mạng lưới thao túng dược liệu của họ Liễu. Ngài biến ta thành một quân cờ công khai trên bàn cờ quyền lực của ngài.
Tiễn Triệu công công rời đi, Cố Viện phán đứng nhìn chùm chìa khóa trong tay ta, chòm râu khẽ run lên, buông một tiếng thở dài não nuột:
“Bước chân lên Thượng Dược… Nha đầu, từ nay về sau, sau lưng ngươi là vách đá, trước mặt ngươi là miệng cọp rồi.”
*
Dược Khố Nội Đình nằm ở góc đông bắc của Tử Cấm Thành, tựa lưng vào tường thành kiên cố và được canh gác cẩn mật bởi hai tầng cấm vệ quân. Khác hẳn với Dược Tịch Các ẩm mốc hay các dược phòng thông thường của Thái Y Viện, nơi đây là trái tim dược liệu của cả đế quốc Đại An.
Ta tra chiếc chìa khóa đồng lớn nhất vào ổ khóa hình thao thiết, khẽ xoay một vòng. Tiếng cơ quan bằng đồng chuyển động “cạch” một tiếng khô khốc, cánh cửa gỗ lim ngâm dầu dày nửa thước từ từ hé mở.
Một luồng không khí khô ráo, thơm ngát mùi thảo mộc thượng hạng ùa ra bao bọc lấy ta. Đó là sự pha trộn kỳ diệu giữa hương ngọt thanh của nhân sâm thượng phẩm, vị cay the nồng nàn của quế thanh quan đình, hương thơm u uất của trầm hương bách niên và mùi hăng hăng đặc trưng của hàng ngàn vị thuốc quý giá.
Bạch Chỉ xách lồng đèn đi theo sau ta, đôi mắt tròn xoe kinh ngạc nhìn những dãy kệ gỗ mun cao chạm trần nhà. Mỗi chiếc ngăn kéo đều được khảm xà cừ ghi rõ tên thuốc, niên đại tiến cống và xuất xứ: từ Linh chi ngàn năm của Trường Bạch Sơn, Ngọc trúc của Vân Nam, cho đến những loại hương liệu bí truyền từ Tây Vực xa xôi.
“Tiểu thư… à không, Thượng Dược đại nhân, nơi này… nơi này như một kho báu vậy!” Bạch Chỉ thì thầm, sợ làm kinh động đến sự tĩnh mịch trang nghiêm của gian phòng.
“Đúng là một kho báu,” ta lẩm bẩm, ánh mắt quét qua từng tầng kệ gỗ, “nhưng cũng là một kho độc dược giết người không thấy máu.”
Ta bảo Bạch Chỉ ở lại gian ngoài đối chiếu sổ sách nhập kho, một mình cầm theo ngọn đèn dầu tiến sâu vào gian phòng trong cùng – nơi lưu giữ những dược liệu quý hiếm và nguy hiểm nhất, chỉ có Thượng Dược Nữ Quan và Viện phán mới có quyền mở niêm phong.
Mục đích thực sự của ta khi nhận chiếc chìa khóa này không phải vì bổng lộc Lục phẩm, mà là vì Chu Dịch.
Ta bước đến trước một dãy tủ sắt màu đen tuyền được khóa bằng khóa cơ quan ba tầng. Dưới ánh nến bập bùng, ta lật mở từng ngăn kéo bí mật. Trái tim ta khẽ đập nhanh khi nhìn thấy những thứ mình đang tìm kiếm bấy lâu.
Ngăn thứ nhất: Tuyết Sơn Bạch Liên. Những đóa hoa sen tuyết trắng muốt như ngọc, được ướp trong băng phiến và hộp ngọc hàn thạch để giữ nguyên dược tính. Dưới góc nhìn dược lý hiện đại, loài thảo mộc sinh trưởng ở độ cao năm ngàn thước này chứa hàm lượng cực cao các flavonoid quý hiếm và alkaloid chống viêm đặc hiệu, có khả năng kích hoạt hệ miễn dịch bị ức chế sâu và bảo vệ màng tế bào trước sự phá hủy của các độc tố cực hàn.
Ngăn thứ hai: Tử Đan Sâm thượng phẩm từ vùng đất đỏ Lĩnh Nam. Những củ sâm màu tím sẫm như máu khô, vỏ ngoài xù xì nhưng khi bẻ đôi ra lại tỏa ra mùi thơm nồng ấm. Đây chính là thứ ta cần nhất lúc này. Trong cơ thể Chu Dịch, độc tố Aconitine từ Ô Đầu tích tụ suốt mười năm qua đang làm biến đổi các kênh ion natri trên màng tế bào cơ tim, gây ra những cơn loạn nhịp thất chết người và xơ hóa vi mạch vành. Hoạt chất Tanshinone và Acid Salvianolic B trong củ Tử Đan Sâm ngàn năm này là chất chống oxy hóa tự nhiên mạnh nhất, có tác dụng giãn mạch vành, cải thiện vi tuần hoàn cơ tim và lập lại sự ổn định điện sinh lý cho trái tim đang bên bờ vực sụp đổ của chàng.
Ta cẩn thận lấy ra một lượng rất nhỏ – chỉ vừa đủ vài phân thuốc, dùng dao bạc cắt gọt chuẩn xác từng lát mỏng sao cho không làm thay đổi trọng lượng tổng thể được ghi chép trong sổ ngự dược. Một nhà nghiên cứu dược học lâm sàng luôn biết cách lấy mẫu thử nghiệm mà không để lại bất kỳ dấu vết vật lý nào.
Đúng lúc ta vừa gói cẩn thận hai vị thuốc vào trong chiếc khăn lụa giấu trong tay áo thì từ góc tối phía sau gác chuông hoang phế bên ngoài bức tường Dược Khố, một âm thanh rất khẽ vang lên.
Cúc c*… cúc c*…
Tiếng chim gù ba nhịp ngắt quãng, trầm đục và run rẩy như tiếng gió rít qua kẽ đá.
Đó là tín hiệu liên lạc mà hắc y nhân của Phong Nhận đã ám thị cho ta đêm qua.
Ta khép chặt ngăn tủ sắt, cài lại then khóa, bước ra dặn dò Bạch Chỉ vài câu rồi một mình lặng lẽ vòng qua lối ngách sau Dược Khố, hướng về phía Gác Chuông Hoang.
*Gác Chuông Hoang nằm ở điểm giao nhau giữa tường thành phía Tây và khu ngự uyển cũ đã bỏ hoang từ thời tiền triều. Nơi này cỏ dại mọc lút đầu gối, những bậc đá xanh phủ đầy rêu trơn trượt dẫn lên một lầu chuông gỗ mục nát, nơi chiếc đại hồng chung bằng đồng gỉ sét treo lơ lửng giữa không trung như một bóng ma thời gian.
Gió đêm mùa thu thổi qua những thanh xà gồ rỗng, phát ra những tiếng hú dài u tịch.
Ta bước từng bước cẩn trọng lên cầu thang gỗ kêu cọt kẹt. Khi bước chân ta vừa chạm đến sàn lầu tầng hai, một bóng đen cao gầy từ sau thân chuông đồng khổng lồ chậm rãi bước ra.
Dưới ánh trăng bàng bạc chiếu qua mái ngói thủng, Chu Dịch đứng đó.
Chàng không mặc bộ trường bào màu nguyệt bạch giả ốm yếu thường ngày nơi Lạc Phù Viện, mà khoác một tấm cẩm bào màu mực thêu chìm hoa văn mây ám, vạt áo gọn gàng ôm lấy vóc dáng cao lớn tuấn dật. Tuy nhiên, sắc mặt chàng dưới ánh trăng vẫn tái nhợt như ngọc thạch, đôi môi mỏng khẽ mím lại, và hơi thở mang theo một sự đứt quãng rất nhẹ – dấu hiệu của việc cơ tim đang phải gồng mình chống chọi với cơn co thắt do hàn độc và aconitine phản phệ.
“Tiêu Thượng Dược.” Chàng cất tiếng, thanh âm trầm ấm như tiếng đàn cổ cầm vang lên trong đêm vắng, pha lẫn một tia giễu cợt nhàn nhạt nhưng không hề ác ý: “Nên chúc mừng nàng một bước lên mây, trở thành hồng nhân trước mặt phụ hoàng, hay nên chia buồn vì nàng vừa tự đặt chân lên miệng hố vôi?”
Ta dừng lại cách chàng năm bước chân, đặt chiếc lồng đèn con xuống sàn gỗ, ngước nhìn thẳng vào đôi mắt sâu thẳm như đầm nước mùa đông của chàng:
“Điện hạ đêm hôm khuya khoắt gọi vi thần đến nơi quạnh quẽ này, chỉ để nói những lời mỉa mai đó sao?”
Chu Dịch khẽ nhếch môi, nụ cười thoáng hiện rồi vụt tắt: “Bản vương chỉ tò mò, một nữ tử luôn miệng nói muốn an phận thủ thường, muốn tích lũy ngân lượng chờ ngày xuất cung mở tiệm thuốc nhỏ, cớ sao ban ngày lại dám ở trước mặt Liễu Quý phi làm ra một màn đối chất kinh tâm động phách như vậy? Nàng không sợ nàng ta một đao chém chết nàng ngay tại chỗ ư?”
“Sợ chứ.” Ta thản nhiên đáp, lấy từ trong ngực áo ra một chiếc lọ sứ nhỏ màu xanh ngọc bích đặt lên bệ đá cạnh quả chuông đồng. “Nhưng nếu ta sợ hãi mà lùi bước, chiếc hộp phấn kia sẽ đổ tội cho thang thuốc của Thái Y Viện. Khi đó, toàn bộ y viện bị phong tỏa, Dược Khố bị niêm phong, và người chết đầu tiên sẽ không phải là ta… mà là Cửu điện hạ.”
Chu Dịch ngẩn người. Ánh mắt sắc lạnh như băng tuyết ngàn năm của chàng khẽ dao động, một tia sáng phức tạp lướt qua đáy mắt:
“Nàng làm vậy… là vì giao ước với bản vương?”
“Ta làm vậy là vì chính ta, và vì giao ước của chúng ta.” Ta tiến lại gần thêm một bước, giọng nói rành rọt, mang theo sự logic sắt đá của một người làm khoa học: “Ta cần vị trí Thượng Dược Nữ Quan để đường đường chính chính bước vào Dược Khố Nội Đình. Ở đó, ta mới có thể lấy được Tử Đan Sâm thượng hạng và Tuyết Sơn Bạch Liên mà không ai hay biết. Lọ thuốc này, ta đã dùng cồn thuốc phân đoạn chiết xuất tinh chất đan sâm kết hợp với vi lượng cam thảo chích mật. Mỗi ngày trước giờ Tý, điện hạ hãy ngậm một viên dưới lưỡi.”
Chu Dịch nhìn chiếc lọ sứ nhỏ, rồi lại nhìn ta. Bàn tay thon dài với những khớp xương rõ ràng của chàng vươn ra, cầm lấy chiếc lọ. Đầu ngón tay chàng lạnh như băng tuyết, vô tình chạm nhẹ vào mu bàn tay ta, khiến ta khẽ giật mình vì nhiệt độ thấp dị thường trên da thịt chàng.
Đó là sự ứ trệ tuần hoàn ngoại vi nghiêm trọng do Tằm Hàn Độc gây ra.
“Ngậm dưới lưỡi?” Chàng khẽ nhướng mày, có vẻ lạ lẫm với y lý này.
“Niêm mạc dưới lưỡi có mạng lưới tĩnh mạch phong phú, dược chất sẽ thẩm thấu trực tiếp vào máu mà không bị dịch vị dạ dày phân hủy hay làm giảm hoạt tính.” Ta giải thích theo thói quen của một dược sĩ lâm sàng, rồi lập tức thu mình lại bằng ngôn ngữ thời đại này: “Nó sẽ giúp điện hạ bảo vệ tâm mạch, làm giãn các huyết mạch bị hàn độc bế tắc, ngăn chặn những cơn đau thắt ngực và ngất xỉu đột ngột. Nhưng đây chỉ là giải pháp tạm thời để duy trì sinh mạng.”
“Vậy giải pháp triệt để là gì?” Chu Dịch nhìn ta chăm chú.
“Ta cần thời gian để bào chế hoàn chỉnh phương thuốc trục hàn và giải độc Aconitine. Đêm rằm tới, khi âm khí thịnh nhất và cũng là lúc Tằm Hàn Độc trong tủy xương điện hạ phát tác dữ dội nhất, ta sẽ tới Lạc Phù Viện. Ta sẽ dùng phương pháp thủy trị liệu kết hợp thảo dược chưng cất để ép độc tố ra ngoài qua da và huyệt đạo. Đêm đó sẽ vô cùng đau đớn, kinh mạch toàn thân như bị dao róc xương tủy. Điện hạ có chịu đựng được không?”
Dưới ánh trăng lạnh, Chu Dịch đột nhiên bật cười khẽ. Tiếng cười trầm thấp, mang theo sự ngạo nghễ và kiên định đến rợn người:
“Mười năm qua, bản vương ngày ngày uống độc, đêm đêm chịu hàn băng đông cứng tủy xương, có nỗi đau nào nơi trần thế này mà ta chưa từng nếm trải? Chỉ cần có thể sống sót để nhìn thấy ngày Liễu thị đền tội, dẫu có phải lột da róc xương, Chu Dịch này cũng không chớp mắt.”
Chàng bước tới gần ta. Chiều cao vượt trội của chàng tạo nên một cái bóng lớn bao trùm lấy ta, mang theo một luồng khí tức lãnh đạm nhưng kiên cố như núi đá. Từ trong tay áo cẩm bào, chàng rút ra một vật, đặt vào lòng bàn tay ta.
Đó là một lệnh bài bằng sắt đen tuyền, nặng trịch và lạnh lẽo. Trên mặt lệnh bài không khắc rồng phượng quyền quý, mà chạm khắc tinh xảo hình một đóa hoa lan mảnh mai nhưng quật cường, nở rộ giữa những chiếc lá sắc bén như lưỡi gươm.
“Đây là…?” Ta ngạc nhiên nhìn vật thể lạ lùng trong tay.
“Phong Nhận Lệnh.” Giọng Chu Dịch trầm xuống, nghiêm túc và mang theo một sự phó thác nặng ngàn cân: “Toàn bộ ám vệ Phong Nhận trong và ngoài hoàng cung chỉ nhận lệnh bài này, không nhận người. Từ nay, nàng giữ lấy nó.”
Ta sững sờ, ngẩng phắt đầu lên nhìn chàng: “Điện hạ, vật này quá mức nguy hiểm! Thần chỉ là một nữ y quan hợp tác trị bệnh cho ngài, sao có thể nhận quyền điều động lực lượng tử sĩ của ngài?”
“Nàng cầm lấy đi.” Ánh mắt Chu Dịch khóa chặt lấy ánh mắt ta, không cho phép ta chối từ. Trong bóng tối của lầu chuông, đôi mắt ấy không còn vẻ giấu giếm, mà rực sáng lên một niềm tin tuyệt đối: “Hôm nay nàng trở thành Thượng Dược Nữ Quan, Liễu Quý phi và Liễu Kính Nghiêm sẽ không để nàng yên đâu. Bọn chúng giống như bầy kền kền rình rập, một khi ngửi thấy mùi nguy hiểm sẽ lập tức vồ lấy cắn xé. Nàng có y thuật nghịch thiên, có tâm tư tỉ mỉ, nhưng nàng không có đao kiếm để tự vệ.”
Chàng khẽ khom người, ghé sát tai ta. Hơi thở ấm áp của chàng phả nhẹ lên vành tai ta, nhưng lời nói lại đanh thép như chém đinh chặt sắt:
“Bản vương không bao giờ để đồng minh của mình phải chết đơn độc trước mũi đao của kẻ thù. Nếu có một ngày nàng gặp nguy khốn đến tính mạng, chỉ cần bẻ gãy cánh hoa lan trên lệnh bài này, hoặc đưa nó cho bất kỳ ám vệ nào mang dấu ấn hoa sen đen nơi cổ tay, Phong Nhận sẽ liều chết mở đường máu đưa nàng rời khỏi Tử Cấm Thành.”
Bàn tay ta siết chặt lại. Cạnh sắc lạnh của miếng sắt đen hằn sâu vào da thịt, truyền đến một cảm giác nhói buốt nhưng vững chãi đến kỳ lạ.
Ta ngước nhìn gương mặt tuấn tú nhưng tái nhợt của Chu Dịch. Người đàn ông này, bề ngoài là một hoàng tử phế vật bị cả triều đình lãng quên, nhưng bên trong lại mang một ý chí sắt đá và một mạng lưới ngầm có thể khuynh đảo thiên hạ. Chàng không coi ta là một nữ nhân yếu đuối cần được ban ơn, cũng không coi ta là một thuộc hạ phục tùng, mà thực sự xem ta là một người đồng hành bình đẳng trên con đường sinh tử.
“Được.” Ta cất lệnh bài vào sâu trong ngực áo, nơi áp sát vào lồng ngực đang đập nhịp nhàng: “Lệnh bài này, ta nhận. Nhưng ta hy vọng sẽ không bao giờ phải dùng đến nó để trốn chạy.”
Chu Dịch nhìn ta, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười chân thật hiếm hoi: “Bản vương cũng hy vọng như vậy. Tiêu Thượng Dược, bảo trọng.”
Bóng dáng chàng khẽ lướt đi, nhanh như một làn khói đen hòa vào màn đêm u tịch của gác chuông hoang, để lại ta đứng một mình giữa lầu cao lộng gió.
*
Trở lại Dược Khố Nội Đình, trời đã về khuya. Tiếng mõ cầm canh canh ba từ xa xa vọng lại, trầm đục và cô quạnh.
Bạch Chỉ đã mệt mỏi ngủ thiếp đi bên bàn trà ở gian ngoài. Ta thắp một ngọn nến sáp ong, cầm chùm chìa khóa đồng đi kiểm tra lại toàn bộ các khu vực lưu trữ theo đúng quy chế bàn giao của Thượng Dược Cục.
Là một người nghiên cứu khoa học, ta có một thói quen bất di bất dịch: trước khi tiếp nhận bất kỳ một phòng thí nghiệm hay kho hóa chất nào, ta luôn phải tự tay thiết lập một danh mục đối chiếu ban đầu (baseline audit) để nắm rõ từng sai số nhỏ nhất.
Ta đi qua từng dãy kệ, kiểm tra niêm phong của từng rương gỗ quý. Mọi thứ dường như đều hoàn hảo. Các dải giấy niêm phong bằng lụa đỏ đóng dấu son của Nội Vụ Phủ vẫn còn nguyên vẹn, phủ một lớp bụi mỏng chứng tỏ đã lâu không ai động tới.
Cho đến khi ta bước đến chiếc rương bằng gỗ đàn hương đỏ đặt ở góc khuất nhất của gian mật thất.
Chiếc rương này dùng để lưu trữ hai thứ dược liệu cấm kỵ và nhạy cảm nhất chốn hậu đình: Cung Đình Xạ Hương – thứ hương liệu thượng hạng tiến cống từ Tây Tạng có khả năng phá huyết trục thai cực mạnh, và Huyết Dụ Khô – vị thuốc chỉ dùng để cầm máu sau sinh cho các bậc phi tần.
Ta giơ cao ngọn nến, cúi người quan sát chiếc khóa đồng hình trăng khuyết trên nắp rương.
Ánh lửa vàng rực soi rọi lên miếng sáp niêm phong màu đỏ thẫm. Nhìn từ xa, con dấu hình kỳ lân của Nội Vụ Phủ vẫn sắc nét, không hề có vết rách hay dấu hiệu đập vỡ.
Thế nhưng, đôi mắt được đào tạo chuyên sâu về quan sát vi mô của ta lập tức nhận ra điều bất thường.
Dưới ánh nến nghiêng một góc bốn mươi lăm độ, rìa mép của miếng sáp đỏ xuất hiện những sợi tơ rất mảnh, màu xám nhạt như sợi tóc. Đó không phải là bụi bẩn, mà là tàn tích của muội than bám lại khi dùng một sợi dây bạc nung nóng để hơ chảy chân sáp!
Có kẻ đã dùng một sợi dây bạc mảnh luồn qua khe hở giữa nắp rương và ổ khóa, cẩn thận nung chảy lớp sáp dính phía dưới, nhấc toàn bộ miếng niêm phong lên nguyên vẹn mà không làm hỏng hoa văn mặt trên. Sau khi mở rương làm một việc gì đó, kẻ đó đã dùng một giọt sáp ong mới để dán miếng niêm phong cũ trở lại vị trí ban đầu!
Thủ pháp tinh vi, tỉ mỉ đến mức nếu chỉ nhìn bằng mắt thường của các ngự y cổ đại, tuyệt đối sẽ không một ai phát hiện ra chiếc rương này đã từng bị cạy mở.
Bàn tay ta cầm ngọn nến khẽ khựng lại giữa không trung. Ngọn lửa lay động hắt bóng ta lên bức tường đá hoa cương gồ ghề, kéo dài thành một vệt đen ngoằn ngoèo đầy đe dọa.
Chiếc rương chứa huyết dụ và xạ hương cung đình… đã bị cạy mở từ trước khi ta nhận chức.
Một cái bẫy mới. Một chiếc thòng lọng vô hình đã được giăng sẵn trong bóng tối của Dược Khố Nội Đình này, chỉ chờ đợi ta – vị Thượng Dược Nữ Quan vừa mới nhậm chức – bước chân vào để siết chặt lại.